i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THN VUI
BIÊN SOẠN TÀI LIỆU VÀ TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN
HỌC SINH TỰ HỌC THEO MÔĐUN TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “SÓNG ÁNH SÁNG”- VẬT LÍ 12 THPT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học cùng quí thầy
cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi
hoàn thành khóa học.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Ngô Diệu
Nga đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở giáo dục và đào tạo Yên Bái, Ủy ban nhân dân
tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện cho tôi được học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên tổ Vật lí
trường THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong thời gian làm thực nghiệm.
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và các học viên lớp
LL&PPDHBM Vật lí K16, đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn
NGUYỄN THN VUI
Mục đích nghiên cứu 3
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5.
Giả thuyết khoa học 3
6.
Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7.
Phương pháp nghiên cứu 3
8.
Đóng góp của đề tài 4
9.
Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BIÊN SOẠN TÀI
LIỆU VÀ TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC THEO MÔĐUN 5
1.1.
1.2.7.
Hệ dạy học: Tự học – cá thể hóa - có hướng dẫn 11
1.3.
Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun 12
1.3.1.
Thế nào là tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun 12
1.3.2.
Nguyên tắc biên soạn tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun 15
1.3.3.
Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun 18
vi
1.4.
Thực tiễn về hoạt động tự học Vật lí của học sinh và việc hướng dẫn tự học
của giáo viên ở trường trung học phổ thông (THPT) 22
1.4.1.
Mục đích điều tra 22
2.3.2.
Tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun chương “Sóng ánh sáng”. 30
2.3.3.
Kế hoạch hướng dẫn học sinh tự học theo tài liệu 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1.
Mục đích thực nghiệm sư phạm 82
3.2.
Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 82
3.3.
Đối tượng thực nghiệm sư phạm 82
3.4.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm 82
3.5.
PHỤ LỤC 103viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-1. Kết quả điều tra thực trạng tự học của học sinh 23
Bảng 3-1. Bảng thống kê điểm số 2 bài kiểm tra tiểu môđun 1 84
Bảng 3-2. Bảng thống kê điểm số 2 bài kiểm tra tiểu môđun 3 87
Bảng 3-3. Bảng thống kê điểm số 2 bài kiểm tra môđun 2 88
Bảng 3-4. Bảng thống kê điểm số 2 bài kiểm tra môđun 3 89
Bảng 3-5. Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra 15 phút 91
Bảng 3-6. Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra 45 phút 92
Bảng 3-7. Xử lí kết quả điểm số bài kiểm tra 45 phút 92
Bảng 3-8. Tổng hợp các tham số 93
Bảng 3-9. Tổng hợp kết quả tự học của học sinh qua từng môđun 95
Bảng 3-10. Thống kê kết quả đánh giá bộ tài liệu tự học theo ý kiến học sinh 96
Bảng 3-11. Thống kê kết quả đánh giá hiệu quả bộ tài liệu hướng dẫn tự học 97
ix
Hình 3-6. Đồ thị đường phân bố tần suất tích lũy (hội tụ lùi) 93
Hình 3-7. Tương quan giữa các mức điểm của từng môđun 96
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một xã hội hiện đại. Một trong những đặc trưng quan
trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin. Những ứng dụng kĩ thuật hiện đại
của ngày hôm nay sẽ trở nên lạc hậu trong một tương lai không xa. Những hiểu biết
của chúng ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội
này phải biết cách cập nhật thông tin. Một trong những cách khả dĩ là phải biết tự
học. Chính năng lực tự học là chìa khóa để chủ động phát triển tự thân, mở rộng các
chân trời kiến thức mới, giúp tiếp cận những ý tưởng mới và tiệm cận với những kinh
nghiệm mới.
Tự học từ lâu đã được biết đến, nhưng trong thực tế nó lại chưa được quan tâm
đúng mức. Mặc dù đây là một trong 8 định hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật
lí trung học phổ thông (THPT) và là một trong số các nội dung của Luật giáo dục
năm 2005. Hơn nữa, tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời. Đó
cũng là một trong những đặc trưng quan trọng của việc học trong thế kỉ XXI. Việc tự
học là rất quan trọng, tại sao lại chưa được quan tâm đúng mức? Có phải vì quá khó?
