Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử việt nam giai đoạn 1945 – 1954 - Pdf 33

HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN
KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
-------------------------------------------------------------------

HỘI THẢO KHOA HỌC, LẦN THỨ VIII
MÔN: LỊCH SỬ
Chuyên đề:

Lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện
học sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử Việt Nam
Giai đoạn 1945 – 1954

Tác giả:

Nhóm giáo viên Chuyên Sử
Trường THPT Chuyên Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa

THANH HÓA, THÁNG 8 NĂM 2015
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong điều kiện xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; theo
hướng tiếp cận chuẩn khu vực và thế giới, giáo dục Việt Nam có rất nhiều việc phải làm,
đòi hỏi sự nỗ lực của toàn ngành, toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị. Trong nhiệm vụ
của thầy và trò ở các nhà trường, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học là một
yêu cầu hết sức cơ bản, mà đi tiên phong là các trường chuyên, nhằm góp phần nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Tuy nhiên, cũng như các khối chuyên Sử của các trường chuyên trên toàn quốc,
công việc giảng dạy Lịch sử cho học sinh khối chuyên Sử của trường chúng tôi gặp rất
nhiều khó khăn. Do số học sinh chuyên năng lực học tập không cao, học yếu các môn
khác nên chọn vào chuyên Sử, điểm tuyển đầu vào của lớp chuyên Sử cũng thấp hơn so
với các chuyên khác, trình độ nhận thức của các em trong một lớp không đồng đều...Vì

I. Nội dung ôn luyện lịch sử Việt Nam thời kì 1945 - 1954 (Sau thắng lợi Cách
mạng tháng Tám năm 1945 đến ngày 21 - 7 - 1954).
1. Kiến thức chung học sinh cần nắm vững:
- Trong hơn năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, đất nước gặp muôn vàn khó khăn
thử thách, tình thế hết sức hiểm nghèo, khác nào “Ngàn cân treo sợi tóc”. Nhân dân ta
vừa xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, giải
quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính, vừa đấu tranh chống ngoại xâm và nội
phản, bảo vệ độc lập. Từ cuối năm 1946, toàn dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
- Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) tiến hành trong điều kiện nước ta đã
giành được độc lập và chính quyền. Vì vậy, vừa kháng chiến vừa kiến quốc là hai nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kì này:
+ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, từ năm 1950 chống cả sự can
thiệp của đế quốc Mĩ, trải qua nhiều giai đoạn với các mốc chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, chiến thắng Biên giới thu - đông năm 1950, chiến thắng Đông - Xuân
năm 1953 - 1954, Điện Biên Phủ là trận thắng quyết định dẫn tới việc kí kết Hiệp định
Giơnevơ về Đông Dương năm 1954, kết thúc chiến tranh.
+ Công cuộc kiến quốc nhằm xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, phục vụ
kháng chiến, phục vụ dân sinh, tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi chiến tranh
kết thúc.
2. Lựa chọn nội dung dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954:
2.1. Bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền, đấu tranh chống ngoại xâm
nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng (2-9-1945 đến 19-12-1946): Sau Cách mạng
tháng Tám, nước ta có nhiều thuận lợi và cũng có nhiều khó khăn.
a. Thuận lợi :
- Thế giới: Cuối 1945 chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, thắng lợi thuộc về
Hồng quân Liên Xô và các lực lượng hòa bình dân chủ. Bọn phát xít Đức-Ý-Nhật bị tiêu
diệt, bọn đế quốc Anh - Pháp - Mỹ bị suy yếu đi nhiều. Tình hình đó làm cho hàng loạt
các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa ở châu Á, châu Âu ra đời, hợp cùng với
Liên Xô thành một hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, Phong trào giải
phóng dân tộc lên cao, nhất là ở châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh. Phong trào đấu tranh vì

