Từ đặc trưng thể loại và phương pháp sáng tác, tăng hiệu quả tiếp nhận khi giảng dạy tác phẩm văn xuôi lãng mạn trong trường phổ thông - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ HỒNG THỊNH
TỪ ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI VÀ PHƢƠNG PHÁP SÁNG TÁC,
TĂNG HIỆU QUẢ TIẾP NHẬN KHI GIẢNG DẠY TÁC PHẨM
VĂN XUÔI LÃNG MẠN TRONG TRƢỜNG PHỔ THÔNG Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2011

DANH MỤC VIẾT TẮT CỦA LUẬN VĂN

Nxb Nhà xuất bản:
HS Học sinh:
THCS Trung học cơ sở:
THPT Trung học phổ thông:

20
1.2. Thi pháp truyện ngắn Thạch Lam
24
1.2.1. Không gian và thời gian nghệ thuật
24
1.2.2. Thế giới nhân vật
29
1.2.3. Ngôn ngữ
31
1.3. Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Tuân
37
1.3.1. Không gian và thời gian nghệ thuật
37
1.3.2. Hình tượng nhân vật
38
1.3.3. Ngôn ngữ
41
1.4. Khái quát chung về lý thuyết tiếp nhận văn chương
43
1.4.1. Văn bản văn học - Chủ thể tác động và định hướng tiếp nhận
của giáo viên - học sinh

43
1.4.2. Hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn chương
45
1.4.3. Đặc điểm hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn chương
47
1.5. Tiểu kết chương 1
50
Chƣơng 2: VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN TRUYỆN NGẮN LÃNG MẠN
57
2.3.1. Tõ đặc điểm truyện ngắn lãng mạn tiÕp cËn c¸c gi¸ trÞ cña t¸c
phÈm

58
2.3.2. Yêu cầu sử dụng phương pháp và biện pháp dạy học hướng
học sinh đến quá trình chiếm lĩnh tác phẩm văn chương

59
2.3.3. Yêu cầu sử dụng phương pháp và biện pháp dạy - học phải
hướng đến sự tích cực hóa hoạt động tiếp nhận của học sinh

61
2.3.4. Yêu cầu nội dung và phương pháp dạy học phải phù hợp với
tâm lý tiếp nhận của học sinh

62
2.4. Những đề xuất về cách thức dạy học truyện ngắn lãng mạn
64
2.4.1. Đọc hiểu, đọc theo cảm xúc nhân vật
65
2.4.2. Gợi mở, dẫn dắt, định hướng học sinh bằng những câu hỏi nêu

vấn đề, câu hỏi gợi cảm xúc
68
2.4.3. Thông qua lời giảng và bình, phát huy thế mạnh truyền thống
trong dạy học tác phẩm văn chương


120
TÀI LIỆU THAM KHẢO
123
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học vừa là một khoa học đồng thời cũng là bộ môn nghệ thuật đầy
phức tạp. Văn học thực sự trở thành chất dinh dưỡng tâm hồn, là chặng đường
mà con người đi tìm hạnh phúc để sống tốt hơn, mở rộng hiểu biết, trí tưởng
tượng, đưa ta tới những chân trời mà không có văn chương con người không
thể cảm và thấy được. Có thể coi dạy văn là một nghệ thuật, nghệ thuật cảm
thụ cái đẹp và phô diễn cái đẹp, nó lắng đọng trong tâm hồn, là khát vọng
vươn tới chân , thiện, mỹ. Người giáo viên dạy văn là chiếc cầu nối không thể
thiếu để học sinh đến được với những giá trị đích thực của tác phẩm văn
chương. Bằng tâm huyết, tri thức và khả năng sư phạm của mình, người thày
sẽ đem đến cho học sinh những điều mới mẻ, củng cố niềm tin, sự hứng thú,
khơi dậy niềm đam mê và tình yêu văn học, để rồi văn học chiếm vị trí xứng
đáng trong hành trang tri thức của các em. Cũng từ đây, các em sẽ lớn dần lên
qua những giờ dạy văn hiệu quả ấy, bởi văn học nghệ thuật chân chính có khả
năng thanh lọc tâm hồn con người, thấy yêu đời, yêu người và lớn hơn
một chút.
Trong chương trình Ngữ văn THPT, khối lượng truyện ngắn hiện đại
khá lớn nên việc giảng dạy sao cho đạt hiệu quả là điều hết sức cần thiết. Nó

mạn, để thực thi việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
trong nhà trường hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về đặc trưng và thể loại và
phương pháp sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân đã khẳng định những
đóng góp lớn lao của hai tác giả này. Nhưng từ đặc trưng thể loại và phương