Qua thực tiễn điều tra thì việc tự học của học sinh (HS) còn gặp nhiều khó khăn.
Không phải vì khó mà bởi vì các em chưa biết cách tự học hay chưa có phương pháp
(PP) tự học, mặc dù có rất nhiều nguồn cung cấp tài liệu. Việc lựa chon được một tài
liệu phù hợp với khả năng và năng lực của học sinh là yếu tố quyết định đến kết quả
tự học cũng như niềm yêu thích, hứng thú học tập của học sinh. Thứ mà học sinh
đang cần không chỉ là một tài liệu học tập vừa sức, phù hợp với năng lực mà còn phải
giúp họ có thể tự đánh giá được kết quả cũng như sự tiến bộ trong học tập của mình.
Chính vì thế, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, học sinh cần được hướng dẫn tự
Ngày nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới trong phương pháp dạy
học với từng môn học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.
Có nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, các nghiên cứu sinh và học viên cao học
quan tâm tới việc nghiên cứu hướng dẫn học sinh cách tự học: Nguyễn Thị Kim
Cương với đề tài: Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “Dòng điện
xoay chiều” Vật lí 12 nâng cao (Luận văn Thạc sĩ – ĐHSPHN - 2010). Đoàn Thanh
Hà với đề tài “Xây dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học theo môđun
trong dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” Vật lý lớp 12”( Luận văn Thạc sĩ -
ĐHGD - ĐHQGHN - 2012) 3
3. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học chương “Sóng
ánh sáng”- Vật lí 12 theo môđun, giúp HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức, đồng thời từng
bước hình thành năng lực tự học cho học sinh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động tổ chức hướng dẫn học sinh tự học chương: “Sóng ánh sáng” –
Vật lí 12, trong dạy học Vật lí phổ thông.
b) Phạm vi nghiên cứu
− Biên soạn tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học theo môđun khi dạy
học chương: “Sóng ánh sáng” – Vật lí 12.
− Mẫu khảo sát: HS khối 12 trường THPT Hoàng Văn Thụ - Lục Yên - Yên
Bái.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu biên soạn được tài liệu hướng dẫn học sinh học tự học theo môđun nội
dung kiến thức chương “Sóng ánh sáng” – Vật lí 12 bám sát mục tiêu dạy học, đồng
thời tổ chức sử dụng hợp lí các hình thức hướng dẫn học sinh tự học theo tài liệu đã
biên soạn thì có tác dụng giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức và hình thành
hướng dẫn học sinh tự học chương “Sóng ánh sáng” – Vật lí 12 từng bước phát triển
năng lực tự học cho học sinh.
− Tài liệu và cách tổ chức hướng dẫn học sinh học tự học theo môđun đã thiết
kế, có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên dạy học Vật lí THPT, sinh viên các
trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc biên soạn tài liệu và tổ chức
hướng dẫn học sinh tự học theo môđun
Chương 2. Biên soạn tài liệu, tổ chức hướng dẫn học sinh tự học theo môđun
trong dạy học chương “Sóng ánh sáng” Vật lí 12
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BIÊN SOẠN TÀI LIỆU
VÀ TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC THEO MÔĐUN
1.1. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn mới
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỉ của trí tuệ sáng tạo. Đất nước ta
đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Viễn cảnh sôi động, tươi đẹp,
nhưng cũng có nhiều thách thức đòi hỏi ngành Giáo dục có những đổi mới căn bản,
mạnh mẽ, vươn tới ngang tầm với sự phát triển chung của thế giới và khu vực.
Với chiến lược phát triển giáo dục "Tự học, tự đào tạo là một con đường phát
triển suốt đời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay và
cả mai sau”. Chất lượng giáo dục(GD) được nâng cao khi quá trình dạy học khơi dậy
được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá
trình tự giáo dục. Qui mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học,
tự đào tạo, mang lại chất lượng đích thực và phát triển tài năng của mỗi người.
Hiện nay, trong hệ thống PP dạy học đang nổi lên các PP dạy học lấy học sinh
− Tác giả Nguyễn Kỳ ở tạp chí nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn về
khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức
kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào
tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề,
thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một định nghĩa riêng về tự học, nhưng tất cả
đều có chung một quan điểm: Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm
lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…và kinh ngiệm lịch sử của xã hội loài người nói
chung và của chính bản thân người học nói riêng. Trong quá trình đó, người học là
chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ
bắp cùng các phm chất của mình để tiến hành hoạt động nhận thức.
