Các tổ chức hỗ trợ xúc tiến thương mại với vai trò đẩy mạnh xuất khẩu của Việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI
VỚI VAI TRÒ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 5.02.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN XUÂN THẮNG

Hà Nội - 2005

3
MỤC LỤC

Lời mở đầu Trang

Chương 1. Xúc tiến thương mại, tổ chức hỗ trợ xúc tiến thương mại
và vai trò của nó trong đẩy mạnh xuất khẩu


ở Việt Nam 57
2.1.2.1. Cơ quan xúc tiến thƣơng mại thuộc các Bộ 58
2.1.2.2. Các tổ chức xúc tiến thƣơng mại địa phƣơng 61

4
2.1.2.3. Các hiệp hội ngành hàng 63
2.1.2.4. Các tổ chức phi Chính phủ khác 65
2.2. Hoạt động của các tổ chức hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại Việt Nam 68
2.2.1. Cơ quan xúc tiến thƣơng mại thuộc các Bộ 68
2.2.2. Các tổ chức xúc tiến thƣơng mại địa phƣơng 78
2.2.3. Các hiệp hội ngành hàng 81
2.2.4. Các tổ chức phi Chính phủ khác 89
2.3. Đánh giá vai trò của xúc tiến thƣơng mại trong thúc đẩy xuất khẩu
của Việt Nam nhìn từ góc độ hoạt động của các tổ chức hỗ trợ xúc tiến
thƣơng mại 92
2.3.1. Điểm mạnh 93
2.3.2. Điểm yếu 102

Chương 3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức
Hỗ trợ xúc tiến thương mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam

3.1. Bối cảnh quốc tế, khu vực và Việt Nam với vấn đề xác định phƣơng
hƣớng xúc tiến thƣơn mại ở Việt Nam 112
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức hỗ
trợ xúc tiến thƣơng mại của Việt Nam 114
3.2.1. Ở cấp độ vĩ mô 115
3.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật 115
3.2.1.2. Hình thành tổ chức hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại mạnh và mạng
lƣới hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại thống nhất 118
3.2.1.3. Nhà nƣớc có chính sách đào tạo về xúc tiến thƣơng mại cho

- UBND: Uỷ ban nhân dân.
- XTTM: Xúc tiến thƣơng mại.
2. TIẾNG ANH
- ASEAN (Association of South East Asia Nations): Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á.
- DEP (Department of Export Promotion of Thailand): Cục Xúc tiến Xuất
khẩu Thái Lan.
- ECVN (Electronic Commerce of Vietnam): Cổng thƣơng mại điện tử quốc
gia Việt Nam.
- ITPC (Investment and Trade Promotion Center of Ho Chi Minh city): Trung
tâm Xúc tiến thƣơng mại và đầu tƣ thành phố Hồ Chí Minh.
- MATRADE (Malaysia External Trade Development Corporation): Cơ quan
xúc tiến thƣơng mại Malaysia.
- NGO (non-govermental organisation): Tổ chức phi Chính phủ.
- TPO (Trade Promotion Organisation): Tổ chức hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại.
- VCCI (Vietnam chamber of commerce and industry): Phòng Thƣơng mại và
Công nghiệp Việt Nam.
- WTO (World Trade Organisation): Tổ chức thƣơng mại thế giới. 7
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra nhanh chóng
đòi hỏi mỗi quốc gia phải kịp thời hoà vào xu thế chung. Với việc hội nhập
kinh tế khu vực và đẩy nhanh đàm phán gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới
(WTO), Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy kinh tế thế giới. Trong
điều kiện đó, hoạt động xúc tiến thƣơng mại (XTTM) ngày càng có ý nghĩa
quan trọng đối với nền kinh tế để mở rộng thị trƣờng, đẩy mạnh xuất khẩu và
thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là đối với Việt Nam, một nƣớc