3
pháp sáng tác, tăng hiệu quả tiếp nhận cho học sinh thì chưa được đề cập một
cách có hệ thống và chiều sâu cần thiết.
2.1. Xét trong thời kỳ văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Sự xuất hiện của Thạch Lam, Nguyễn Tuân đã mở ra một bước tiến cho
văn xuôi nghệ thuật nói chung và địa hạt truyện ngắn nói riêng. Hơn nửa thế
kỷ trôi qua kể từ ngày văn phẩm đầu tay của Thạch Lam, Nguyễn Tuân ra
đời, đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về thân thế, sự nghiệp và đặc
biệt là truyện ngắn của nhà văn. Điểm qua những tài liệu viết về Thạch Lam,
Nguyễn Tuân, sáng tác của hai nhà văn này đã tạo ra được sức hút khá lớn,
cùng một sức mạnh chinh phục khá đặc biệt đối với giới phê bình nghiên cứu
và giới học đường. Chân dung hai cây bút văn xuôi lãng mạn hiện lên mỗi
ngày một sáng tỏ. Một cách tổng quát, có thể thấy các tài liệu nghiên cứu về
Thạch Lam, Nguyễn Tuân xoay quanh ba nội dung lớn.
Thứ nhất là, các tài liệu viết về đặc điểm con người của Thạch Lam,
Nguyễn Tuân hoặc những kỷ niệm sâu sắc với nhà văn. Đây là những bài viết
của những người thân, bạn bè, những nhà văn, nhà phê bình từng gặp gỡ, tiếp
xúc với nhà văn hoặc nghiên cứu về ông. Tiêu biểu là các bài viết: Người em
thứ sáu (Hồi kí) của Nguyễn Thị Thế; Thạch Lam - cha tôi trong trí tưởng
của Nguyễn Tường Giang; Thạch Lam - một nhà văn yêu người như yêu mình
của Vũ Bằng…
Thứ hai là, các bài viết đưa ra nhận xét, đánh giá khái quát về Thạch
Lam, Nguyễn Tuân. Đây là những tài liệu nghiên cứu về thành tựu của văn

khác dùng tư tưởng, dùng lời có khi rất rậm để tả cảnh, tả tình, ông chỉ nói,
nói một cách giản dị cái cảm giác của ông, cái cảm giác ấy bao quát hết tư
tưởng của tác giả và của độc giả, nhiều khi đi xa hơn, sâu hơn tưởng, vì có
cái ta cảm thấy mà không thể dùng tư tưởng để mô tả cảm giác của ta”

5
[1,tr.273]. Như vậy, cây bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn đã nhận ra Thạch
Lam là nhà văn thiên về cảm xúc, cảm giác.
Tiếp nối sự phát hiện đột khởi của Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan trong
Nhà văn hiện đại cũng nhấn mạnh Thạch Lam: “Có một ngòi bút lặng lẽ,
điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút miêu tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp, những
tình cảm, cảm giác con con nảy nở và biểu lộ ở đủ cả các hạng người, mà ông
tả một cách thật tinh vi” [1,tr.47]. “Tất cả các nhân vật trong truyện của
Thạch Lam đều có những cái phảng phất của tâm hồn Thạch Lam” [1,tr.59].
Ý kiến của Vũ Ngọc Phan đã nhận đựơc sự đồng tình của nhiều nhà nghiên
cứu về Thạch Lam.
Trong bài Tính cách tạo tác của Thạch Lam, Thế Lữ khẳng định, sự
thực của tâm hồn mà Thạch Lam diễn ra trong lời văn chương phức tạp nhiều
hình nhiều vẻ, nhưng bao giờ cũng đằm thắm, cũng nhân hậu, cũng nghẹn
ngào một chút lệ thầm kín của tình thương: “Bao nhiêu băn khoăn về nghệ
thuật, bao nhiêu tư tưởng cũng như tình cảm rung động, lúc nào cũng chứa
chất dồi dào trong tâm trí, cái kho tàng cuộc sống bên trong ấy rất sẵn châu
báu mà chỉ cầm đến bút, Thạch Lam thấy dàn xếp theo hình thể của lời”
[1,tr.148]. Như vậy, Thế Lữ đã nhận thấy sự hoá thân sâu sắc và yếu tố cảm
xúc trong sáng tác của Thạch Lam.
Liên quan đến vấn đề đặc trưng thể loại và phương pháp sáng tác trong
truyện ngắn Thạch Lam, nhiều tác giả đã nói đến cốt truyện và kết cấu, nhân
vật, giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Thạch Lam. Phần lớn ý
kiến của các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh cốt truyện của Thạch Lam rất
đơn giản, hầu như không có chuyện gì đáng kể. Trần Ngọc Dung cho rằng:

cảm xúc và của ước vọng. Đọc Hai đứa trẻ, thấy bận bịu vô hạn về một tấm
lòng quê hương êm mát và sâu kín” [1,tr.61]. Nguyễn Thanh Hồng lại hướng

7
về thứ ánh sáng khác trong truyện ngắn Hai đứa trẻ đó là ánh sáng của tình
người “cảm xúc sâu đậm đến với người đọc là tình người giữa những dân
nghèo của phố huyện vào một thời khắc bình lặng của cuộc sống. Cuộc sống
nghèo nơi phố huyện chỉ là cái nền để tác giả nói tới quan hệ giữa những
người dân mộc mạc trong cảnh sống bình thường. Cái tình người chân chất
bàng bạc khắp thiên truyện” [1,tr.330].
Hướng sự chú ý đến xung đột, Đỗ Đức Hiểu viết: “Có thể thấy ở Hai
đứa trẻ, truyện của xung đột giữa bóng tối và ánh sáng, bóng tối hay nghèo
nàn và cô đơn, ánh sáng chỉ là ước mơ thoáng qua. Mở đầu truyện, ánh sáng
tắt dần, kết thúc truyện bóng tối tràn ngập phố huyện, hay tràn ngập thế giới.
Và có thể thấy ở đây triết lý của Thạch Lam về thân phận con người”
[1,tr.334]. Khác với những đánh giá về sự khai thác tuyệt vời tâm trạng nhân
vật của Thạch Lam, nhà nghiên cứu Văn Tâm chú ý tính dân tộc của hồn văn
Thạch Lam: “Sức hấp dẫn chủ yếu của những trang viết Thạch Lam là ở tâm
hồn dân tộc. Cái ngữ điệu nhỏ nhẹ mà man mác thi vị, những cảm xúc tinh tế
của một tâm hồn dễ rung động như cánh bướm non” [1,tr.329]. Những trích
dẫn trên đây chỉ là số ít trong vô vàn các kiến giải về Hai đứa trẻ. Dễ nhận
thấy ở các công trình này là sự chú ý dành cho tâm trạng nhân vật. Việc khai
thác tâm trạng đã chạm đến hàng loạt thuật ngữ có liên quan như: hiện thực
tâm trạng, cốt truyện tâm lý. Đây chính là điểm khác biệt của Thạch Lam với
các nhà văn hiện thực và thậm chí ngay cả các thành viên Tự lực văn đoàn.
Qua những ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học
về những nét đặc trưng cho phong cách nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam.
Qua Hai đứa trẻ, ta thấy rõ những tìm tòi, thể nghiệm trong lĩnh vực truyện
ngắn của riêng ông đã làm nên gương mặt Thạch Lam khó lẫn trong Tự lực
văn đoàn và trong làng văn hiện đại.