ngày. Vụ mùa năm 1945 miền Bắc lại ngập lụt lớn. 6 tỉnh đồng bằng vựa lúa bị thất thu.
Nạn thất nghiệp lan tràn.
Nguồn tài chính của đất nước hầu như cạn kiệt. Ngân quỹ Nhà nước chỉ còn 1.23
triệu đồng tiền rách. Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay Nhật, ta không phát
hành được giấy bạc. Quân Tưởng tung tiền Quan kim mất giá của chúng bắt ta tiêu làm
rối loạn thị trường.
+ Về văn hóa xã hội: Hơn 90% dân ta bị mù chữ, các tệ tục cũ còn đầy rẫy, nạn mê
tín, dị đoan hoành hành, bệnh dịch lan tràn, thuốc men thiếu thốn. Nạn trọng nam khinh
nữ, nạn tảo hôn còn phổ biến khắp mọi nơi.
+ Chính quyền: Sau Cách mạng tháng Tám đã có chính quyền nhưng chỉ là lâm
thời, chưa có cơ sở pháp lý để tồn tại. Quân đội vừa mới xây dựng trang bị kém cỏi, vũ
khí thô sơ, thiếu kinh nghiệm tác chiến.
+ Về đối ngoại: Cùng một lúc trên đất nước ta có hàng loạt kẻ thù, từ vĩ tuyến 16
trở ra 20 vạn quân Tưởng kéo vào, sau lưng quân Tưởng là bọn quan thầy Mỹ, Từ vĩ
tuyến 16 trở vào Nam hơn một vạn quân Anh đã đổ bộ xuống. Núp sau quân Anh là thực


dân Pháp - kẻ đang có ý đồ trở lại Đông Dương. Đó là chưa kể 6 vạn quân Nhật vẫn còn
nguyên vũ khí. Sau lưng bọn đế quốc là hàng loạt lũ tay sai đủ các loại hình, tiêu biểu
nhất là bọn Việt Nam quốc dân Đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng
minh hội (gọi tắt là Việt Cách).
Tất cả tình hình trên đã đặt nước Việt Nam đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi
tóc”. Nhìn chung, ta thấy khó khăn tuy nhiều và lớn song chỉ là trước mắt và tạm thời,
thuận lợi vẫn là cơ bản và lâu dài. Nếu có những chính sách đúng đắn về đối nội cũng
như về đối ngoại thì ta có thể khắc phục được khó khăn, phát huy thuận lợi củng cố giữ
vững được chính quyền cách mạng, xây dựng được nền móng cho chế độ mới và thúc
đẩy cách mạng tiến lên.
c. Những chủ trương và biện pháp của ta nhằm khắc phục khó khăn: Phát huy
thuận lợi để xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, đấu tranh chống ngoại xâm, nội
phản, bảo vệ chính quyền cách mạng.

23/11/1946, Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước.
- Văn hóa xã hội: Ngày 8/9/1945 Chính phủ ban hành sắc lệnh thành lập Nha bình
dân học vụ và phát động phong trào thi đua diệt dốt, đuổi dốt. Kết quả hàng vạn lớp học
được mở ra, với tinh thần người biết chữ dạy lại cho người chưa biết chữ, người học
trước dạy người học sau. Chỉ một thời gian ngắn đa số đồng bào đã biết đọc biết viết.
Tiếp đó các lớp bổ túc văn hóa được mở ra cho người lớn, các lớp phổ thông (chủ yếu là
bậc tiểu học) đón con em nhân dân lao động vào trường. Ta đấu tranh chống các hủ tục
cũ, bài trừ mê tín dị đoan, vận động nhân dân xây dựng đời sống mới, phát triểu báo chí,
thông tin văn hóa, văn nghệ làm cho đời sống tinh thần của nhân dân được vui tươi và
lành mạnh, dần dần xây dựng cơ sở pháp lý cho chính quyền.
Đến đây, ta đã xây dựng được cơ sở vật chất, cơ sở xã hội và cơ sở pháp lý cho
chính quyền, tức xây dựng nền móng cho chế độ mới, tạo được thực lực cho ta để đấu
tranh chống giặc ngoại xâm có kết quả, vì “ta có thực lực họ mới đếm xỉa đến, còn nếu ta
không có thực lực thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác dẫu kẻ đó là người bạn
đồng minh của ta vậy”.
- Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản: Đảng và Chính phủ cách mạng đã có
sách lược đúng đắn chống Pháp và Trung Hoa Dân quốc. Sách lược đó chia làm 2 giai
đoạn trước 6/3/1946 và từ 6/3/1946 đến trước 19/12/1946.
+ Trước 6/3/1946 Đảng và Chính phủ chủ trương chống Pháp ở Nam Bộ và tạm
thời hòa hoãn Trung Hoa Dân Quốc ở miền Bắc theo phương châm “biến xung đột to
thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột”.
+ Từ 6/3/1946 đến trước 19/12/1946, trước tình thế nguy hiểm do Hoa- Pháp bắt
tay nhau, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, do Hồ Chí Minh chủ trì đã chọn giải
pháp “hòa để tiến”. Chủ trương đúng đắn trên cùng với các hoạt động ngoại giao sau đó
đã đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc cùng bọn tay sai ra khỏi nước ta, kéo dài
thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến
toàn quốc khó tránh khỏi.
Biết xác định kẻ thù chính nguy hiểm nhất để cô lập và tập trung mũi nhọn đấu
tranh vào chúng, hòa hoãn với những kẻ thù có thể hòa hoãn được, với sách lược mềm
dẻo, linh hoạt, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc với kẻ thù, Đảng, chính phủ, đứng