1.2.2. Vai trò của tự học
− Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người,
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập.
− Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người. Bởi vì tự học giúp cho
con người giải quyết mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh
khó khăn của cuộc sống cá nhân.
7
− Tự học khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có
hạn. Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết
kiến thức cho trò, trò phải học cách học và tự học, để không bị rơi vào tình trạng
“tụt hậu”. Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa
khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường.
− Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người. Quá trình tự
học khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt. Quá trình tự học
diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức. Kiến thức có được do tự học là
kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền
lâu. Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn.
− Tự học của học sinh THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới
giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông. Vì vậy, tự học
giá được kết quả học tập của mình.
• Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây
dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách
tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên
máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và
không biết hỏi ai.
• Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp:
Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định. Song nếu HS vẫn sử dụng SGK
như hiện nay thì các em cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng
dẫn về phương pháp học.
Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên thấy rằng mỗi hình thức TH có
những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định. Để nhằm khắc phục được những
nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS chúng tôi
đề xuất một hình thức tự học mới: tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ
trực tiếp một phần của GV gọi tắt là "tự học có hướng dẫn".
1.2.4. Năng lực tự học
1.2.4.1. Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức
vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. [29]
1.2.4.2. Các cấp độ của năng lực tự học [29]
∗
9
∗ Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề.
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự
vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí
luận và hiểu biết đã có; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm
chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông,
khám phá, làm sáng tỏ,…
∗ Năng lực giải quyết vấn đề.
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định
và tạo ra sản phNm ban đầu hay sản phNm
thô có tính chất cá nhân.
Thời (2): Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến
thức hay sản phNm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua hợp tác, trao đổi, đối
thoại, giao tiếp với các bạn và thầy cô, tạo ra sản phNm có tính chất xã hội của cộng
đồng lớp học.
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy cô. Người
học sẽ nhận được kết luận từ thầy cô để từ đó kiểm tra, đánh giá sản phNm ban đầu
của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phNm khoa học (tri thức).
1.2.6. Chu trình dạy – tự học
Chu trình dạy – tự học là chu trình tổng hợp của chu trình tự học của trò và chu
trình dạy học của thầy (xem Sơ đồ 1.2).
* Đường tròn bên trong mô tả chu trình học của HS, tượng trưng cho nội lực –
năng lực tự học.
* Đường tròn ở giữa tượng trưng cho ngoại lực – tác động của thầy với các hoạt
động: Hướng dẫn; tổ chức; trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra.
* Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức người học cần chiếm lĩnh qua
từng thời: tri thức cá nhân; tri thức xã hội; tri thức khoa học.
(1) Thầy hướng dẫn, trò tự nghiên cứu để tự tìm ra tri thức có tính chất cá nhân.
(2) Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp tác với nhau để làm cho sản phNm ban
đầu của người học được khách quan hơn, tri thức có tính chất xã hội.
Sơ đồ 1-1. Chu trình tự học [18, tr.160](1) Tự nghiên
cứu
(2) Tự thể hiện
(3) Tự kiểm
(3)
Tự kiểm tra
Tự điều chỉnh
HƯỚNG
DẪN
TỔ
CHỨC
TRỌNG TÀI
CỐ VẤN
TRI THỨC
(CÁ NHÂN)
TRI THỨC
(XÃ HỘI)
TRI THỨC
(KHOA HỌC)
1
2
3
Sơ đồ 1-2. Chu trình dạy – tự học [18, Tr 164]
12
thành ngôn ngữ viết và được đưa vào tài liệu giáo khoa tự học của học sinh để họ
chấp hành, đây chính là mặt có “hướng dẫn” chủ yếu của tự học.
− Diễn giảng không còn giữ vai trò là nguồn thông tin xuất phát nữa mà trở
thành nguồn gây động cơ nhận thức khoa học.
− Tài liệu giáo khoa (giáo trình) được chia thành những học phần theo đơn vị
kiến thức biên soạn tiếp cận môđun. Học sinh phải chiếm lĩnh được đơn vị trước
− Tên gọi hay tiêu đề của môđun.