2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, vẫn còn ít các công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò
công tác xúc tiến thƣơng mại trong đẩy mạnh xuất khẩu ở Việt Nam. Tác giả
Nguyễn Thị Xuân Hƣơng trong luận án tiến sĩ “Xúc tiến bán hàng trong kinh
doanh thương mại ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn” nghiên
cứu xúc tiến thƣơng mại ở phạm vi hẹp là xúc tiến bán hàng, là các hoạt động
nhằm tìm kiếm và thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ
thƣơng mại. Luận án tiến sĩ “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc
tiến thương mại quốc tế của Việt Nam” của tác giả Phạm Thu Hƣơng - đã
phân tích hoạt động xúc tiến thƣơng mại, nghiên cứu mô hình một số tổ chức
hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại và trên cơ sở đó đƣa ra một số giải pháp thúc đẩy
hoạt động xúc tiến quốc tế. Tiến sĩ Mikec - Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Liên hiệp
quốc khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP), trong ấn phẩm “Xúc tiến
Thương mại” trình bày tổng quan về xúc tiến thƣơng mại gắn liền với các xu
hƣớng thƣơng mại hiện nay, từ đó đề ra các cách tiếp cận thị trƣờng toàn cầu
để trở thành công ty kinh doanh quốc tế. Các công trình trên nghiên cứu

9
XTTM dƣới nhiều góc độ khác nhau, chƣa đề tài nào tập trung trình bày một
cách có hệ thống vai trò của các TPO để đẩy mạnh xuất khẩu trong điều kiện
đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài này để tìm hiểu, đánh giá vai trò
của các TPO trong việc thực hiện các hoạt động xúc tiến thƣơng mại để mạnh
xuất khẩu, dự báo định hƣớng và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh, đổi
mới hoạt động của các TPO trong thời gian tới.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống những lí luận cơ bản, mục đích nghiên cứu đề tài là
đánh giá vai trò của xúc tiến thƣơng mại trong đẩy mạnh xuất khẩu của Việt
Nam thông qua nghiên cứu hoạt động hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại của các TPO
và từ đó, ngƣời viết đƣa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát triển hoạt

7. Bố cục luận văn
Với lý do lựa chọn và mục đích nghiên cứu nhƣ trên, đề tài này có bố
cục gồm 3 chƣơng:
- Chƣơng 1 giới thiệu chung về xúc tiến thƣơng mại, các tổ chức hỗ trợ
xúc tiến thƣơng mại và vai trò của nó đối với xuất khẩu.
- Chƣơng 2 trình bày thực trạng hoạt động XTTM của các tổ chức hỗ
trợ xúc tiến thƣơng mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Chƣơng 3 đƣa ra định hƣớng và giải pháp để thúc đẩy hoạt động của
các tổ chức hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu.

11
CHƢƠNG 1
XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI,
TỔ CHỨC HỖ TRỢ XÚC TIẾN THƢƠNG MẠI VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

1.1. Các khái niệm
1.1.1 Xúc tiến thƣơng mại và các khái niệm có liên quan
Theo cách hiểu truyền thống, xúc tiến thƣơng mại (XTTM) là hoạt
động trao đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa bên bán và bên mua, hoặc qua
khâu trung gian nhằm tác động tới thái độ và hành vi mua bán, qua đó thúc
đẩy việc mua bán và trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Theo định nghĩa này,
XTTM bao gồm các hoạt động trực tiếp thúc đẩy việc bán hàng, tiêu thụ hàng
hoá bao gồm các hoạt động cụ thể nhƣ: thông tin thƣơng mại, tuyên tuyền
xuất khẩu, quảng cáo và khuyến mại hàng hoá và dịch vụ; tổ chức và tham gia
các đoàn khảo sát thị trƣờng nƣớc ngoài; tổ chức và tham gia hội chợ triển
lãm trong và ngoài nƣớc; đại diện thƣơng mại ở nƣớc ngoài. Các hoạt động
này có phạm vi rất rộng nhƣng theo định nghĩa của XTTM truyền thống thì
nội dung của chúng chỉ bó hẹp trong phạm vi hỗ trợ cho khâu cuối cùng của
quá trình sản xuất.