Từ những văn kiện chính ấy dần dần đi đến hình thành đường lối kháng chiến cho
ta. Đường lối đó là “Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh”.
Kháng chiến toàn dân, nghĩa là huy động sức mạnh của mọi người dân tham gia vào công
cuộc kháng chiến. Sở dĩ như vậy là vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Còn về
thực tiễn ta kháng chiến là để bảo vệ độc lập của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân,
kháng chiến vì dân phải do dân làm. Ta chủ trương kháng chiến toàn diện nên phải kháng
chiến toàn dân để mọi người dân đều được đóng góp tùy theo khả năng và sở trường của
mình. Ta chủ trương kháng chiến trường kỳ và tự lực cánh sinh, dựa vào dân mới có tiềm
lực đánh lâu dài. Cuối cùng kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta cho thấy, xưa nay tất cả
những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thắng lợi đều phải biết dựa vào dân.
Kháng chiến toàn diện: nghĩa là kháng chiến về mọi mặt. Vì thực tiễn địch đánh ta toàn
diện, ta phải chống lại chúng trên tất cả các mặt, mặt khác ta vừa kháng chiến lại vừa phải
kiến quốc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân.
Kháng chiến trường kỳ: nghĩa là đánh lâu dài. Sở dĩ như vậy vì sự vật phát triển phải là
một quá trình từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện, xen kẽ những bước nhảy vọt; Còn về thực tiễn mở đầu chiến tranh chiến địch mạnh
hơn ta rất nhiều về quân sự, chúng có cả một đội quân xâm lược nhà nghề, trang bị hiện
đại, vũ khí tối tân. Ngược lại, quân đội ta vừa thành lập trang bị kém cỏi vũ khí thô sơ.
Địch lại có các đế quốc khác giúp đỡ. Ta đánh lâu dài để vừa đánh vừa tiêu hao dần lực
lượng của địch, phát triển dần lực lượng của ta làm cho lực lượng đôi bên chuyển hoá,
đến một lúc nào đó, ta mạnh hơn địch mới đánh bại được kẻ địch.
Tự lực cánh sinh: nghĩa là hoàn toàn tự mình chứ không nhờ vả vào ai. Còn về thực tiễn
mở đầu chiến tranh ta bị bao vây tứ phía. Mãi đến cuối năm 1950 sau khi có chiến thắng
Biên giới ta mới nhận được viện trợ từ ngoài vào. Tuy nhiên, ta vẫn coi “Dựa vào sức
mình là chính”.
Bốn mặt trên đây của đường lối là một thể thống nhất, hoàn chỉnh, có liên quan mật
thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển. Đường lối đó tiếp tục bổ sung trong suốt
quá trình phát triển của cuộc kháng chiến. Mãi đến tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ II của Đảng, đường lối ấy mới được đưa ra thảo luận và chính thức thông
qua. Đường lối kháng chiến đúng đắn của ta đã có ý nghĩa quyết định đối với những