bồ, hỗn tạp, viên quản ngục lại biết kính mến khí phách, biết trọng người
tài” [28,tr.63].
Chữ người tử tù dựng lên một thế giới tối tăm, ngục tù, trong đó kẻ tiểu
nhân, bọn độc ác bất lương làm chủ. Trên cái tối tăm ấy, hiện lên ba đốm sáng
lẻ loi, cô đơn, Huấn Cao, người quản ngục và viên thơ lại, những con người
có tài và biết trọng tài, có nghĩa khí và biết trọng nghĩa khí. Họ tình cờ gặp
nhau trong một tình thế éo le, từ chỗ ngờ vực nhau, đối địch nhau, dần đi đến
hiểu nhau và trở thành tri kỷ.
Ba đốm sáng cô đơn ấy cuối cùng tụ lại, tạo thành ngọn lửa ngùn ngụt
rực sáng giữa chốn ngục tù “Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Cái đẹp,
cái tài, sự trong sạch của tâm hồn đã tập hợp họ lại giữa cái nơi xưa nay chỉ
có gian ác, thô bỉ và hôi hám “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi
trên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn
lần hồ”. Đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái tài, cái
đẹp đối với cái nhem nhuốc, tục tằn, của thiên lương đối với tội ác.
Như vậy, chất nghệ sĩ tài hoa của Nguyễn Tuân đã nhập vào đám nhân
vật tài hoa, tài tử, vào cái tiểu thế giới của Nguyễn Tuân mang dáng dấp
phong cách nhà văn. Ở đó, Huấn Cao là nhân vật lãng mạn tiến bộ. Các nhân
vật lãng mạn ít nhiều đều đựơc phóng đại và lý tưởng hoá. Tác giả đã xây
dựng một cặp nhân vật có tính cách gần giống nhau (quản ngục và Huấn Cao)
và nhân vật quản ngục sẽ làm tôn lên vẻ đẹp cao cả của Huấn Cao.
Vũ Dương Quỹ trong Những nhân vật - Những cuộc đời, nhận xét:
“Một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn
không phải là kẻ xấu hay là vô tình. Đấy đâu chỉ là lời đánh giá của viên
quản về thày thơ lại. Đấy chính là tình yêu và sự bao dung của Nguyễn Tuân
chia đều cho các nhân vật trong cuộc tương ngộ dưới vẻ đẹp trắng trong và

10
ngan ngát hương thơm của Chữ người tử tù. Và cũng là những dòng chữ, tấm
lòng thơm ngát của nhà văn gửi lại mỗi bạn đọc chúng ta ngày nay” [28,tr.60]

sáng tác, tăng hiệu quả tiếp nhận khi giảng dạy tác phẩm văn xuôi lãng
mạn trong trường phổ thông, đi sâu vào việc tăng hiệu quả tiếp nhận khi
giảng dạy hai truyện ngắn của Thạch Lam, Nguyễn Tuân trong chương trình
Ngữ văn 11 - Tập I. Đó là Hai đứa trẻ (Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn
học, Hà Nội 1998) và Chữ người tử tù (Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập I, NXB
văn học, Hà Nội 1998). Đồng thời tham khảo thêm một số truyện ngắn khác
của Thạch Lam và Nguyễn Tuân.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình nghhiên cứu với
mục đích tập hợp, thống kê những tác phẩm văn xuôi lãng mạn đã được đưa
vào giảng dạy trong trường trung học phổ thông.
Sử dụng phương pháp thống kê, người viết tập hợp được những phương
pháp giảng dạy của giáo viên khi phân tích, tìm hiểu các giá trị của tác phẩm
văn xuôi lãng mạn và tạo hứng thú cho học sinh khi tiếp nhận những tác
phẩm này.
Qua thống kê người viết rút ra những kết luận ban đầu về tác dụng,
hiệu quả thẩm mĩ của tác phẩm văn xuôi lãng mạn nói chung và các tác phẩm
của Nguyễn Tuân, Thạch Lam nói riêng được giảng dạy trong nhà trường đối
với người học.
12
4.2. Phương pháp từ thi pháp học
Phương pháp phân tích xuất phát từ thi pháp học bám sát đặc trưng thể
loại của tác phẩm văn xuôi lãng mạn, từ đó tìm ra những giá trị cả về nội dung
và nghệ thuật của hai tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Hai đứa
trẻ (Thạch Lam)
4.3. Phương pháp khảo sát trực tiếp