xuất kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá.
Để có thông tin, các chủ thể tham gia vào XTTM thƣờng sử dụng
nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣ thông qua ấn phẩm, các phƣơng tiện thông
tin đại chúng, internet, qua các cơ quan đại diện ở nƣớc ngoài v.v Đặc biệt,
đối với thông tin về thị trƣờng nƣớc ngoài, ngƣời ta thƣờng tiến hành nghiên

13
cứu thị trƣờng. Nghiên cứu thị trƣờng, nói một cách đơn giản nhất, là tập hợp
thông tin hữu ích để tạo ra đƣợc những quyết định đúng đắn về marketing
xuất khẩu. Nghiên cứu thị trƣờng cung cấp một bức tranh chính xác về các
nhân tố kinh tế, chính trị và văn hoá, làm căn cứ để quyết định cách thức hoạt
động trong thị trƣờng mục tiêu. Một nghiên cứu thị trƣờng điển hình có ba
giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là nghiên cứu tổng quan về thị trƣờng
tiềm năng bao gồm: thu thập các số liệu thống kê về xuất khẩu sản phẩm
thuộc riêng lĩnh vực công ty sang các nƣớc khác nhau; xác định một số thị
trƣờng lớn và phát triển nhanh nhất cho sản phẩm của công ty; lựa chọn một
số thị trƣờng nhỏ hơn đang phát triển hoặc đang nổi lên có thể tạo ra những
cơ hội cơ bản cho sản phẩm của công ty; chọn từ 3 đến 5 trong số các thị
trƣờng hứa hẹn nhất làm mục tiêu nghiên cứu sâu thêm. Giai đoạn thứ hai là
đánh giá các thị trƣờng mục tiêu: xem xét các xu hƣớng có thể ảnh hƣởng đến
nhu cầu đối với sản phẩm của công ty; nghiên cứu tình hình cạnh tranh; phân
tích các nhân tố ảnh hƣởng đến việc tiếp thị và sử dụng sản phẩm tại từng thị
trƣờng; xác định các rào cản ở nƣớc ngoài (những rào cản thuế và phi thuế)
đối với sản phẩm nhập khẩu, cũng nhƣ những rào cản trong nƣớc có ảnh
hƣởng đến xuất khẩu vào thị trƣờng mục tiêu; tìm những biện pháp khuyến
khích XTTM liên quan đến sản phẩm đƣợc lựa chọn hoặc thị trƣờng mục tiêu.
Giai đoạn thứ ba, sau khi phân tích các dữ liệu, có thể quyết định rằng các
nguồn lực thị trƣờng của công ty sẽ đƣợc sử dụng hiệu quả hơn tại một vài
nƣớc.
Sau khi tiến hành nghiên cứu thị trƣờng, các chủ thể nghiên cứu thị

hàng, kích thích họ tự tìm hiểu sản phẩm thúc đẩy hành vi mua hàng. Quảng
cáo loại này có tác dụng nhắc nhở, lặp lại qua hình ảnh hàng hoá.