- Tiêu diệt 1 bộ phận sinh lực địch;
- Giải phóng thêm đất, thêm dân, củng cố và mở rộng thêm căn cứ địa
Việt Bắc;
- Khai thông biên giới Việt Trung, nối liền cách mạng nước ta với các nước xã hội
chủ nghĩa anh em.
Để thực hiện chiến dịch này, ta huy động hàng chục vạn đồng bào các dân tộc, mở
đường, vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực ra mặt trận với khẩu hiệu “Tất
cả cho chiến dịch toàn thắng”.
Chiến dịch bắt đầu ngày 16/9/1950. Mở đầu, ta đã tấn công vị trí Đông Khê, đó là
vị trí quan trọng trên đường số 4. Sau ngày ta tiêu diệt được vị trí này, dồn địch vào thế bị
động. Chúng phải rút quân từ Cao Bằng về và đưa quân từ Lạng Sơn lên ứng cứu. Ta đã
phục kích và đánh tan hai cánh quân này, buộc chúng phải rút bỏ nhiều vị trí như: Thất
Khê, Na Sầm, Đồng Đăng... Đến ngày 17/10/1950 chiến dịch kết thúc và thắng lợi thuộc


về ta.
Chiến thắng này có ý nghĩa quan trọng về chính trị và quân sự:
+ Ta đã tiêu diệt và bắt sống trên 11500 tên, thu trên 3000 tấn vũ khí và phương
triện chiến tranh, khai thông tuyến biên giới Việt - Trung dài 750km, giải phóng thêm
được 4000 km2 đất đai và 35 vạn dân.
+ Về chính trị, chiến thắng này đã xoay chuyển hẳn cục diện chiến tranh có lợi
cho ta. Lực lượng của ta mạnh dần lên. Ta luôn luôn chủ động tấn công chúng. Địch luôn
luôn bị động đối phó với ta.
* Chiến thắng Điện Biên Phủ
Sau 8 năm tiến hành cuộc chiến tranh ở Đông Dương, thực dân Pháp đã không đạt
được mục đích quân sự và chính trị. Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến. Tháng 5
năm 1953, chúng cử đại tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông
Dương. Vừa đặt chân đến Sài Gòn, tên tướng này đã vạch ra một kế hoạch gồm 2 bước:
- Bước 1: Thu Đông 1953 và Xuân Hè 1954, phòng ngự miền Bắc, tấn công miền
Nam.








trung tâm. Tại đây cuộc chiến đấu diễn ra gay go ác liệt, nhất là đồi A1.
- Đợt 3, từ ngày 1-7/5/1954: Quân ta tổng công kích. Ngày 7/5/1954 lá cờ chiến
thắng của ta tung bay trên nóc sở chỉ huy địch.
Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, ta tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62
máy bay, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch. Đây là chiến thắng oanh
liệt nhất trong lịch sử chống Pháp của nhân dân ta. Chiến thắng này đã góp phần quyết
định vào việc buộc địch ký vào hiệp định Giơ-ne-vơ để kết thúc chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Đông Dương.
c. Những thắng lợi về chính trị:
Từ 1948 đến 1950 ta đã tiến hành củng cố chính quyền dân chủ nhân dân.
Tháng 2/1951, Đảng tiến hành đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II tại Tuyên Quang. Đại
hội đã chính thức thông qua đường lối để đưa kháng chiến đến thắng lợi, đã quyết định
đưa Đảng ra hoạt động công khai từ 3/3/1951 lấy tên là Đảng Lao Động Việt Nam. Đại
hội đã bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Trường Chinh được bầu làm
Tổng Bí thư của Đảng. Cùng ngày 3/3/1951 ta hợp nhất Mặt trận Việt Minh vào Mặt trận
Liên Việt và thành lập khối liên Minh Việt -Miên - Lào.
Cũng vào năm 1951, ta đã lập tờ báo nhân dân làm cơ quan tuyên truyền ngôn luận chính
thức của Đảng ta.
Năm 1952, ta tiến hành thành công Đại hội tuyên dương anh hùng chiến sĩ thi đua trong
toàn quốc và đã lựa chọn tuyên dương được 7 anh hùng.
d. Những thắng lợi về ngoại giao:
Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công. Từ năm 1950 hệ thống xã hội chủ nghĩa
được hình thành. Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã lần lượt đặt

