Xây dựng và hướng dẫn khai thác, sử dụng tư liệu dạy học điện tử môn Hóa học lớp 11 nâng cao, Trung học phổ thông theo hướng dạy học tích cực - Pdf 25


v
MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN! i
DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ
TÀI 7
1.1. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay: 7
1.1.1. Phương hướng chung. 7
1.1.2. Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay 8
1.2. Phương tiện dạy học và đổi mới phương tiện dạy học hóa học THPT 19
1.2.1. Phương tiện dạy học hóa học 19
1.2.2. Sử dụng phương tiện dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực 21
1.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 26
1.4. Cơ sở lí luận về tư liệu điện tử (TLĐT) 28
1.4.1. Khái niệm tư liệu điện tử 28
1.4.2. Đặc điểm của tư liệu điện tử 29
1.4.3. Những ưu điểm và hạn chế của tư liệu điện tử 29
1.4.4. Sử dụng một số phần mềm để xây dựng tư liệu điện tử 30
1.5. Thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực có ứng dụng
CNTT trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông 31
1.5.1. Điều tra thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực có
ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông 31
1.5.2. Nhận xét về thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

vi

3.5.2. Đánh giá định lượng 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100 ii
DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

B – Bảng
CNTT – công nghệ thông tin
ĐC – đối chứng
GV – giáo viên
GQVĐ – giải quyết vấn đề
HA – hình ảnh
HS – học sinh
MP – mô phỏng
PPDH – phương pháp dạy học
PP – phương pháp
PTHH – phương trình hóa học
PT – phương trình
PS – phóng sự
SGK – sách giáo khoa
THPT – trung học phổ thông

THPT Dương Xá và THPT Yên Viên 92
Bảng 3.9: Bảng tổ ng hợ p cá c tham số đặ c trưng xử lí bằ ng phầ n mề m 92
Bảng 3.10. Bảng hệ số tương quan r
SB
93
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1. Trang chủ của tư liệu điện tử 42
Hình 2.2. Chương 8 : Dẫn xuất halogen – Ancol - Phenol 42
Hình 2.3. Chương 9 : Anđehit – xeton – Axit cacboxylic– Tư liệu điện tử 43
Hình 2.4. Bài 51: Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon– Tư liệu điện tử 43
Hình 2.5. Bài 51/ mục III- Tính chất hóa học/ 51.8. /+ Cơ chế SN1. 44
Hình 2.6. Tư liệu 51.8. /+ Cơ chế SN1. – Tư liệu điện tử 45
Hình 2.7. Tư liệu 55.5. Phenol tác dụng với dd NaOH- Tư liệu điện tử 46
Hình 2.8. Tư liệu 51.13. Chất CFC và sự phá hủy tầng Ôzon - Tư liệu điện tử 46
Hình 2.9. Tư liệu 51.1. Phản ứng Clo hóa Metan - Tư liệu điện tử 47
Hình 2.10. Tư liệu 51.5. Danh pháp thông thường - Tư liệu điện tử 48
Hình 2.11. Tư liệu 51.3. Dẫn xuất halogen không no - Tư liệu điện tử 48
Hình 2.12. Tư liệu 51.12. Nhựa PVC và môi trường - Tư liệu điện tử 49
Hình 2.13. Tư liệu Bài 52: Luyện tập dẫn xuất halogen - Tư liệu điện tử 50
Hình 2.14. Tư liệu A Hướng dẫn xây dựng tư liệu điện tử 50
Hình 2.15. Tư liệu B Hướng dẫn sử dụng tư liệu điện tử 51
Hình 2.16: Tư liệu 55.6. Phenol tác dụng với dung dịch Brom- Tư liệu điện tử 54
Hình 2.17: Tư liệu 54.1. Phản ứng của ancol etylic với Na - Tư liệu điện tử 56
Hình 2.18: Tư liệu 55.1: Phân biệt phenol và ancol thơm - Tư liệu điện tử 57
Hình 2.19: Tư liệu 51.9: Mô phỏng phản ứng thế Cl bằng nhóm OH- TLĐT 58

nghệ thông tin . Các sở GDĐT giao bộ phận chuyên trách về CNTT xây dựng kế
hoạch dạy, học và ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đo ạn 2011-2015. Bộ
GDĐT (Cục CNTT) hướng dẫn khung xây dựng kế hoạch. Dự án ứng dụng CNTT
cần xây dựng trên tinh thần hiệu quả, tiết kiệm, tránh trùng lặ p và cần có công nghệ
hiện đại song phù hợp với điều kiện thực tế.
Qua đó vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường phổ thông hiện
nay đang có những chuyển biến rõ rệt và đã cho những hiệu quả thiết thực trong đổi
mới phương pháp dạy học nói chung và môn hóa học nói riêng. Đối với giáo viên
phổ thông để ứng dụng CNTT vào dạy học, cần có một nguồn tài liệu dạy học

2
phong phú, chính xác và khoa học. Các nguồn tài liệu này có thể khai thác từ nhiều
nguồn khác nhau : Các đĩa CDROM phần mềm tư liệu dạy học trong và ngoài
nước, từ internet, từ trao đổi tư liệu sưu tầm của giáo viên…
Thực tế cho thấy, hầu hết việc ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên
còn mang tính tự phát, nên có rất nhiều tư liệu được xây dựng chưa phù hợp với nội
dung kiến thức, cũng như phương pháp dạy học.
Muốn có được tư liệu dạy học điện tử một cách hữu ích, người giáo viên bên
cạnh thời gian sưu tầm tư liệu còn phải bỏ nhiều thời gian cho việc lựa chọn tư liệu,
tìm hiểu tư liệu và cách khai thác và sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả.
Để GV phổ thông có một nguồn tư liệu dạy học điện tử Hoá học 11 nâng cao
phong phú, chính xác, khoa học, dễ dàng khai thác, sử dụng theo hướng mở, phù
hợp với mục tiêu, phương pháp dạy học và đối tượng học tập thì việc “Xây dựng và
hướng dẫn khai thác sử dụng tư liệu dạy học điện tử môn hóa học lớp 11 nâng
cao, trung học phổ thông theo hướng dạy học tích cực” là rất cần thiết, có ý nghĩa
cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông,
việc tự học qua mạng, qua hệ thống E-learning và các E-book đang được phổ biến
rộng rãi. Người học có thể học bất cứ lúc nào, bất kì ở đâu, với bất kì ai, học những

KHTN. Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thủy (2008). Sử dụng công nghệ thông tin để đánh giá và xây
dựng phần mềm kiểm tra hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan phần hóa học cơ
sở góp phần nâng cao năng lực tự kiểm tra đánh giá của học sinh chuyên hóa. Luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHGD-ĐHQGHN
- Hoàng Anh Tuấn (2010). Xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu điện tử môn
hoá học lớp 12 góp phần đổi mới phương pháp dạy học hoá học ở trường trung học
phổ thông, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường ĐHSPHN.

4
- Nguyễn Trí Ngẫn (2010). Thiết kế E-book hỗ trợ học sinh tự học phần kim
loại hóa học lớp 12 chương trình nâng cao, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại trường
ĐHSPTPHCM.
- Trịnh Lê Hồng Phương (2011). Xây dựng học liệu điện tử hỗ trợ dạy và học
phần cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học – chương trình
trung học phổ thông chuyên, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, trường
ĐHSPTPHCM.
Trên đây chúng tôi mới chỉ liệt kê tên đề tài của một số khoá luận tốt nghiệp
và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến ứng dụng CNTT trong
dạy và học hoá học, còn khá nhiều các khoá luận tốt nghiệp luận văn thạc sĩ khác
nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên các khoá luận, luận văn đều có ưu điểm chung
là góp phần nâng cao hiệu quả cho việc tự học, tự nghiên cứu kiến thức của học
sinh, cung cấp tư liệu cho GV và học sinh tham khảo để dạy học và tự học. Bên
cạnh những ưu điểm các đề tài nghiên cứu còn một số tồn tại sau:
- Một số website đòi hỏi phải truy cập Internet mới sử dụng được.
- Mộ t số tư liệ u trên cá c website mở chưa đượ c kiể m định chấ t lượ ng mộ t cá ch
chắ c chắ n từ nhữ ng tổ chứ c kiể m định có thẩ m quyề n.
- Các tư liệu điện tử còn chưa được đa dạng phong phú, chủ yếu dướ i dạng tư
liệu chưa có sự hướng dẫn sử dụng trong dạy học như thế nào cho có hiệu quả.
- Phần dẫn xuất hiđrocacbon là phần nội dung khó nên các đề tài chưa khai

Chương 9: An đehit – Xeton – Axitcacboxylic
Hoá học 11 nâng cao – Trung học phổ thông.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết (Phương pháp phân tích, tổng hợp,
lý luận, mô hình hoá, chuyên gia, sưu tầm tài liệu…).
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (dự giờ học tập và trao đổi kinh
nghiệm, phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm,…).
- Nhóm phương pháp toán học (phương pháp thống kê toán học trong nghiên
cứu khoa học giáo dục, ). 6
8. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một hệ thống tư liệu dạy học điện tử (dưới dạng Web)
phong phú , sắp xếp một cách khoa học và hướng dẫn khai thác sử dụng hệ thống
tư liệu dạy học điện tử theo hướng dạy học tích cực một cách cụ thể sẽ giúp cho
giáo viên sử dụng một cách dễ dàng thuận tiện, góp phần đổi mới phương pháp dạy
học hoá học ở trường phổ thông.
9. Đóng góp mới của đề tài.
9.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, vai
trò của CNTT và vấn đề sử dụng CNTT trong dạy học hóa học . Điểu tra phân tích
thực trạng việc sử dụng các ứng dụng của CNTT trong dạy học nói chung và môn
hóa học nói riêng ở một số trường THPT thuộc thành phố Hà Nội.
9.2. Xây dựng hệ thống các tư liệu hình ảnh ( tĩnh , động), movie thí
nghiệm, thí nghiệm mô phỏng thiết kế dưới dạng Single file Executable (exe) và
đề xuất cách sử dụng hệ thống tư liệu điện tử đó trong dạy học theo hướng dạy học
tích cực.
9.3. Thiết kế các hoạt động dạy học có sử dụng tư liệu điện tử theo phương
pháp dạy học tích cực cho 7 bài thuộ c chương 8,9 Hóa học 11 – Nâng cao và tiến
hành TNSP

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động
của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn
khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và nhanh
chóng hơn. Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh
tế - xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong
việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thệ hệ hiện
nay và mai sau.
Đổi mối giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên tạo nên
những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây
dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Nhà
trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó

8
chặt chẽ với nghiên cứu khoa học- công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ
truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận
thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục
từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển.
Vì vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát
triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới
giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn
những nhu cầu của sự phát triển đất nước.
Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm
các yêu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học,
phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương
pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù
hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học. Bởi vậy,
việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới phương pháp dạy học.
1.1.2. Những xu hướng dạy học hóa học hiện nay[12]
1.1.2.1. Dạy học hướng vào người học.

khiế u củ a từ ng cá nhân.
- Về kiể m tra đá nh giá : Giáo viên đánh giá một cách khách quan , học sinh tự
giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và tự
đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học
tập, chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu trước khi bước
vào một phần mới của chương trình. Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phát
triển kĩ năng tự đánh giá, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại
kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ
và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đời sống gia đình và cộng
đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tình
huống thực tế. Nội dung kiểm tra cần chú ý đến các mức độ: Tái hiện, vận dụng,
suy luận, sáng tạo kết hợp với các phương tiện kĩ thuật sẽ tạo điều kiện tăng nhịp độ

10
kiểm tra, giúp học sinh có thể thường xuyên tự kiểm tra, làm giảm nhẹ lao động
chấm bài của giáo viên.
- Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm
tòi, học sinh được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong
cuộc sống.
Như vậy việc dạy học hướng vào người học đã đặt người học vào vị trí trung
tâm của hoạt động dạy - học, xem cá nhân người học, với những phẩm chất và năng
lực riêng của mỗi người vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu
tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện thiết bị hiện
đại, để cho tiềm năng của mỗi học sinh được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả
vào việc xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội, đó
chính là cốt lõi tinh thần nhân văn trong dạy học hướng vào người học.
1.1.2.2. Dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học”.
- Bản chất của dạy học theo hướng “hoạt động hóa người học” là định hướng
người học đến việc giải quyết các vấn đề, dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích
cực của người học. Sử dụng phương tiện, kĩ thuật trong dạy học đặc biệt là công

nội dung, phương pháp, phương tiện và h́ ình thức tổ chức (tức là soạn giáo án theo
những yêu cầu mới, có chỉ rõ mục tiêu, nội dung, cách tổ chức và điều khiển họat
động của HS, chỉ rõ hệ thống họat động của HS ).
+ Ủy thác, tạo động cơ: Biến ý đồ của dạy học của GV thành nhiệm vụ học
tập tự nguyện, tự giác của HS .
+ Điều khiển: Điều khiển và tổ chức hoạt động của HS theo cá nhân hay
nhóm, kể cả điều khiển về mặt tâm lý, bao gồm sự động viên, trợ giúp, đánh giá.
+ Thể chế hoá: Biến những kiến thức riêng của từng HS thành tri thức khoa
học của xã hội mà HS cần tiếp thu, tạo điều kiện cho HS vận dụng tri thức thu được
để giải quyết một số vấn đề liên quan trong đời sống và sản xuất.
- Các biện pháp hoạt động hoá người học:
+ Khai thác nét đặc thù môn hoá học tạo ra các h́ nh thức hoạt động đa dạng
phong phú giúp HS chủ động tự chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng trong giê học như:
Tăng cường sử dụng TN hoá học, các phương tiện trực quan.