15
Quảng cáo là một hình thức XTTM truyền thống, là phƣơng tiện để
thúc đẩy bán hàng, phƣơng tiện để tích luỹ tài sản vô hình - sự quan tâm của
khách hàng tiềm năng và là phƣơng tiện để nắm phản ứng của khách hàng.
 Khuyến mại
“Khuyến mại là hành vi thƣơng mại của thƣơng nhân nhằm xúc tiến
việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thƣơng nhân
bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng” (Luật Thƣơng mại
Việt Nam 1997, mục 12, điều 180). Khuyến mại có nhiều hình thức khác
nhau nhƣ giảm giá hàng bán trong một thời gian ngắn để kích thích lƣợng
mua hoặc phân phát mẫu hàng miễn phí cho ngƣời tiêu dùng để tìm kiếm
những khách hàng tiềm năng. Tặng phiếu mua hàng, trả lại một phần tiền,
phần thƣởng, tặng vật phẩm mang biểu tƣợng quảng cáo hay tổ chức thi cá
cƣợc, trò chơi cũng là những hình thức khuyến mại hữu hiệu để khuyến khích
ngƣời tiêu dùng mua nhiều hàng hơn. Ngoài ra, để giữ đƣợc khách hàng trung
thành của mình, doanh nghiệp còn dùng hình thức khuyến mại tặng phần
thƣởng cho khách hàng thƣờng xuyên.
Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thƣơng mại nhằm bổ sung cho quảng
cáo, kích thích khách hàng tìm tới hành vi mua sắm. Khuyến mại thƣờng có
tác dụng trong thời gian ngắn, nhanh chóng đem lại mức tiêu thụ cao hơn so
với quảng cáo. Tuy nhiên, tác động của khuyến mại là tạm thời và sau hoạt
động khuyến mại khách hàng nhanh chóng quay trở lại trạng thái bình
thƣờng. Do vậy, chi phí khuyến mại thƣờng nhỏ hơn rất nhiều so với quảng
cáo.
 Hội chợ triển lãm trong và ngoài nƣớc
Triển lãm là hoạt động xúc tiến thƣơng mại thông qua việc trƣng bày
hàng hoá, tài liệu về hàng hoá để giới thiệu, quảng cáo nhằm mở rộng thúc

Đại diện thƣơng mại có thể là văn phòng hoặc trung tâm thƣơng mại,
trung tâm giới thiệu sản phẩm. Văn phòng đại diện/Chi nhánh là đơn vị phụ
thuộc của thƣơng nhân đƣợc thành lập ở trong nƣớc, ở nƣớc ngoài để XTTM
hoặc xúc tiến du lịch, nhƣng không đƣợc hoạt động thƣơng mại hoặc kinh
doanh sinh lợi trực tiếp. (Điều 2, Nghị định số 48/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999
của Chính phủ).
Một doanh nghiệp có thể thành lập một hoặc nhiều Văn phòng đại diện,
Chi nhánh ở trong nƣớc và ở nƣớc ngoài. Đại diện thƣơng mại tạo thuận lợi
cho thƣơng nhân tiếp cận thị trƣờng, thích ứng với thay đổi nhanh chóng về
thị hiếu ở thị trƣờng sở tại và hỗ trợ cho công tác XTTM, xúc tiến bán hàng
hiệu quả hơn. Tuy nhiên, đại diện thƣơng mại thƣờng chiếm một khoản đầu tƣ
lớn và quay vòng vốn chậm. Nếu hoạt động không hiệu quả thì thƣơng nhân
khó thu hồi vốn. Vì vậy, trƣớc khi mở văn phòng đại diện hoặc chi nhánh,
thƣơng nhân phải nghiên cứu kỹ nhu cầu và lợi ích của việc lập văn phòng,
chi nhánh.
Trung tâm XTTM/giới thiệu sản phẩm là trung tâm trƣng bày các
chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp, ngành hàng hoặc của cả nƣớc. Tuỳ
theo quy định của mỗi nƣớc, Trung tâm giới thiệu sản phẩm bao gồm nhiều
khu vực: khu vực trƣng bày sản phẩm, văn phòng của đại diện các doanh
nghiệp và trung tâm tƣ vấn doanh nghiệp.
 Xây dựng và quảng bá thƣơng hiệu
Thƣơng hiệu là một thuật ngữ đƣợc dùng phổ biến trong marketing
gồm tập hợp các dấu hiệu để phân biệt hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp
với hàng hoá và dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác hoặc để phân biệt
chính doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Nhƣ vậy, thƣơng hiệu là một
khái niệm có nội hàm rộng. Nó là hình ảnh về hàng hóa và doanh nghiệp

18
trong tâm trí ngƣời tiêu dùng, tức là tất cả yếu tố liên quan đến hàng hoá và
doanh nghiệp.

thƣơng hiệu hàng hoá đƣợc nhiều ngƣời biết đến, doanh nghiệp có nhiều cơ
hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trƣờng hơn. Thậm chí hàng hóa có thƣơng
hiệu nổi tiếng có thể bán với giá cao hơn các hàng hoá cùng loại mang thƣơng
hiệu khác.
- Uy tín cao của thƣơng hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối
với sản phẩm, mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp việc triển
khai khuyếch trƣơng nhãn hiệu dễ dàng hơn đồng thời giảm chi phí tiếp thị,
giúp doanh nghiệp có điều kiện cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
- Thƣơng hiệu của ngƣời bán khi đã đăng ký bao hàm sự bảo hộ của
pháp luật đối với những tính chất độc đáo, đặc trƣng của hàng hoá trƣớc
những sản phẩm bị đối thủ cạnh tranh “nhái” theo.
Nhƣ vậy, việc xây dựng và quảng bá thƣơng hiệu hàng hoá là hoạt
động XTTM bổ trợ tốt cho khâu phân phối và tiêu thụ hàng hoá, giúp hình
thành lớp khách hàng trung thành với sản phẩm của thƣơng nhân trong quá
trình đất nƣớc hội nhập kinh tế quốc tế.
 Xây dựng kho ngoại quan ở nƣớc ngoài
Khác với văn phòng đại diện hay chi nhánh, kho ngoại quan không cần
đến thuê văn phòng, trang thiết bị làm việc hay tổ chức nhân sự. Kho ngoại
quan chỉ cần nhân sự trông coi kho và liên hệ với mạng lƣới phân phối tại thị
trƣờng sở tại (nếu cần).

20
Kho ngoại quan là khu vực kho, bãi đƣợc lập trên lãnh thổ của một
nƣớc, ngăn cách với khu vực xung quanh để tạm lƣu giữ, bảo quản hoặc thực
hiện một số dịch vụ đối với hàng hoá từ nƣớc ngoài, hoặc từ trong nƣớc đƣa
vào theo hợp đồng thuê kho ngoại quan đƣợc ký giữa chủ kho và chủ hàng
dƣới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý (ở Việt Nam kho ngoại quan
chịu sự kiểm tra, giám sát của Hải quan).
Hàng hoá gửi để tạm lƣu giữ, bảo quản trong kho ngoại quan có thể là
hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu hoặc hàng chuyển tiếp đi các nƣớc khác.

hàng thẳng từ trên mạng, quản lý thông tin khách hàng, đơn đặt hàng bằng cơ
sở dữ liệu tự động trên mạng, xử lý thanh toán qua mạng bằng thẻ tín dụng,
v.v
Thƣơng mại điện tử đƣợc xem là một công cụ hỗ trợ xúc tiến thƣơng
mại truyền thống đắc lực với nhiều lợi thế vƣợt trội, thể hiện ở một số điểm
cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, thƣơng mại điện tử giúp quảng bá thông tin và tiếp thị trên
toàn cầu với chi phí thấp. Chỉ với một khoản chi phí nhỏ, vài chục USD, một
công ty có thể đƣa thông tin quảng cáo đến với vài trăm triệu ngƣời xem trên
thế giới, thấp hơn rất nhiều so với tuyên truyền, quảng cáo trên các phƣơng
tiện thông tin đại chúng khác.
Thứ hai, thƣơng mại điện tử tạo thuận lợi cho khách hàng dễ tiếp cận
với hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp. Qua website, doanh nghiệp có thể
cung cấp catalogue, tờ rơi giới thiệu, bảng chào giá cho khách hàng nhanh
chóng, tạo điều kiện cho khách hàng mua trực tiếp trên mạng, v.v Ngày nay,
chất lƣợng dịch vụ và thái độ phục vụ là những yếu tố quan trọng trong việc