*/ Đấu tranh về văn hóa, giáo dục: Địch đánh ta về văn hóa, ta phải vạch trần tính
chất nô dịch trong văn hóa của địch và xây dựng nền văn hóa của ta.
- Tiếp tục phong trào “Bình dân học vụ”, “Xóa mù chữ", mở rộng phong trào “Bổ
túc văn hóa” để nâng cao trình độ cho nhân dân, cán bộ và bộ đội.
- Ta mở trường phổ thông các cấp chủ yếu là bậc tiểu học, giáo dục thực hiện theo 3
phương châm phục vụ kháng chiến, phục vụ dân sinh, phục vụ sản xuất.
- Ta cũng tranh thủ mở một số trường trung học chuyên nghiệp và bước đầu mở
trường đại học để đào tạo cán bộ và công nhân kĩ thuật cho trước mắt cũng như cho xây
dựng đất nước sau này. Năm 1948 ta mở đại hội văn hóa toàn quốc, xây dựng nếp sống
mới, vận động thực hiện 3 sạch.
- Tháng 7/1950, chính phủ đề ra chủ trương cải cách giáo dục lần thứ nhất, đã thay
hệ thống giáo dục cũ bằng hệ thống giáo dục 9 năm, xóa bỏ những tàn dư của nền giáo
dục thực dân phong kiến, hướng giáo dục phục vụ nhiệm vụ kháng chiến - kiến quốc và
đặt nền móng cho nền giáo dục dân chủ nhân dân của ta.
*/ Đấu tranh về quân sự: Địch đánh ta về quân sự, ta phải chống lại địch về quân
sự.
- Mở đầu kháng chiến toàn quốc chống Pháp (19/12/1946) quân dân ta chủ động
tiến công Pháp ở thủ đô Hà Nội với các đô thị khác ở phía bắc vĩ tuyến 16 (từ Đà Nẵng
trở ra Bắc) nhằm tiêu hao, giam chân địch, phá âm mưu “Đánh úp” của chúng, chuyển
đất nước sang thời chiến, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, toàn dân, toàn diện.
- Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên dành
thắng lợi của ta.
- Sau chiến thắng Việt Bắc, trong những năm 1948-1949, Đảng ta chủ trương phân
tán phần lớn bộ đội chủ lực chính quy thành những “Đại đội độc lập” đi sâu vào vùng
địch tạm chiếm giúp địa phương xây dựng cơ sở kháng chiến, tổ chức lực lượng vũ trang,
hình thành ra “Lực lượng vũ trang 3 thứ quân”, phát động chiến tranh du kích, biến hậu
phương của địch thành tiền phương của ta.
- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950 là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của ta
giành thắng lợi.
- Từ sau 1950, quân dân ta chủ động tấn công vào quân địch ở các chiến trường

sự, văn hóa - giáo dục nhưng trước hết là về chính trị.
a. Về chính trị:
Đảng và Chính phủ ra sức chăm lo củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất
(dưới hai hình thức: Việt Minh và Liên Việt) để tăng cường khối đoàn kết toàn dân. Ở
vùng tạm chiếm, mọi người đều tham gia đánh giặc giữ làng chống bắt phu bắt lính. Ở
vùng tự do mọi người đều tích cực sản xuất, luyện tập quân sự, góp gạo nuôi quân, sẵn
sàng chiến đấu.
Chính quyền dân chủ nhân dân tiêu biểu là Ủy ban hành chính kháng chiến cấp
thấp từ chiến khu đến tỉnh, huyện, xã không ngừng được củng cố và xây dựng theo yêu
cầu của kháng chiến.
Từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951 Đảng ta đã họp Đại hội toàn quốc lần thứ II tại căn
cứ Việt Bắc. Đại hội đã tổng kết những thắng lợi, những kinh nghiệm của cách mạng
trong thời gian qua chính thức thông qua đường lối để đưa kháng chiến đến thắng lợi. Đại
hội còn quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên Đảng Lao Động Việt Nam.


Vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường.
Ngày 3/3/1951 mặt trận Việt Minh và mặt trận Liên Việt đã hợp nhất lấy tên là mặt
trận Liên Việt, làm khối đoàn kết dân tộc mạnh hơn.
Cùng ngày 3/3/1951 khối liên minh Việt - Miên - Lào được thành lập, khối đoàn kết
giữa 3 dân tộc Đông Dương được tăng lên.
Ba sự kiện chính trị ấy đã thổi một luồng không khí phấn khởi mới cho toàn Đảng,
toàn dân ta làm cho thế chính trị của cuộc kháng chiến càng thêm vững chắc.
b. Về kinh tế :
Đảng chủ trương đấu tranh kinh tế chống lại chính sách “Dùng người Việt trị người
Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch, vừa ra sức xây dựng vùng kinh tế, đẩy
mạnh xây dựng cơ sở công nghiệp quốc phòng (xưởng quân giới, xưởng công binh..) thủ
công nghiệp (thuốc men, vải mặc, dụng cụ sản xuất), bồi dưỡng nông dân (thông tư quy
định giảm tô 25%)...
Đảng và chính phủ đã phát động được cuộc “Đại vận động sản xuất và tiết kiệm”

thay đổi phương pháp dạy, thay vì việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, giáo viên cần
tạo ra những tình huống để học sinh tự tìm hiểu các sự kiện lịch sử sau đó giáo viên chỉ là
người đánh giá, nhận xét và bổ sung kiến thức cho học sinh. Khi tiến hành bài học lịch
sử, việc sử dụng đa dạng và kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lí các phương pháp, các cách dạy
phù hợp với từng nội dung lịch sử là điều cần thiết. Song, ở đây chúng tôi muốn nhấn
mạnh tới phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi khi giảng dạy một vấn đề cụ thể đã được
xác định trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1945 – 1954.
Trước hết, phương pháp dạy học nêu vấn đề - đây là nguyên tắc chỉ đạo việc tiến
hành nhiều phương pháp dạy học. Nó được vận dụng trong tất cả các khâu như trình bày
nêu vấn đề, tình huống có vấn đề và bài tập, câu hỏi nêu vấn đề. Trong đó, khi lựa chọn
vấn đề dạy phải đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học, tính Đảng, tính hình ảnh và ngôn
ngữ trong sáng. Song, việc lựa các vấn đề dạy trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể phải có
ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển tư duy độc lập của học sinh. Khi dạy vấn đề chuyên
sâu không chỉ củng cố hệ thống hoá kiến thức cơ bản đã học, mà còn giúp học sinh tìm ra
bản chất của sự kiện, hiện tượng, phân tích, đánh giá và độc lập rút ra các kết luận cần
thiết trên cơ sở trình bày của thày, hình thành kĩ năng, kĩ xảo trong học tập….
Việc tạo tình huống có vấn đề không thể tràn lan, không thể đặt ra những vấn đề
quá lớn như một đề tài khoa học, càng không nên sa vào những tình huống vụn vặt, chỉ
nhằm thỏa mãn tính tò mò của người học, mà cần tập trung vào nội dung then chốt của
mỗi chương, bài. Nếu giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo điều kiện tiếp tục giải quyết các
vấn đề khác. Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình giải quyết vấn đề của học sinh,
đòi hỏi ý thức tự giác học tập. Nó giữ vị trí quyết định thành công của phương pháp dạy
và học nêu vấn đề. Sẽ không thể có kết quả gì nếu học sinh không chịu thi công. Học sinh
chỉ có thể có được những tri thức lịch sử một khi bản thân họ tự làm việc bằng lao động
nhận thức của chính mình.
Nêu các vấn đề:
- Trình bày và nhận xét được tình hình nước Việt Nam sau ngày Cách mạng tháng
Tám năm 1945;
- Đánh giá được những biện pháp xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà từ tháng
9/1945 đến trước ngày 19/12/1946.

Thứ hai, là phương pháp thảo luận nhóm tại lớp:
Trong dạy và học lịch sử có nhiều hình thức hợp tác theo nhóm, nhằm giải quyết
những nhiệm vụ học tập khác nhau ở trong hoặc ngoài lớp học. Có thể là hợp tác nhóm
để học theo quy trình nghiên cứu khoa học, trong đó mỗi thành viên của nhóm sẽ thực
hiện một phần của đề tài dưới sự chủ trì của thầy hoặc nhóm trưởng. Có thể là sự hợp tác
giữa các thành viên để cùng giải quyết một tình huống có vấn đề đã được đặt ra...
Ở đây chỉ bàn về phương pháp thảo luận nhóm tại lớp trong dạy và học môn lịch
sử, giải quyết những câu hỏi/chủ đề cụ thể. Việc thảo luận không giống như một buổi
séminar, một buổi báo cáo kết quả nghiên cứu, mà là trả lời những câu hỏi/chủ đề nhằm
phục vụ trực tiếp cho bài giảng theo trình tự của chương trình, có thể tiến hành thường
xuyên, trong hầu hết các giờ học trên lớp. Trong một buổi học, có thể thảo luận nhiều câu
hỏi/chủ đề khác nhau có liên quan tới một nội dung kiến thức của buổi học.
Để thực hành phương pháp này, cần chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4
đến 5 học sinh, chỗ ngồi cố định ở gần nhau, tránh phải thay đổi chỗ ngồi khi cần thảo
luận tại nhóm.
Câu hỏi để thảo luận nhóm tại lớp cần đáp ứng những yêu cầu sau:
- Nhằm vào những kiến thức cơ bản. Học liệu phục vụ việc chuẩn bị trả lời phải


được chọn lọc kỹ, bao gồm các học liệu bắt buộc và tham khảo được xác định cho môn
học, và được công bố trước, đảm bảo có thể cung cấp cho học sinh ngay tại lớp.
- Kích thích tư duy của mỗi học sinh bằng những câu hỏi có yêu cầu vận dụng kiến
thức, so sánh, giải thích, hoặc nhận xét, đánh giá. Ví dụ: Tại sao trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945-1954), nhân dân Việt Nam phải đánh lâu dài? …..
Dạy và học lịch sử bằng phương pháp thảo luận nhóm tại lớp có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy và học hiên nay. Phương pháp này có tác dụng
kích thích sự hợp tác của tất cả các thành viên trong nhóm, nhằm đưa ra một đáp án đúng
và cách trình bày tốt nhất cho mỗi câu hỏi, tăng cường vai trò chủ động của người học
trong việc nắm bắt nhanh những kiến thức cơ bản, giải quyết yêu cầu chủ yếu là hiểu bài
ngay tại lớp.

