Xây dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học theo moodun trong dạy học chương Hạt nhân nguyên tử Vật lý lớp 12 - Pdf 25

7

MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục từ viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các biểu đồ
iv
Mục lục
v
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG TÀI LIỆU VÀ TỔ CHỨC HƢỚNG DẪN HỌC SINH TỰ
HỌC THEO MÔĐUN 5
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học
5
1.1.1. Tổng quan những phương hướng tiếp cận để xác định các cơ sở của
việc đổi mới PPDH

4
1.1.2. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
7

1.4.4. Điều kiện cần và đủ cho việc tự học
20
1.5. Thực trạng vấn đề nghiên cứu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học
theo môđun ở môn Vật lý hiện nay

20
v
8

Kết luận chương 1
22
Chƣơng 2: XÂY DỰNG TÀI LIỆU VÀ TỔ CHỨC HƢỚNG DẪN
HỌC SINH TỰ HỌC THEO MÔĐUN CHƢƠNG “HẠT NHÂN
NGUYÊN TỬ” VẬT LÝ 12 23
2.1.
Cấu trúc nội dung chương “Hạt nhân nguyên tử” Vật lý 12
23
2.1.1. Vị trí chương “Hạt nhân nguyên tử” trong chương trình Vật lý
THPT 23
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Hạt nhân nguyên tử” Vật lý 12

23
2.2. Xây dựng tài liệu và hướng dẫn học sinh tự học theo môđun chương
“Hạt nhân nguyên tử” Vật lý 12

Kết luận chương 3
84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
85
1. Kết luận
85
2. Khuyến nghị
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
87
PHỤ LỤC
89
vi
4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Kí hiệu và chữ
1
CS
Cơ sở
2
ĐC
Đối chứng
3
GD

Tâm lý
14
TN
Thực nghiệm
15
TNSP
Thực nghiệm sư phạm
16
THPT
Trung học phổ thông
17
TNKQ
Trắc nghiệm khách quan
18
TSKH
Tiến sĩ khoa học
ii
5

DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên các bảng
Trang
1
Bảng 2.1. Triển khai cách hướng dẫn HS tự học có sự góp mặt
của GV

71
2
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số

Sơ đồ 1.1. Cơ sở đổi mới PPDH
6
2
Sơ đồ 1.2. Chu trình tự học
10
3
Hình 1.1. Cấu trúc môđun dạy học
12
4
Hình 1.2: Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
17
5
Sơ đồ 2.1. Cấu trúc nội dung chương “Hạt nhân nguyên tử”
Vật lý 12

23
6
Sơ đồ 2.2. Tổng kết chương “Hạt nhân nguyên tử”
69
7
Hình 3.1. Đường phân bố tần suất
81
8
Hình 3.2. Đường phân bố tần suất lũy tích
81

iv
1

MỞ ĐẦU


Vậy để giúp cho học sinh có những bước đi ban đầu thật vững chắc trong
quá trình tự học lâu dài sau này, việc cung cấp cho các em một công cụ học tập vừa
sức, giúp các em tự kiểm chứng năng lực bản thân là yếu tố quyết định đến sự hình
thành năng lực tự học của các em.
Xuất phát từ những lý do đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng tài liệu và tổ
chức hướng dẫn học sinh tự học theo môđun trong dạy học chương “Hạt nhân
nguyên tử” Vật lý lớp 12”.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
Ở Anh, vào những năm 1920 đã hình thành nhà trường kiểu mới, khuyến
khích hoạt động tự quản của học sinh.
Ở Hoa Kì, từ những năm 1970, gần 200 trường đã dạy học thử nghiệm giáo
viên hướng dẫn học sinh cách học, học sinh độc lập làm việc theo nhịp độ riêng phù
hợp với nhận thức của mình.
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực của học sinh đã
được nhân rộng khắp thế giới.
2.2. Những vấn đề nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
Việc tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp dạy học sinh tiếp nhận thông tin
đã có từ xa xưa khi con người biết truyền đạt tri thức cho nhau. Cha ông ta đã có
câu “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là nói về việc cần thiết của việc tự học.
Ngày nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới trong phương pháp
dạy học với từng môn học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học
sinh. Có nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, các nghiên cứu sinh và học viên
cao học quan tâm tới việc nghiên cứu hướng dẫn học sinh cách tự học: Nguyễn Thị
Tân víi ®Ò tµi: Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “ Động học chất
điểm ” Vật lý 10 nâng cao (Luận văn Thạc sĩ – ĐHSPHN2 - 2011). Nguyễn Thị
Kim Cương” víi ®Ò tµi: Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “ Dòng
điện xoay chiều ” Vật lý 12 nâng cao (Luận văn Thạc sĩ – ĐHSPHN2010)…
3. Mục tiêu nghiên cứu

9. Những đóng góp mới của luận văn
- Tổng quan cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng dạy học và tổ chức việc tự
học cho học sinh THPT.
- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh.
4

- Soạn thảo bộ tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun chương “Hạt nhân
nguyên tử” Vật lý 12 nhằm nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng tài liệu và tổ chức
hướng dẫn học sinh tự học theo môđun.
Chương 2: Xây dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học theo
môđun chương “Hạt nhân nguyên tử” Vật lý 12.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
5

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TÀI LIỆU VÀ
TỔ CHỨC HƢỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC THEO MÔĐUN
1.1. Đổi mới phƣơng pháp dạy học
1.1.1. Tổng quan những phương hướng tiếp cận để xác định các cơ sở của việc
đổi mới PPDH
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là
một yêu cầu bắt buộc với mọi giáo viên (GV).
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu
cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự
nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Giáo dục cần đào tạo đội
ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi mới của xã hội và thị

hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của GV và HS, sử dụng những
hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát
huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh.
Đổi mới PPDH đối với giáo viên bao gồm:
- Đổi mới việc lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy.
- Đổi mới PPDH trên lớp học.
- Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
7

Đổi mới PPDH đối với học sinh là đổi mới PP học tập.
Đổi mới PPDH cần được tổ chức, lãnh đạo và hỗ trợ từ các cấp quản lý
giáo dục, đặc biệt là các trường phổ thông thông qua những biện pháp thích
hợp.[4,tr. 82-83]
1.1.2. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
Các biện pháp đổi mới PPDH rất phong phú. Sau đây là một số biện pháp
đổi mới PPDH dành cho giáo viên [4, tr. 86-87]
 Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài dạy học.
 Cải tiến các PPDH truyền thống kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
hiện đại.
 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề.
 Vận dụng dạy học theo tình huống.
 Vận dụng dạy học định hướng hành động.
 Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin trong
dạy học.
 Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo.
 Tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn.
 Bồi dưỡng phương pháp học tập cho HS.
 Cải tiến việc kiểm tra đánh giá.
1.2. Cơ sở lý thuyết của quá trình tự học
1.2.1. Khái niệm tự học

Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một định nghĩa riêng về tự học, nhưng tất
cả đều có chung quan điểm: Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm
lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người
nói chung và của chính bản thân người học nói riêng. Trong quá trình đó, người
học là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực sử dụng các năng lực trí tuệ và có
khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình để tiến hành hoạt động nhận
thức.[5, tr. 8]
1.2.2. Các hình thức tự học
Có nhiều hình thức tự học, mỗi hình thức có những ưu và nhược điểm
khác nhau, tùy hoàn cảnh thực tiễn mà người học lựa chọn hình thức tự học thích
hợp với bản thân để đem lại hiệu quả cao nhất. Có thể dẫn ra một số hình thức tự
học như [21]
9

 Tự học hoàn toàn (không có GV): Thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế,
học kinh nghiệm của người khác. HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng
kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết
quả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học .
 Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: Thí dụ như học bài hay
làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS
phổ thông. Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh
giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của các em.
 Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV
giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han,
không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, HS
cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình.
 Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách
xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn
cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần
mềm trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó

Hệ dạy học “Tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn” là hình thức dạy học
hiện đại, xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1968, do F.S.Killer và J.G.Sherman thiết
kế. Ngay khi mới ra đời nó đã thay thế cho hệ dạy học cũ “Diễn giảng –
Xemina” phổ biến ở đại học và bước đầu thay thế cho hệ dạy học “Chương trình
11

hóa” lúc đó đang là thời thượng nhưng đã bộc lộ quá nhiều nhược điểm. Ngày
nay hệ dạy học “tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn” đã được hoàn thiện và sử
dụng phổ biến trong dạy học có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Việc học được cá thể hóa cao độ, tức là tự học – cá thể hóa, tôn trọng nhịp
độ cá nhân phù hợp với năng lực từng người.
- Việc dạy được khách quan hóa tối đa. Nghĩa là quan hệ giao tiếp dạy và
học, hệ giao tiếp giữa dạy và học, những mệnh lệnh điều khiển của dạy (kể cả
kiểm tra) đều được chuyển hóa thành ngôn ngữ viết và được đưa vào tài liệu giáo
khoa tự học của học sinh để họ chấp hành, đây chính là mặt có “hướng dẫn” chủ
yếu của tự học.
- Diễn giảng không còn giữ vai trò là nguồn thông tin xuất phát nữa mà trở
thành nguồn gây động cơ nhận thức khoa học.
- Tài liệu giáo khoa (giáo trình) được chia thành những học phần theo đơn
vị kiến thức biên soạn theo tiếp cận môđun. Học sinh phải chiếm lĩnh được đơn
vị trước mới được phép đi vào đơn vị tiếp theo.
- Mục tiêu dạy học được diễn đạt một cách cụ thể, tường minh và có tính đo
lường được dưới dạng những chuẩn mực về kiến thức và kỹ năng.
- Sử dụng những PPDH và phương tiện kỹ thuật hiện đại bên trong hoặc
đồng thời với tài liệu giáo khoa môđun hóa. Ví dụ: tài liệu giáo khoa tự học có
hướng dẫn kèm theo băng (Audio – Tutorial Work book).[19]
1.3. Tài liệu tự học có hƣớng dẫn theo môđun
1.3.1. Thế nào là tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
1.3.1.1. Khái niệm môđun dạy học
Khái niệm môđun: Thuật ngữ môđun xuất hiện cùng với thời đại chinh phục

Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là tài liệu được biên soạn theo
những đặc trưng và cấu trúc của một môđun. Tài liệu này bao gồm cả nội dung,
cách xây dựng (thu nhận kiến thức) và kiểm tra kết quả, giúp cho học sinh cách để
tự chiếm lĩnh tri thức, tự đánh giá được kết quả học tập. [14] Hệ vào
Thân của
môđun
Hệ ra
13

1.3.2. Nguyên tắc của việc xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun
Xây dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun về cơ bản phải xây
dựng các nội dung:
A. Mục tiêu học sinh cần đạt được sau khi tự học môđun
B. Tài liệu chính học sinh cần đọc
C. Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tự học
D. Bài tập học sinh tự kiểm tra kiến thức (Bài kiểm tra lần 1)
E. Câu trả lời và nội dung kiến thức chính cần ghi nhận (Thông tin phản hồi của
giáo viên)
F. Bài tập học sinh tự kiểm tra đánh giá sau khi đã nghiên cứu thông tin phản
hồi (Bài kiểm tra lần 2)
G. Bài tập áp dụng.
1.3.2.1 Mục tiêu học sinh cần đạt được sau khi tự học
Các mục đích, yêu cầu của một môđun là những gì mà HS phải có được sau
mỗi bài học. GV cũng căn cứ vào mục đích để theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra đánh
giá HS một cách cụ thể, chính xác.Với hệ thống mục đích, yêu cầu của môđun, tài
liệu giảng dạy được biên soạn theo tiếp cận môđun trở nên khác một cách căn bản
hơn so với tài liệu biên soạn theo kiểu truyền thống vì nó chứa đựng đồng thời cả

- Bài kiểm tra để tự đánh giá sau khi đã chuẩn kiến thức mới cũng được biên soạn
dưới dạng câu hỏi nhiều lựa chọn. Những câu hỏi này giúp HS tự đánh giá kết quả học
tập môđun. Nó đảm bảo được sự thống nhất giữa hai chức năng lĩnh hội và tự điều khiển
quá trình học tập. Những câu hỏi này phải phản ánh được mục đích của mỗi môđun, đảm
bảo cho HS kiểm tra, đánh giá được trình độ lĩnh hội của mình đối với môđun.
1.3.2.4. Bài tập áp dụng
Với bài tập áp dụng cho mỗi môđun chúng tôi thiết kế hai loại bài tập là bài
tập có hướng dẫn và bài tập tự giải có đáp số.
- Bài tập có hướng dẫn vận dụng kiến thức đã học trong bài: Các bài tập này
đều có lời giải rõ ràng, có những bài có nhiều cách giải, không chỉ giúp các em hiểu
rõ, nắm sâu kiến thức mà còn rèn luyện cho các em phương pháp trình bày bài và
cách khai thác bài tập ở nhiều khía cạnh. Dạng bài tập này được sắp xếp từ dễ đến
khó, chủ yếu là các bài tập ở mức độ biết, hiểu và vận dụng; bao gồm các dạng bài
thường gặp, giúp các em có thể làm tốt các bài tập trên lớp và trong các đề thi. Các
15