− Giới thiệu vị trí, tâm quan trọng và lợi ích của việc học theo môđun.
− Nêu rõ các kiến thức, kĩ năng cần có trước.
− Hệ thống mục tiêu của môđun.
− Test vào môđun.
∗ Thân môđun
Là bộ phận chủ yếu của môđun. Nó chứa đựng đầy đủ nội dung dạy học được
trình bày theo một cấu trúc rõ ràng kèm theo những hướng dẫn cần thiết về phương
pháp học tập giúp cho người học tự lực chiếm lĩnh được nội dung và hình thành được
phương pháp tự học. Thân môđun có thể gồm những tiểu môđun kế tiếp nhau.
Mỗi tiểu môđun gồm 3 phần:
− Phần mở đầu (giống hệ vào của môđun).
− Phần nội dung và phương pháp học tập.
− Test trung gian cho phép người học đánh giá được những mục tiêu nào của
tiểu môđun đã đạt và khi cần thiết có thể dẫn họ đến những môđun phụ đạo.
∗ Hệ ra
Hệ ra của môđun bao gồm:
− Một bản tổng kết chung.
− Một test kết thúc: Nhằm kiểm tra mục tiêu toàn bộ của môđun.
Hệ
Thân của
môđun
Hệ ra
Hình 1-1 Cấu trúc môđun dạy học
14
− Hệ thống chỉ dẫn: đến đơn vị phụ đạo, nếu người học không qua được phần
lớn các test kết thúc; hoặc vào đơn vị đào sâu thêm hiểu biết; hoặc gợi ý chọn
môđun tiếp theo nếu người học đã đạt tất cả các mục tiêu. (xem Hình 1.2).
1.3.1.3. Những đặc trưng cơ bản của môđun dạy học [15]
và làm giàu
hiểu biết
Mô đun
tiếp theo
Hình 1-2. Cấu trúc hệ ra của môđun
15
nhịp độ riêng, đi tới mục tiêu chung (có thể nhanh hoặc chậm và chi khi nào xong
môđun trước mới được phép học môđun tiếp theo).
− Môđun dạy học có tính độc lập tương đối xét về nội dung dạy học. Vì vậy, để
học một môđun người học phải có những điều kiện tiên quyết về kiến thức, kỹ
năng, thái độ. Học xong một môđun, người học có khả năng ứng dụng những điều
đã học vào môi trường đó.
− Môđun dạy học có nhiều cấp độ: môđun lớn, môđun thứ cấp, môđun nhỏ
(tiểu môđun).
1.3.1.4. Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun là tài liệu được biên soạn theo những
đặc trưng và cấu trúc của môđun. Tài liệu này bao gồm cả nội dung, cách xây dựng
(thu nhận) kiến thức và kiểm tra kết quả, giúp cho học sinh cách để tự chiếm lĩnh tri
thức, tự đánh giá được kết quả học tập. Tài liệu có thể được phân thành nhiều loại:
theo nội dung lí thuyết hoặc theo nội dung bài tập. [6]
∗ Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lý thuyết
Đây là một tài liệu vừa cung cấp nội dung kiến thức vừa hướng dẫn hoạt động
học tập, đồng thời hướng dẫn cả hoạt động kiểm tra, đánh giá kiến thức của HS.
∗ Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần bài tập
Đây là một tài liệu cung cấp nội dung kiến thức và hướng dẫn hoạt động học tập
của HS thông qua hệ thống bài tập, đồng thời hướng dẫn cả hoạt động kiểm tra, đánh
giá kiến thức của HS.
1.3.2. Nguyên tắc biên soạn tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun
Biên soạn tài liệu hướng dẫn học sinh tự học theo môđun về cơ bản phải xây
mỗi bài học. Giáo viên cũng căn cứ vào mục đích để theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra
đánh giá HS một cách cụ thể, chính xác.
1.3.2.2. Nội dung dạy học
Nội dung dạy học cần được trình bày chính xác, phản ánh được bản chất nội
dung khoa học cần nghiên cứu. Tuy nhiên nó phải phù hợp với đối tượng HS phổ
thông. Vì vậy, khi biên soạn nội dung dạy học trong mỗi môđun cần phải xem xét đối
tượng học sinh về các mặt: