ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
WX
ĐỖ VŨ HIỀN ANH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC MỸ VỚI VIỆC THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ -
GỢI Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI - 2009
HÀ NỘI - 2009
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ
DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 7
1.1. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH
CN hiện đại 7
1.1.1. Tính rủi ro của nghiê
n cứu triển khai 7
1.1.2. Phạm v
i lĩnh vực triển khai của cuộc cách mạng KHCN đại rộng
lớn và đa dạng 8
1.1.3. Nhu cầu kết cấu hạ tầng, trang thiết bị nghiê
n cứu KHCN phải có
trình độ kỹ thuật công nghệ cao và ngày càng mới mẻ 9
1.6.2. Chức năng của chính sách KHCN
18
1.7. Kết luận của chương 19
CHƯƠNG 2: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỸ 20
2.1. Đặc điểm
và nhiệm vụ chủ yếu của chính sách khoa học nghệ Mỹ 20
2.1.1. Giai đoạn trước thập kỷ 1990
20
2.1.2. Giai đoạn những năm 1990
22
2.1.3. Giai đoạn sau thập kỷ 1990
25
2.1.4. Đánh giá tổng quát về đặc điểm
và nhiệm vụ chính sách KHCN
qua các thời kỳ 31
2.2. Một vài nét khái quát về đặc điểm
chính sách KHCN trong ngân sách
của chính phủ liên bang Mỹ 32
2.2.1. Quy mô của chi cho R&
D trong ngân sách chính phủ liên bang và
trong GDP 32
2.2.2. Đặc điểm
khái quát nhà nước tài trợ cho R&D 34
2.3. Cơ chế tài trợ ngân sách cho R&D
34
2.3.1. Cơ chế xác định các ưu tiên của chính sách KHCN
35
2.3.2. Cơ chế tài trợ cho R & D t
rong chính sách khoa học và công nghệ 41
89
3.2. Một số gợi ý c
ho VN xuất phát từ kinh nghiệm Mỹ 92
3.2.1 Thực trạng tài trợ cho R&D của VN để thực h
iện chính sách
KHCN 92
3.2.2. Một vài gợi ý cho Việt Nam xuất phát từ ki
nh nghiệm Mỹ về việc
sử dụng ngân sách thực hiện chính sách KHCN 98
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC
103 iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu
Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
1 DOD
Department of Defense
Bộ quốc phòng
2 DHS
Department of Homeland
Security
Bộ an ninh nội địa
3 DOS
Department of State
Bảng 1.1
Tổng chi R&
D một số nước G7/OECD 12
Bảng 2.2
Chi toàn quốc cho R&D Mỹ, 1970 – 2007 33
Bảng 2.2
Nghĩa vụ hợp đồng l
iên bang về nghiên cứu trong lĩnh
vực khoa học
48
Bảng 2.3
Chi R&D trong khoa học và công nghệ ở đại học và cao
đẳng theo thời giá / giá cố định (Đơn vị: triệu đô la)
49 vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu Tên hình Trang
Hình 2.1
Cơ chế tài trợ cho R&D 36
- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 230 năm độc lập (1776 thoát khỏi thống trị của đề quốc Anh) ngày
nay Mỹ trở thành siêu cường quốc số một. Về mặt kinh tế Mỹ ở hàng đầu về khả
quốc gia và toàn cầu. Ngân sách nhà nước là một lĩnh vực then chốt được nhà
nước Mỹ sử dụng nhằm tạo ra và củng cố tiềm lực khoa học và công nghệ của
Mỹ. Kinh nghiệm của Mỹ trong lĩnh vực vận dụng ngân sách để thực hiện chính
sách KHCN rất phong phú và được nhiều nước nghiên cứu và vận dụng.
Việt Nam đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây
dựng xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Công cuộc này đang triển khai cả
về chiều rộng và chiều sâu. Theo dự kiến của Chính phủ Việt Nam cũng như dự
báo của nhiều cơ quan quốc tế và nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, chẳng
bao lâu nữa Việt Nam sẽ đứng vào hàng các nước công nghiệp hóa có trình độ
thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm trung bình (thấp) của thế giới. Sự phát
triển tiếp theo của Việt Nam
ngày càng phải chuyển dần từ chỗ dựa vào những
nhân tố phát triển theo chiều sâu ngày càng mở rộng hơn và trong tương lai sẽ
phải dựa vào sự phát triển theo chiều sâu là chủ yếu như những nước tiên tiến
trên thế giới. Việc nghiên cứu kinh nghiệm phong phú của Mỹ trong việc vận
dụng ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển KHCN thông qua việc
thực hiện chính sác
h KHCN là một việc cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý
thuyết và thực tiễn đối với nước ta. Chính vì vậy, để bước đầu nghiên cứu kinh
nghiệm Mỹ, tác giả lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ mang tên “Ngân sách nhà
nước Mỹ với việc thực hiện chính sách KHCN - gợi ý cho Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nội dụng của đề
tài luận văn ở những mức độ khác nhau. Ở đây xin điểm qua một vài công trình
tiêu biểu:
Công trình nghiên cứu của một tập thể tác giả do A. Dynkin và
L.Nochevkina đứng đầu mang tên “Khoa học và chính sách khoa học của nhà
nước: Lý luận và thực tiễn” (Science Policy: Theoretical and Practical Issues,
Moskva, 1998)[18] đã xem xét những vấn đề tác động của nhà nước đối với
công tác nghiên cứu và tr
trong các thời kỳ trước những năm
1990, dưới chính quyền Clinton và chính
quyền Bush (con) nhưng những nội dung này chưa đi sâu xem xét khía cạnh
khác nhau của sự vận dụng ngân sách nhà nước vào phát triển KHCN của Mỹ
như phương thức lựa chọn các ưu tiên KHCN và việc hiện thực hóa các ưu tiên
ấy trong phương hướng phát triển KHCN qua các dự án cụ thể, cơ chế cấp phát
nguồn tài chính dưới góc độ khác nhau trong thực tiễn Mỹ. Tuy nhiên công trình
này rất bổ ích đối với tác giả luận văn trong việc nhận định, đánh giá một các
h
khái quát xu hướng và đặc trưng cơ bản của chính sách phát triển KHCN của Mỹ
- 4 -
qua hai thời kỳ lịch sử khác nhau – trước và sau chiến tranh lạnh qua các đời
tổng thống Ronald Reagan và Bush (cha) nối tiếp theo là các đời tổng tống Bill
Clinton và George Bush (con).
Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí ở trong và
ngoài nước đề cập một cách cập nhật về sự phát triển KHCN của Mỹ mà trong
đó có đề cập trực tiếp hay gián tiếp đến sự đóng góp của ngân sách nhà nước
dưới những góc độ khác nhau. Xin nêu một số bà
i tiêu biểu sau: “Chiến lược,
chính sách về khoa học công nghệ của Mỹ để duy trì vị trí siêu cường” (2006);
“Năng lực cạnh tranh của Mỹ trong lĩnh vực khoa học công nghệ” (2008)[2];
các bài viết về điều chỉnh chính sách KHCN của Mỹ đăng trên tạp chí “Châu Mỹ
ngày nay” các số của năm 2001 và 2002[13].
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều có các nội dung liên quan
trực tiếp hay gián tiếp với các nội dung của đề tài luận văn dự định ở những mức
độ khá
c nhau chứ không tập trung xem xét riêng vấn đề ngân sách nhà nước và
vai trò của nó trong sự nghiệp KHCN phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội của
Mỹ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn trong việc xem xét chính sách KHCN và việc vận
dụng ngân sách nhà nước vào phát triển KHCN trong hoạt động nghiên cứu,
triển khai trong giai đoạn kể từ những năm 1990 đến nay. Chọn đầu những năm
1990 để làm mốc thời gian tập trung phân tích, nghiên cứu vì ở thời kỳ này,
chính sách KHCN và việc vận dụng chính sách nhà nước để phát triển KHCN có
những thay đổi trên nhiều mặt quan trọng (các thứ tự ưu tiên được sắp xếp lại,
vai trò của các chủ thể trên lĩnh vực nghiên cứu KHCN và triển khai có những
thay đổi quan trọng…)
- 6 -
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
kết hợp với phương pháp hệ thống, phân tích và so sánh, đối chiếu các tài liệu
khác nhau của cơ quan nhà nước chính thức Mỹ cũng như của các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước, kế thừa những điều phù hợp với nội dung luận văn
trong những tài liệu này để có cơ sở xây dựng luận văn theo quan điểm của
mình.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những cơ sở khoa học và thực tiến của việc sử dụng ngân
sách nhà nước thực hiện chính sách KHCN.
- Làm rõ ngân sách nước Mỹ với việc thực hiện chính sách KHCN.
- Khái quát những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn của Mỹ và những
gợi ý xuất phát từ những kinh nghiệm của Mỹ cho Việt Nam trong việc sử
dụng ngân sách phục vụ công tác nghiên cứu và triển khai (R&D) của Việt
Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các thống kê bổ sung và danh mục tài liệu tham
dự báo chính xác, tính bất trắc là một thực tế khách quan trước các công trình
nghiên cứu mới mẻ, sáng tạo về lý thuyết cũng như ứng dụng. Những công trình
nghiên cứu và triển khai càng phải huy động nhiều sức của, sức người thì rủi ro
ngày càng lớn, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà cuộc cách mạng KHCN
hiện đại đã và đang triển khai trên hầu khắp các lĩnh vực tri thức và ứng dụng
thực tế. Đã vậy những thà
nh tựu khoa học, công nghệ không phải bao giờ cũng
được hiện thực hóa nhanh và nhiều khi vì nhiều lý do khác nhau bị găm lại trong
- 8 -
một thời gian – đồng thời, không ít công trình nghiên cứu gặp rủi ro, không đạt
được mục tiêu mong đợi.
Thêm nữa, ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và sự
vận dụng thực tiễn và thương mại mau lẹ những thành tựu của chúng đã khiến
cho mối liên hệ giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai ngày
càng gắn bó chặt chẽ với nhau, chúng vừa là tiền đề vừa là điều kiện của nhau.
Chia sẻ rủi ro, bất trắc trong nghiên cứu khoa học, chế tạo thử nghiệm và ứng
dụng thực tiễn rộng rãi, trở thành một tất yếu khách quan giữa các chủ thể hoạt
động chính trong nền kinh tế hiện đại mà tiêu biểu là khu vực nhà nước, khu vực
kinh doanh và học thuật trong lĩnh vực R&D. Do vậy việc nhà nước tham gia
vào lĩnh vực R&D trở thành tất yếu và nhiều trường hợp đóng vai tr
ò động lực,
tiên phong tùy theo tầm mứcquan trọng của phương hướng nghiên cứu và triển
khai đối với sự phát triển của KHCN, của cạnh tranh hay an ninh quốc phòng.
1.1.2. Phạm vi lĩnh vực triển khai của cuộc cách mạng KHCN đại rộng lớn và đa
dạng
Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau đặc biệt là kể từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai đến nay, cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã tạo ra những
bước nhảy vọt trong hầu hết khắp các lĩnh vực tri thức khoa học và công nghệ từ
lý thuyết đến thực tiễn nhờ vậy loài người đã ngày càng chuyển mạnh từ nền văn
nghiên cứu ứng dụng và thương mại hoá các thành tựu của R&D.
1.2. Những giới hạn của lực lượng thị trường
Lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại đánh giá cao tác động của các lượng
thị trường đối với cạnh tranh vốn được xem là động lực của tiến bộ KHCN và
kinh tế. Tuy nhiên do những đặc điểm riêng của các lực lượng thị trường, chúng
cũng có những mặt giới hạn buộc nhà nước phải tham gia trong lĩnh vực R&D
để tháo tháo gỡ ách tắc.
- 10 -
1.2.1. Những khác biệt giữa thị trường và phát triển khoa học
Chỉ bằng lực lượng thị trường không thể khuyến khích thúc đẩy sự phát
triển tiến bộ của khoa học, công nghệ hiện đại.
Một mặt, mục tiêu hoạt động của các lực lượng thị trường là lợi nhuận và
hơn nữa là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận tối đa. Vậy mà như ở trên đã đề cập,
do tính chất của hoạt động R&D, các dự án, chương tr
ình của nó không phải bao
giờ cũng đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế, kịp thời. Đã thế rủi ro rất có thể xảy
ra. Mặt khác, mục tiêu của các lực lượng thị trường không phải bao giờ cũng
đồng nhất với mục tiêu phát triển tự thân của khoa học và công nghệ, đặc biệt
những công trình nghiên cứu lý thuyết cơ bản về khoa học và công nghệ nhiều
khi phải thực hiện trong thời gian dài mà kết quả mong muốn không thể đảm bảo
đạt được trong ngắn hạn. Trong khi đó, những thành tựu của khoa học hiện đại là
cơ sở lý thuyết và thực tiễn không thể thiếu của sự hình thành và phát triển của
các ngành sản xuất (vật thể và phi vật thể) mũi nhọn.
Phân tán là một đặc trưng khác của lực lượng thị trường và điều này khiến
không một thà
nh phần nào của thị trường đứng riêng rẽ có thể tự mình thoả mãn
được mọi yêu cầu cần thiết về nhân lực, tài lực, vật lực đối với hoạt động R&D
đồng bộ trên tất cả các hướng, dù cho chỉ là những hướng chủ yếu của tiến bộ
KHCN hiện đại.
lực quốc gia
Hầu như tất cả các nước, đặc biệt là những nước phát triển và những nước
mới nổi lên đã duy trì và hoặc tăng thêm chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu trên
qui mô lớn. Từ khoảng 1 – 2,62% GDP (2005) (Bảng 1.1) đặc biệt là Mỹ theo
tạp chí Quốc phòng của chính phủ Pháp năm 1998 đã thực hiện chiến lược công
nghệ chủ quyền quốc gia và được các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau từ thời
B.Clintơn (sau c
hiến tranh lạnh) theo đuổi nhằm đạt được và duy trì thế mạnh,
sự chi phối của Mỹ trong các lĩnh vực công nghệ then chốt của tiến bộ KHCN,
kinh tế cũng như quốc phòng, an ninh quốc gia như công nghệ điện tử, thông tin
- 12 -
và truyền thông, công nghệ hạt nhân, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu…)
Bảng 1.1. Tổng chi R&D một số nước G7/OECD
(%GDP, 1970 - 2006)
Năm
Tổng chi R&D R&D ngoài quốc phòng
Mỹ Nhật Đức Pháp Anh Italia Canada Nga OECD
1990 2.62
2.81 2.61
2.33
2.15
1.25
1.51 2.03
2002 2.64
3.18 2.49
2.23
1.83
1.13
2.04 1.25
2.24
2003 2.63
3.20 2.52
2.17
1.79
1.11
2.01 1.28
2.25
2004 2.56
-
-
-
1.95 -
-
Nguồn: Quỹ Khoa học Quốc gia, Tình hình Quốc gia về các nguồn lực R&D, báo cáo thường niên 2009.
1.3.2. Cạnh tranh ở các cấp độ ngày càng trở nên quyết liệt
Sự tập trung hơn của các nước lớn phát triển kinh tế trong nước, giai đoạn
mới của cách mạng KHCN và những vấn đề xã hội ở trong nước kể từ sau chiến
tranh lạnh đã bộc lộ ngày càng sâu sắc… đã thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường
trong nước lên cấp độ mới.
Toàn cầu hoá gắn liền với sự phổ biến rộng khắp kinh tế thị trường hiện đại
khiến cho các nước kinh tế có tr
ình độ mở cửa ngày càng cao. Mỹ vốn có một
nền kinh tế nội địa là chính đã trở thành nền kinh tế toàn cầu hoá ở trình độ cao
hàng đầu: kim ngạch ngoại hướng lên đến giành 29% GDP năm 2007, vượt qua
mức kỷ lục đầu tiên lịch sử Mỹ là 25% năm 2005, thiếu hụt ngoại thương lên đến
mức cao và thập kỷ đầu thế kỷ 21 không ngừng tăng từ t
rên 37 tỷ / năm 2000 lên
đến trên 700 tỷ đô la năm 2007; số người làm việc trong những ngành xuất khẩu
lên đến trên 57 triệu người tức là trên 42% tổng số người làm việc trong nước.
Tư bản nước ngoài trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho
tăng trưởng kinh tế Mỹ từ thập kỷ 1990 đến nay, đầu tư trực tiếp của nước ngoà
i
những năm chiến tranh lạnh. Sau chiến tranh lạnh, vai trò cơ sở thiết yếu này của
nó càng trở nên quan trọng hơn nhiều do tác động của cuộc cách mạng KHCN
mới mà cách mạng công nghệ thông in truyền thông là then chốt. Hầu như tất cả
các quốc
gia hàng đầu thế giới đều tiến hành đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật của
lĩnh vực quân sự, các thủ đoạn thực hiện chiến tranh, cố gắng khai thác các thành
tựu KHCN ưu tiên cho mục tiêu kinh tế nhưng cũng tìm cách phục vụ thích hợp
- 14 -
cho nhu cầu quân sự và an ninh. Chiến lược công nghệ chủ quyền của Mỹ đã
được đề cập ở trên, chiến lược xây dựng tiềm lực khoa học kỹ thuật của Nga, của
Trung quốc, của Tây Âu… là những minh chứng điển hình.