22
tìm và giữ đối tác. Thƣơng mại điện tử đáp ứng đƣợc yêu cầu cung cấp thông
tin nhanh chóng và tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ ba, thƣơng mại điện tử giảm bớt các giới hạn về mặt địa lý, thời
gian làm việc. Doanh nghiệp không chỉ bán hàng trong nƣớc mà bán ở trên
toàn cầu. Bất cứ đối tác ở nƣớc nào cũng có thể nghiên cứu về sản phẩm và
đặt hàng qua internet. Từ đó, số lƣợng khách hàng tiềm năng cũng tăng lên
đáng kể.
Thứ tư, thƣơng mại điện tử giúp giảm chi phí hoạt động. Doanh nghiệp
không phải thuê nhiều mặt bằng, nhân viên phục vụ hay tiết kiệm chi phí in
ấn các tờ rơi giới thiệu, báo giá.
Ứng dụng thƣơng mại điện tử vào hoạt động XTTM nói riêng, hoạt
động thƣơng mại nói chung góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của

nhập khẩu và xúc tiến đầu tƣ để nhập khẩu nguyên vật liệu với giá rẻ hơn
hoặc chuyển dần hoạt động sản xuất sang các nƣớc đang phát triển.
Nhƣ vậy, xúc tiến xuất khẩu là một phần của hoạt động XTTM và có
vai trò rất quan trọng trong việc tăng thu ngoại tệ, sắp xếp sản xuất trong
nƣớc, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động.
1.1.3. Phát triển thƣơng mại
Trong bối cảnh tự do hoá thƣơng mại và toàn cầu hoá kinh tế, các nƣớc
đặc biệt là các nƣớc đang phát triển, để mở rộng, thâm nhập và giữ vững thị
trƣờng, các doanh nghiệp không thể chỉ tiến hành các hoạt động XTTM
truyền thống mà còn phải tạo ra đúng sản phẩm mà thị trƣờng có nhu cầu, bán
đúng kênh/khách hàng, bán đúng nơi, vào đúng thời điểm với giá cả hợp lý và
bằng các hình thức xúc tiến bán hàng phù hợp. Những hoạt động này đƣợc

24
gọi chung là hoạt động phát triển thƣơng mại. Nhƣ vậy hoạt động phát triển
thƣơng mại bao gồm các hoạt động phát triển thị trƣờng, phát triển sản phẩm
và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế. Xét về mặt thời gian, phát triển thị trƣờng
thƣờng là ngắn hạn hơn so với phát triển sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc tế. Ngoài các hoạt động XTTM truyền thống, phát triển thƣơng
mại còn bao gồm các hoạt động sau:
- Nghiên cứu và hỗ trợ nghiên cứu thị trƣờng và phát triển/cải tiến sản
phẩm (kể cả bao gói) nhằm tạo ra các sản phẩm đúng với yêu cầu của thị
trƣờng; xây dựng và quảng bá thƣơng hiệu.
- Các hoạt động góp phần nâng cao sức cạnh tranh quốc tế: quản lý tiêu
chuẩn/chất lƣợng hàng hoá, áp dụng thƣơng mại điện tử trong kinh doanh.
- Thuận lợi hoá môi trƣờng thƣơng mại, đàm phán và ký kết thƣơng
mại song phƣơng và đa phƣơng với các nƣớc để mở rộng thị trƣờng xuất
khẩu.
- Các hoạt động thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài hƣớng về xuất khẩu, đặc biệt
là các mặt hàng xuất khẩu mới có giá trị gia tăng cao.

1.2.1. Cấp cơ quan quản lý Nhà nƣớc
Cơ quan quản lý Nhà nƣớc tham gia vào hoạt động XTTM chủ yếu tạo
ra môi trƣờng pháp lý thuận lợi mang tính chất quốc tế hoặc quốc gia. Nội
dung của hoạt động XTTM do cơ quan quản lý Nhà nƣớc thực hiện là những
biện pháp chính sách của Nhà nƣớc có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
khuyến khích sản xuất kinh doanh. Đối tƣợng tác động XTTM của cấp quản

Trích đoạn Cơ quan xỳc tiến thƣơng mại thuộc cỏc Bộ Cỏc hiệp hội ngành hàng Cỏc tổ chức phi Chớnh phủ khỏc Đẩy mạnh hoạt động nghiờn cứu thị trƣờng Gắn kết cỏc hoạt động xỳc tiến thƣơng mại với xỳc tiến đầu tƣ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status