bài tập phần tính toán thường có phần chú ý trình bày tóm tắt cách làm các dạng bài
tập đó, các kiến thức cần nhớ
- Bài tập có đáp số: Là các bài tập tương tự và nâng cao với bài tập mẫu. Bài
tập này yêu cầu HS tự giải và so sánh với đáp số ở cuối bài. Các bài tập này chủ yếu
là các bài tập ở mức độ vận dụng và vận dụng sáng tạo.
Như vậy, mỗi môđun với cấu trúc như trên thì HS tự học thuận lợi hơn rất
nhiều so với một phần tương ứng trong tài liệu cũ. Có được kết quả đó là do khi
bước vào mỗi tiểu môđun thì hệ thống mục đích, yêu cầu đã được định hướng rõ nét
cái mà HS cần phải học. Tiêu chuẩn đánh giá sẽ xác định cái mà HS cần phải đạt.
Nội dung dạy học trình bày trong tiểu môđun rõ ràng hơn, rành mạch hơn trong tài
liệu cũ. Chính nhờ các tiểu môđun mà việc học tập của tập thể HS được phân hóa.
Qua mỗi tiểu môđun, việc học của tập thể HS lại được phân hóa một lần qua kiểm
tra của GV. Đây có thể nói chính là điểm cơ bản của tài liệu mới.
Ngoài ra, SGK Vật lý được coi là một trong những nguồn cung cấp tri thức

cho người học những cơ hội có thể học lên theo nhịp độ cá nhân, được cá thể hóa và
phân hóa cao độ, vừa mềm dẻo, vừa đa dạng. Những hệ dạy học này cho phép
người học có thể từ bỏ nó, rồi đến lúc có điều kiện lại quay trở lại với nó, hoặc
chuyển sang một hệ dạy học liên thông khác.
Tiếp cận môđun ra đời chính là để đáp ứng nhu cầu cho hệ dạy học như thế.
1.3.3.2. Các đặc trưng cơ bản của môđun dạy học
Môđun dạy học có 4 đặc trưng cơ bản sau: [22]
 Nó bao gồm 1 tập hợp những tình huống dạy học, được tổ chức xoay quanh
một chủ đề trí dục được xác định tường minh.
 Nó được định hướng bởi hệ thống mục tiêu dạy học được xác định cụ thể rõ
ràng và có thể đo lường được.
 Nó chứa đựng hệ thống những text điều khiển quá trình dạy học, nhằm đảm
bảo thống nhất hoạt động dạy, họat động học và cả việc kiểm tra – đánh giá (liên hệ
nghịch) để phân hóa con đường lĩnh hội tiếp theo.
 Nó phải có khả năng thích nghi tốt với những hệ dạy học phân hóa - cá thể
hóa, tức là chứa đựng nhiều con đường lĩnh hội, theo những cách thức khác nhau để
chiếm lĩnh cùng một nội dung trí dục, đảm bảo cho người học tiến lên theo nhịp độ
riêng, đi tới mục tiêu chung (có thể nhanh hoặc chậm và chỉ khi nào xong môđun
trước mới được phép học môđun tiếp theo).

17

1.3.4. Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
Nội dung chính của phương pháp dạy học này là nhờ các môđun mà HS
được dẫn dắt từng bước để đạt tới mục tiêu dạy học. Khi đó, nhờ nội dung dạy học
được phân nhỏ ra từng phần, kết hợp với hệ thống mục tiêu chuyên biệt và hệ thống
test, HS có thể tự học và tự kiểm tra mức độ nắm vững các kiến thức, kỹ năng và
thái độ trong từng môđun. Với cách học này, mỗi học sinh có thể tự học theo nhịp
độ riêng của mình. [23]
Trong phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun thì GV chỉ giúp đỡ khi

kiện thuận lợi trong việc bổ sung nội dung mới và tài liệu dạy học (nhờ các môđun
phụ đạo).
- Cho phép sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, theo dõi kèm cặp một cách tối
ưu tuỳ theo mức độ phức tạp của nhiệm vụ dạy học.
- Đảm bảo tính thiết thực của nội dung dạy học.
- Đảm bảo được tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vì người học tự
chiếm lĩnh nó, đồng thời hình thành và rèn luyện được thói quen tự học để họ tự đào
tạo suốt đời.
1.3.4.2. Nhược điểm của phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
- Việc thiết kế hệ thống môđun dạy học và biên soạn tài liệu dạy học theo
môđun khá công phu và tốn kém. Cần khoảng 5 đến 7 giờ biên soạn môđun dạy học
cho một giờ học .
- Đòi hỏi học sinh phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định (vì tự
học đòi hỏi họ có trình độ và sự nỗ lực cao hơn các phương pháp học tập khác).
- Có thể nảy sinh tâm lý buồn chán do tính đơn điệu của việc tự học.
- Không thích hợp với việc rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm.
1.3.4.3. Các tình huống sử dụng
Với các ưu, nhược điểm nói trên có thể sử dụng phương pháp tự học có
hướng dẫn theo môđun trong các trường hợp sau:
- Dạy học những nội dung quan trọng với nhiều đối tượng theo học (cần đặc
biệt quan tâm tới môn chung, các môn cơ bản và cơ sở chuyên nghành).
19

- Dạy học những nội dung, kiến thức có liên quan nhiều đến nội dung đã được
học ở lớp dưới, các kiến thức nâng cao cập nhật không nhiều và không quá khó.
- Dạy học những nội dung có tính biến động cao, thường xuyên phải đổi mới
vì môđun có khả năng lắp ghép và tháo gỡ nên có nhiều thuận lợi trong việc thay
đổi nội dung, chương trình dạy học.
- Khắc phục những nhược điểm của hệ thống dạy học cũ như: đồng loạt,
không phân hoá, không tiến triển theo nhịp độ cá nhân.

- 40/240 HS (16,67%) cho là chưa có sự giám sát, kiểm tra, đánh giá hiệu quả
của việc tự học.
Như vậy, từ các kết quả điều tra cho thấy việc tự học của HS ở THPT còn
hạn chế do những khó khăn trong quá trình tự học. Phần lớn HS đều thiếu sự định
hướng trong việc tìm và lựa chọn tài liệu, thiếu phương pháp tự học hợp lý dẫn đến
kết quả tự học chưa cao, đôi khi lại là nguyên nhân góp phần làm các em nản chí.
Bên cạnh đó nhiều GV cũng chưa khuyến khích năng lực tự học của HS nên dẫn
đến việc tự học của các em còn nhiều hạn chế.
1.4.4. Điều kiện cần và đủ cho việc tự học
Tổng hợp các kết quả điều tra cho thấy HS rất cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ
trong học tập (cụ thể ở đây là quá trình tự học): học cái gì? Học như thế nào? Làm
thế nào để đạt được kiến thức mình muốn có trước khối lượng kiến thức rất lớn,
nhiều nguồn thông tin?
Như vậy, có thể thấy ngoài điều kiện về thời gian (mà đa số học sinh đã đáp
ứng được) thì điều kiện cần và đủ cho việc tự học ở đây chính là GV cần có tài liệu
và phương pháp phù hợp giúp cho HS cách thức để tự học, tự thu thập kiến thức
một cách chủ động hơn.
1.5. Thực trạng vấn đề nghiên cứu và tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự học
theo môđun ở môn Vật lý hiện nay
Tổ chức cho HS tự học bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
sẽ góp phần thực hiện được một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy
học là bồi dưỡng cho người học phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Đi theo hướng
nghiên cứu này trong lĩnh vực nghiên cứu về phương pháp dạy học Vật lý có thể kể
đến công trình sau:
- Luận án Phó tiến sĩ khoa học Sư phạm – Tâm lý của NCS Phạm Văn Lâm
(1995): “Nâng cao chất lượng thực tập Vật lý đại cương ở trường Đại học kĩ thuật
bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”.

Trích đoạn Tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun chương “Hạt nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status