trường trung học phổ thông.
Chƣơng 3: Phương pháp dạy học tăng hiệu quả tiếp nhận tác phẩm Hai
đứa trẻ - Thạch Lam và Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân.
14
Chƣơng 1: ĐẶC TRƢNG VĂN XUÔI LÃNG MẠN VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1930 – 1945
1.1. Đặc trƣng thể loại truyện ngắn
1.1.1. Truyện ngắn
Tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các yếu tố, đề tài, chủ
đề, tư tưởng nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn. Sự thống nhất ấy được thực
hiện theo những quy luật nhất định. Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm
chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất
định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại
chỉnh thể.
Truyện là một khái niệm chỉ chung cho truyện dài, truyện vừa, truyện
ngắn. Nó là một loại văn tự sự, kể chuyện và trình bày sự việc. Văn xuôi nói
chung và truyện ngắn nói riêng có những yếu tố cơ bản là: Tình huống nghệ
thuật, tình tiết, cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu và ngôn

Với số lượng ít ỏi của câu chữ, truyện ngắn ngắn gọn, súc tích dồn nén như
bàn tay siết lại thành nắm đấm. Vì vậy, truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít
sự kiện phức tạp. Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là
nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới, thì nhân vật truyện
ngắn là mảnh nhỏ của thế giới ấy. Truyện ngắn thường không nhằm tới việc
khắc họa nhiều tính cách điển hình có cá tính đầy đặn và nhiều mặt trong
tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật truyện ngắn thường ít và chỉ hiện lên ở
một trạng thái quan hệ, mang một ý thức xã hội hoặc là một trạng thái tồn tại
của con người. Mặt khác, truyện ngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các
kiểu, loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳng hạn như: chức nghiệp, xuất
thân, gia hệ, bạn bè, những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thường hiện ra thấp
thoáng các nhân vật phụ.

16
Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn nhưng chủ yếu là nổi bật
ở một khía cạnh hay một điểm gì đó. Cái chính của truyện ngắn là gây ra một
ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện ngắn không
chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc
tương phản hoặc liên tưởng. Bút pháp trần thuật thường là chấm phá. Truyện
ngắn nắm bắt được hiện thực cuộc sống qua một hiện tượng, biểu hiện một lát
cắt, nói lên bản chất, số phận con người. Như vậy, yếu tố có ý nghĩa quan
trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn
mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Bởi thế, người
viết truyện ngắn phải có kỹ thuật tinh xảo, biết dồn nén tư tưởng vào trong
một cốt truyện thật ngắn gọn và tự nhiên. Chi tiết trong truyện ngắn phải được
tạo ra như là những gút, những mắt xích, những tiêu điểm mà qua chúng,
người đọc vừa hiểu về cuộc sống, vừa cảm thụ được tư tưởng, quan niệm về
thế giới và con người của nhà văn. Nếu người viết tiểu thuyết được phép tái
hiện, miêu tả trong tác phẩm một số lượng lớn các chi tiết của đời sống hiện
thực thì người viết truyện ngắn lại phải chọn lựa kỹ càng hơn về đối tượng

thuyết hóa”.
Loại “truyện ngắn - kịch hóa” là các tác phẩm dùng thủ pháp của kịch
để tạo ra một cấu trúc tự sự mới, trong đó vẫn có câu chuyện được kể lại
nhưng chủ yếu gợi về ấn tượng có một hành động đang tự diễn ra trong một
môi trường xung đột đầy kịch tính. Đây là những truyện mang tính đặc trưng
của truyện ngắn, truyện thể hiện góc nhìn thế giới qua hành động. Những
truyện ngắn được xây dựng theo hướng “kịch hóa” thường lấy một hành động
nhân vật làm nòng cốt. Mọi vấn đề của tác phẩm thường xoay quanh việc
phân tích hành động giàu xung đột, giàu kịch tính này. Truyện thường có cốt
truyện gay cấn: sự kiện, hành động tập trung trong một tình huống điển hình
nhất. Mâu thuẫn, xung đột thường được đẩy đến đỉnh điểm và đòi hỏi kết thúc

18
thật bất ngờ. Nhân vật thường được miêu tả thiên về ngoại hình và hành động
bên ngoài. Lời trần thuật thường ngắn ngọn, tính chất khẩu ngữ, tính chất cá
thể hóa, ngôn ngữ rất đậm nét.
“Truyện ngắn - Trữ tình hóa” sử dụng thủ pháp của trữ tình để tạo ra
một cấu trúc tự sự mới, trong đó câu chuyện được kể lại chủ yếu gợi ra ấn
tượng về một thế giới đang tồn tại trong tâm tưởng con người. Đây là những
chuyện được kể gắn với một góc nhìn, nhìn sự việc qua thế giới tâm trạng.
Những tác phẩm được xây dựng theo hướng trữ tình hóa thường dựa vào một
“tình huống trữ tình” giàu sức gợi để bày tỏ, bộc lộ thế giới tâm hồn, tình
cảm, tư tưởng. Cốt truyện thường ít sự kiện hành động nhưng lại phong phú
của sự kiện nội tâm. Sự kiện thường không phát triển thành sự cố, biến cố,
xung đột không phát triển đến đỉnh điểm, đòi hỏi phải giải quyết dứt khoát, rõ
ràng. Nhân vật thường không được miêu tả cụ thể, sắc nét ở ngoại hình và
hành động, ít có những biến đổi lớn về cuộc đời, tính cách mà chủ yếu đậm
nét ở các trạng thái tâm lý, tình cảm, tư tưởng bên trong.
“Truyện ngắn - tiểu thuyết hóa” là một loại truyện tổng hợp loại thể, ở
đó các thủ pháp kịch và trữ tình vẫn được sử dụng nhưng không nhằm diễn tả

yếu được miêu tả qua hành động và ngôn ngữ đối thoại. Truyện ngắn của
Thạch Lam, Thanh Tịnh lại giàu chất trữ tình, cốt truyện thường rất đơn giản,
không khai thác các xung đột xã hội mà thiên về biểu hiện tâm trạng với
những cảm xúc, cảm giác nhẹ nhàng, tinh tế trong đời sống thường nhật của
con người, những rung động rất khẽ khàng của thế giới nội tâm nhưng sâu
sắc. Truyện ngắn của Nguyễn Tuân thể hiện một nhà văn có cá tính độc đáo,
có thể coi ông là một định nghĩa về người nghệ sĩ. Nguyễn Tuân luôn nhìn sự
vật ở phương diện văn hóa và mỹ thuật, nhìn con người ở phẩm chất nghệ sĩ
và tài hoa. Ông luôn có ý thức thể hiện sự sáng tạo trong lao động nghệ thuật

20
và tôn vinh vẻ đẹp của tiếng Việt qua việc dùng từ ngữ, cách xây dựng hình
tượng nhân vật, chọn đề tài, cách hành văn.
Như thế, trong công việc nghiên cứu cũng như giảng dạy, việc thấy một
tác phẩm thuộc thể tài truyện mà chỉ tiếp nhận với những tính chất tự sự, hay
thấy thơ mà chỉ làm nổi bật tâm trạng là điều không ổn. Cái quan trọng nhất
của việc nghiên cứu hay giảng dạy là phải “bắt trúng” cái chất của loại trong
thể, chỉ như thế mới mong tiếp nhận chính xác nội dung, tư tưởng của tác
phẩm.
1.1.4. Truyện ngắn lãng mạn
Ở Việt Nam, ra đời trong bối cảnh nước thuộc địa, sau khi chủ nghĩa
lãng mạn đã có cả một thế kỷ phát triển văn chương lãng mạn Việt Nam, một
mặt chịu ảnh hưởng của văn chương lãng mạn Pháp thế kỷ thứ XIX, với các
khuynh hướng đa dạng của văn học Pháp và văn học thế kỷ lúc bấy giờ, mặt
khác, nó cũng tiếp chất lãng mạn rất đậm đà trong văn mạch của văn hóa dân
tộc trong văn học dân gian và văn học cổ điển. Văn chương lãng mạn Việt
Nam có nhiều đặc điểm không giống với văn chương lãng mạn Pháp thế kỷ
XIX, nhưng về phương diện cách nhìn thì cơ bản vẫn là khuynh hướng chủ
quan trong tiếp cận và lý giải hiện thực.
Văn học lãng mạn thuộc loại hình văn học biểu hiện: các nhân vật, tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status