12
Trong giờ học cần sử dụng phối hợp nhiều h́ ình thức hoạt động của HS như :
TN, dự đoán lí thuyết, mô h́ ình hoá, giải thích, thảo luận nhóm giúp HS được
hoạt động tích cực chủ động.
+ Đổi mới hoạt động học tập của HS và tăng thời gian dành cho HS hoạt
động trong giờ học. Hoạt động của GV chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn, điều
khiển các hoạt động và tư duy của HS khi giải quyết các vấn đề học tập thông qua
các hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. GV cần động viên HS hoạt động nhiều
hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức thụ động. Việc tăng thời
gian hoạt động của HS có thể thực hiện bằng nhiều cách như:
Giảm thuyết tŕ ình của GV xuống dưới 40-50% thời gian của một tiết học ,
tăng đàm thoại giữa thầy và tṛ ò, trong đó ưu tiên sử dụng PP đàm thoại nêu vấn đề.
Tập luyện cho HS được thảo luận, tranh luận.
Khi HS nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp, GV cần đặt ra những câu hỏi tổng
hợp, HS phải so sánh, khái quát hóa, suy luận nhằm khắc sâu và vận dụng sáng tạo

phần mềm của nước ngoài phục vụ rất tốt cho việc dạy học hoá học ở trường phổ
thông như: phầm mềm xây dựng bài tập trắc nghiệm, TN ảo, biểu diễn cấu tạo
không gian của hợp chất hữu cơ, mô phỏng, đĩa CD, TN hoá học …
1.1.2.3. Phương pháp dạy học tích cực.[12]
Phương pháp dạy và học tích cực phát triển ở học sinh năng lực sáng tạo, năng
lực giải quyết vấn đề, do đó nó đề cao vai trò của học sinh: Học bằng hoạt động,
thông qua hoạt động của chính bản thân mình mà học sinh chiếm lĩnh kiến thức,
hình thành năng lực và phẩm chất đạo đức, còn giáo viên chủ yếu giữ vai trò người
tổ chức, hướng dẫn, giúp đ, tạo điều kiện tốt cho học sinh có thể thực hiện thành
công các hoạt động học tập. Có thể nêu ra các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp
dạy và học tích cực là:
- Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người
học trở thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết.
Khi giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình
huống, họ được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, được làm thí nghiệm, được

14
khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động
viên trình bày quan điểm riêng của người học. Qua đó, người học không những
chiếm lĩnh các kiến thức và kĩ năng mới mà còn làm chủ được cách thức xây dựng
kiến thức, do đó tính tự chủ và sáng tạo có cơ hội được rèn luyện.
- Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá
trình giáo dục. Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh phát
triển các năng lực mà họ có thể sử dụng trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường,
ở hiện tại cũng như trong tương lai.
- Những phương pháp dạy học có chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng,
phương pháp và thói quen tự học từ đó mà tạo cho học sinh sự hứng thú, lòng ham
muốn, khát khao học tập, khởi động lòng ham muốn vốn có trong mỗi học sinh để
giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển, xã hội tri thức.
- Những phương pháp dạy học chú trọng đến việc tăng cường học tập cá thể,

- GV đặt cho cả lớp một câu hỏi chính, HS lần lượt trả lời từng bộ phận của
câu hỏi đó. Người sau bổ sung cho người trước, cuối cùng GV chỉnh lí, kết luận về
kiến thức HS cần nắm vững.
- GV nêu ra câu hỏi chính, kèm theo những gợi ý nhằm tổ chức cho HS tranh
luận hoặc đặt ra những câu hỏi phụ cho nhau để giúp nhau giải đáp.
Nhìn chung phương pháp dạy học này thường được sử dụng nhiều vì qua các
câu hỏi, GV tìm hiểu được việc nắm và vận dụng kiến thức của HS, biết được điểm
yếu, điểm mạnh của HS để kịp thời có biện pháp điều chỉnh. Hơn nữa, nó đảm bảo
được hiệu quả giờ ôn tập, luyện tập.
c. Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề (PP phát hiện và GQVĐ) [13]
Khái niệm: Dạy học phát hiện và GQVĐ là quan điểm dạy học nhằm phát triển
năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. HS được đặt trong tình
huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc
giải quyết vấn đề giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức. Dạy
học phát hiện và GQVĐ là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức
của HS, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực
khác nhau của HS.

16
Cấu trúc của một bài học theo PP phát hiện và GQVĐ thường gồm 3 giai
đoạn và 10 bước :
Giai đoạn 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
+ Phát biểu vấn đề cần giải quyết
Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết
+ Lập kế hoạch giải quyết
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
Giai đoạn 3: Kết luận

Điều kiện thực hiện phương pháp này có hiệu quả khi:
- Có nội dung phù hợp.
- GV phải có trình độ và rất tích cực.
- HS tích cực và có năng lực.
- Nên tổ chức thực hiện phương pháp này theo nội dung phù hợp và không nhất
thiết cần thực hiện ở mức độ cao nhất mà cần phù hợp với năng lực của HS.
d. Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Là phương pháp dùng lời để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi
tiết dễ hiểu cho học sinh tiếp thu. Phương pháp này được sử dụng lâu đời nhất trong
lịch sử dạy học.
Trước một vấn đề hoàn toàn mới hay tóm tắt các kiến thức đã học, GV có thể
trình bày bài giảng với một khối lượng kiến thức lớn cho nhiều người cùng nghe,
đối với HS sẽ dễ hiểu vấn đề.
Tuy nhiên, đây là phương pháp độc thoại, HS bị rơi vào tình trạng thụ động,
phải cố gắng nghe để hiểu, để ghi nhớ.
Nhiệm vụ của GV khi diễn giảng là làm nổi bật những điểm cơ bản trong toàn
bộ bài giảng hoặc từng phần. Để đạt được hiệu quả cao trong giờ học, GV cần
chuẩn bị chu đáo:

18
- Nêu bật được những điểm cơ bản nhất, quan trọng nhất dưới dạng các vấn đề,
các câu hỏi, và giải quyết dần từng vấn đề.
- Hệ thống được các kiến thức cần nhớ, cần hiểu.
- Chỉ ra được các kiến thức HS thường hiểu sai hoặc nhầm lẫn.
Giáo viên thường sử dụng phương pháp này khi tiến hành tóm tắt các nội dung
kiến thức cần nhớ trong bài ôn tập, thể hiện mối liên hệ kiến thức trong một phần
hay toàn bộ chương trình.
e. Phương pháp dạy học theo nhóm
Phương pháp dạy học này được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực,
hướng vào HS và đạt hiệu quả cao. Trong đó thảo luận nhóm đóng vai trò chủ yếu

mỗi người sống và làm việc theo phân công hợp tác với tập thể cộng đồng.
Ngoài ra còn có một số phương pháp dạy học theo hướng tích cực như:
Phương pháp grap dạy học trong dạy học hoá học, phương pháp algorit dạy học
trong dạy học hoá học, dạy học theo hoạt động, …
1.2. Phƣơng tiện dạy học và đổi mới phƣơng tiện dạy học hóa học THPT
1.2.1. Phương tiện dạy học hóa học [12]
1.2.1.1. Khái niệm phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là tập hợp các đối tượng vật chất (sự vật, hiện tượng,
thiết bị và mô hình đại diện cho hiện thực khách quan) được GV sử dụng với tư
cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS. Nó là nguồn tri
thức phong phú sinh động, là phương tiện giúp cho HS lĩnh hội tri thức và rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo.
1.2.1.2. Các phương tiện dạy học trong dạy học hóa học

Phương tiện dạy học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường bao gồm 4 loại:
- Phương tiện trực quan.
- Các phương tiện kĩ thuật dạy học.
- Thí nghiệm nhà trường (gồm các thiết bị, dụng cụ phòng thí nghiệm, hóa chất,
kĩ thuật tiến hành các thí nghiệm trong nhà trường).
- Sách giáo khoa.
Ở phần này chỉ xét các phương tiện trực quan và các phương tiện kĩ thuật dạy học,
trong đó có các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông.
* Các loại phương tiện trực quan trong dạy học hóa học
+ Mẫu vật: vật thật, mẫu vật phân phát (mẫu các chất hóa học, kim loại, phi kim,
hợp kim, các loại dầu mỏ, tơ, lụa), các sản phẩm nhân tạo (cao su, tơ lụa, gốm sứ,

Trích đoạn Phương tiện dạy học hóa học Sử dụng phương tiện dạy học hóa họctheo hướng dạy học tích cực Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lựa chọn đối tượng thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status