1.4. Những yêu cầu của nền kinh tế rất hiện đại đã hình thành
1.4.1. Chuyển đổi mô hình phát triển
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay nền sản xuất hiện đại ngày
càng dựa trên nền tảng tiến bộ khoa học kỹ thuật không ngừng, đặc biệt là kể từ
những năm 1970 trở đi, khi hầu như tất cả các nước đều chuyển đổi từ mô hình
phát triển theo chiều rộng là chính sang mô hình phát triển theo chiều sâu là
chính và từ những năm 1990trở đi chính mô hình phát triển theo chiều sâu này
lại chuyển sang mô hình phát triển kinh tế tri thức đang triển khai ngày càng sâu
rộng hơn. Hoa Kỳ là nước tiên phong trong xu hướng chuyển đổi này và nhờ vậy
đã đạt được những thành tựu quan trọng khiến cho ta có thể khẳng định được
nền sản xuất hiện đại của Hoa kỳ cũng như toàn bộ nền kinh tế Hoa kỳ đã đặt
trên đường ray KHCN hiện đại. KHCN và sản xuất gắn liền với nha
u thành một
thể thống nhất, vừa là điều kiện tiền đề tất yếu vừa là cái thể hiện thực tế của
nhau. Những phương hướng chủ yếu của những thay đổi kết cấu và xu thế nâng
cao hiệu quả trong nền kinh tế Mỹ trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 và vẫn
tiếp diễn ở trình độ cao hơn trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 đồng thời vẫn có
ảnh hưởng ngày càng mạnh đối với nhịp độ phát triển cũng như chất lượng tăng
tạo cán bộ trong khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong những công ty lớn
phát triển nhanh trong thế kỷ 20.
1.5.1.1. Nguồn tài chính khổng lồ chi cho giáo dục
Chi tiêu của nhà nước (cấp liên bang, các bang và địa phương) và của tư
nhân cho giáo dục (không kể chi đào tạo những người lớn tuổi / đào tạo nghề
tách khỏi sản xuất) chỉ trong 2 thập kỷ cuối thế kỷ 20 đã tăng 70% và năm 2007
- 16 -
lên đến 972 tỷ (trên 7,2%GDP). Nếu kể cả đào tạo những người lớn tuổi trong
khuôn khổ nhiều chương trình khác nhau, kể cả các chương trình đào tạo và đào
tạo lại (cho những người thất nghiệp và đào tạo tại nơi làm việc) thì tổng số chi
cho giáo dục của Mỹ lên tới trên dưới 1100 tỷ đô la/năm (gần 8% GDP) [32, tr.
149, 131].
1.5.1.2. Đội ngũ cán bộ giáo dục đông đảo và được đào tạo tốt, vừa đào tạo nguồn
nhân lực vừa tiến hành R&D
Năm 2007 Mỹ có 3,5 triệu giáo viên trung học, 1,3 triệu giáo viên đại học
cao đẳng (720 ngàn trong các trường quốc lập 290 ngàn trong các trường tư).
Ngoài ra còn có trên 1 triệu người làm công tác liên quan đến giảng dạy gồm các
chuyên gia giáo dục trong các công ty công nghiệp, trong lĩnh vực quân sự, các
nhà tư vấn và giáo viên ở các viện bảo tàng, các thư viện và đông đảo những
người làm công tác quarn trị trong hệ thống giáo dục.
1.5.1.3. Các trường đại học cao đẳng là một trong những khâu trung tâm và
quan trọng nhất của nền giáo dục Mỹ
Năm 2005 ở Mỹ có 4.300 trường đại học cao đẳng trong đó có 1.800 là công lập
và 2.450 ngàn tư thục, đặc biệt là 235 trường đại học nghiên cứu (công và tư).
Những trường đại học nghiên cứu là hạt nhân của hệ thống giáo dục đại học cao
đẳng của Mỹ. Chúng là những trung tâm chủ yếu tiến hành nghiên cứu khoa học
cơ bản và đào tạo chuyên gia và các cán bộ khoa học trình độ cao và các cán bộ
khoa học trình độ cao đào tạo 2,8 triệu sinh viê
n (chiếm 19% tổng số), chúng sử
1.6.1. Nhận thức của xã hội và giới tinh hoa
Các giới xã hội và giới tinh hoa cầm quyền ở Mỹ đều đồng thuận với việc
nhà nước đảm nhận vai trò có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng tiềm lực
KHCN của đất nước vì tiến bộ kinh tế.