+ Đảm bảo tính hệ thống trong việc xác định nội dung kiến thức cơ bản.
+ Đảm bảo tính đa dạng, toàn diện trong việc xác định kiến thức lịch sử ở nhiều
mặt khác nhau của đời sống xã hội….
+ Nội dung bài tập lịch sử phải phù hợp với trình độ nhận thức, phát huy trí thông
minh sáng tạo, có tác dụng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức của học sinh.
+ Bài tập lịch sử cần chính xác về nội dung và chuẩn mực về hình thức.
Sau đây là một số dạng bài tập, câu hỏi tự luận (tham khảo) ôn tập cho học sinh
giỏi khi dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1945 – 1954.
Câu 1. Tình hình nước Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 có những
thuận lợi và khó khăn gì?
Câu 2. Đảng và Chính phủ đã sử dụng những giải pháp gì để đấu tranh với quân
Trung Hoa Dân quốc và tay sai sau ngày Cách mạng sau Cách mạng tháng Tám năm
1945 thành công. Nêu hiệu quả của việc thực hiện những giải pháp đó?
Câu 3. Tóm tắt quan hệ của Việt Nam đối với Pháp từ ngày tháng 9/1945 đến tháng
12/1946.
Câu 4. Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân và nội dung đường lối kháng chiến của Đảng.
Câu 5. Tóm tắt các bước phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên
mặt trận quân sự.
Câu 6. Từ năm 1950 đến trước chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954), hậu
phương kháng chiến đã được xây dựng như thế nào? Nêu vai trò của hậu phương đối với
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Câu 7. Phân tích hoàn cảnh ra đời và nội dung kế hoạch quân sự Na va.
Câu 8. Trình bày và nhận xét hiệu quả thực hiện phương hướng chiến lược do Bộ
Chính trị xác định trong Đông – Xuân 1953 – 1954.
Câu 9. Vì sao Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), nêu
diễn biến, kết quả và ý nghĩa của chiến dịch.
Câu 10. Trình bày hoàn cảnh kí kết, nội dung cơ bản và ý nghĩa của Hiệp định
Giơnevơ 1954 về Đông Dương.
Câu 11. Phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao

Bên cạnh đó giáo viên còn có thể hướng dẫn học sinh giải các bài tập thông qua
hoạt động ngoại khóa như tự tìm tòi nghiên cứu để soạn các báo cáo khoa học phù hợp
với trình độ của bản thân, tự sưu tầm tài liệu lịch sử địa phương, tự vận dụng kiến thức, kĩ
năng kĩ xảo đã học vào hoạt động thực tiễn theo những yêu cầu mà giáo viên đưa ra.
Thứ tư, tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh, chủ yếu dưới hình thức kiểm tra
miệng và kiểm tra viết.
+ Kiểm tra miệng kết hợp trong giờ dạy để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức và
khả năng phản xạ nhanh; khả năng tư duy sáng tạo trong quá trình nghe giảng; rèn luyện
kĩ năng thuyết trình các sự kiện lịch sử...
+ Kiểm tra bài viết tại lớp, đây là hình thức bắt buộc vì một vấn đề chuyên sâu đòi
hỏi học sinh phải hình thành được kĩ năng làm bài thi, đó là: đọc và hiểu đề thi; vạch đề
cương sơ lược bài làm; nắm vững nội dung lịch sử (là yêu cầu quan trọng bậc nhất để đạt
được kết quả thi cao); lựa chọn phương pháp học tập và làm bài phù hợp (đòi hỏi sự
thông minh, phải có tư duy, phải biết tổng hợp các vấn đề, biết giải thích, đánh giá sự
kiện hiện tượng lịch sử, lập luận logíc, văn phong rõ ràng trong sáng...).
Lưu ý: Đối với việc kiểm tra đánh giá học sinh cần xác định rõ thời gian ( kiểm tra
15 phút, 45 phút hoặc 180 phút...) để xác định nội dung kiến thức phù hợp.
C. KẾT LUẬN
Từ thực tế giảng dạy đội tuyển học sinh giỏi quốc gia hàng năm, với việc lựa chọn
những nội dung và phương pháp giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 như
trên chúng tôi nhận thấy:
Học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn này, đồng
thời có cách phân tích, so sánh, tổng hợp kiến thức lịch sử một cách vững vàng, hiểu
được mối quan hệ của lịch sử Việt Nam thời kì kháng chiến chống pháp với các thời kì
trước và sau đó.
Trên cơ sở nắm vững kiến thức, học sinh có thể đưa ra ý kiến của mình để nhận xét
về một sự kiện, 1 giai đoạn lịch sử, đồng thời qua đó giáo dục tư tưởng - tình cảm, lòng
tự hào dân tộc, thấy được chiến thắng hào hùng trong lịch sử dựng và giữ nước của dân
tộc, tạo niềm đam mê với bộ môn.
Hội thảo khoa học lần thứ VIII đã thu hút đông đảo các trường chuyên ở miền Bắc

6. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2008), Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học
Lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
7. Hoàng Thanh Tú (2012), Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường THPT - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status