Phát triển dịch vụ logictics trong giao nhận, vận tải biển của Việt Nam trường hợp công ty PNT chi nhánh phía Bắc - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DƯƠNG MINH NGUYỆT PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGICTICS TRONG
GIAO NHẬN, VẬN TẢI BIỂN CỦA VIỆT NAM
TRƯỜNG HỢP CÔNG TY PNT CHI NHÁNH
PHÍA BẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


GIAO NHẬN, VẬN TẢI BIỂN CỦA VIỆT NAM
TRƯỜNG HỢP CÔNG TY PNT CHI NHÁNH
PHÍA BẮC
Chuyên ngành: KTTG & QHKTQT
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ANH DŨNG
Hà Nội – 2012

MỤC LỤC


1.2.1.4 Tăng doanh thu và lợi nhuận 27
1.2.2. Hoạt động logistics trong các DN giao nhận, vận tải biển tại Việt Nam 28
1.2.2.1 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp giao nhận, vận tải biển Việt
Nam 28
1.2.2.2 Nhận thức của các DN giao nhận, vận tải biển về logistics 37
1.2.2.3 Thực tiễn áp dụng logistics trong các DN giao nhận, vận tải biển Việt Nam
38
1.2.3. Các yếu tố tác động tới hoạt động logistics trong vận tải biển tại Việt Nam
những năm tới 41
1.2.3.1 Các yếu tố khách quan 41
1.2.3.2 Các yếu tố chủ quan 53 CHƢƠNG 2: NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CỦA CÔNG TY PNT CHI NHÁNH
PHÍA BẮC

2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY PNT .62
2.1.1. Quá trình ra đời và phát triển của chi nhánh công ty 62
2.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của chi nhánh công ty 63
2.1.3. Đánh giá chung về tình hình hoạt kinh doanh của chi nhánh Công ty 71
2.2. THỰC TRANG VẬN TẢI VÀ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ CỦA CÔNG TY
PNT CHI NHÁNH PHÍA BẮC 71
2.2.1. Đại lý hãng tàu (Shipping Agent) 72
2.2.2. Đại lý giao nhận (Freight Fowarder) 76
2.2.3. Tổng sản lƣợng vận tải và giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu của chi nhánh
………………………………………………………………………… …87
2.3. ĐỐI VỚI CÔNG TY PNT CHI NHÁNH PHÍA BẮC 90
2.3.1.Phát triển các dịch vụ logistics mũi nhọn của Công ty 93
2.3.2. Ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý và khai thác 96

Nguyên nghĩa
1
B/L
Vận đơn đường biển (Ocean Bill of Lading - B/L)
2
CFS
Phí khai thác hàng
3
CIF
Cost, Insurance and Freight - - 1 một thuật ngữ trong TMQT,
được thể hiện trong Incoterm
4
CNH – HĐH
công nghiệp hoá - hiện đại hoá
5
CNTT
Công nghệ thông tin
6
Cont
Container
7
COR
Biên bản hàng đổ vỡ hư hỏng (Cargo outturn report)
8
CSC
Giấy chứng nhận hàng thiếu (Certificate of shortlanded cargo)
9
DN
Doanh nghiệp
10

MB/L
vận đơn chủ (master bill of lading)
20
MFN
Nguyên tắc tối huệ quốc (Most favoured natioa)
21
NT
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment)
22
ROROC
Biên bản kết toán nhận hàng với tàu (Report on receipt of
cargo)
23
TMQT
Thương mại quốc tế
24
UNCTAD
Hội nghị LHQ về thương mại và phát triển (UN Conference on
Trade and Development)
25
VTĐPT
Vận tải đa phương thức
26
WTO
Ngân hàng Thế Giới
27
WTO
Tổ chức Thương mại Thế Giới
49
6
Bảng 1.6
Dự báo khối lượng vận tải đường biển Việt Nam đến 2020
54
7
Bảng 1.7
Quy hoạch phát triển của hệ thống cảng biển Việt Nam 2020
55-56
8
Bảng 1.8
Quy mô, cơ cấu đội tàu biển Việt Nam tới năm 2010 - 2020
57
9
Bảng 2.1
Doanh thu từ hợp đồng uỷ thác đại lý hãng tàu năm 2010
75
10
Bảng 2.2
Xác định hao phí lao động chi dịch vụ đại lý hãng tàu 2010
75
11
Bảng 2.3
Doanh thu từ hợp đồng uỷ thác đại lý Giao nhận năm 2011
85
12
Bảng 2.4
Xác định hao phí lao động chi DV đại lý Giao nhận 2011
85
13

Số hiệu
Tên Biểu đồ
Trang
1
Biểu đồ 1.1
Kiểm soát dòng vận động bên trong và bên ngoài doanh
nghiệp
5
2
Biểu đồ 1.2
Logistics tiếp cận theo trục ngang
11
3
Biểu đồ 1.3
Logistics tiếp cận theo hình tháp
13
4
Biểu đồ 1.4
Bốn chức năng hoạt động của doanh nghiệp
16
5
Biểu đồ 1.5
Chuỗi logistics trong vận tải biển
24
6
Biểu đồ 2.1
Sơ đồ tổ chức PNT TRANS
65
7
Biểu đồ 2.2

biển luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ khối lượng hàng hoá XNK được
chuyên chở.
Vậy các yếu tố tác động đến logictics trong giao nhận, vận tải biển của Việt Nam là gì?
Sau khi gia nhập WTO các DN logictics Việt Nam cần có những giải pháp nào để cạnh
tranh tốt hơn? Với mong muốn góp một phần sức lực nhỏ bé của mình trong việc 2 phát triển ngành dịch vụ hàng hải Việt Nam ngày càng lớn mạnh và tiên tiến, phối
hợp cùng những ngành khác trong nền kinh tế nhằm nâng cao vị thế của đất nước
trong lĩnh vực kinh tế nói riêng và trong mọi lĩnh vực nói chung, tôi đã quyết định
chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ Logistics trong giao nhận, vận tải biển của Việt
Nam trường hợp Công ty PNT chi nhánh phía Bắc” cho luận văn tốt nghiệp của
mình với mong muốn thông qua luận văn này và với những kiến thức đã học cũng
như những kinh nghiệm thực tế được tích lũy trong quá trình làm việc tại công ty,
tôi muốn góp phần giúp cho Chi nhánh phía Bắc của công ty PNT thêm hoàn thiện,
công việc kinh doanh ngày càng được mở rộng, tạo, cũng cố và nâng cao uy tín của
công ty trên tất cả thị trường trong và ngoài nước. Và giới thiệu những ưu việt mà
hoạt động logistics có thể đem lại cho ngành dịch vụ giao nhận, vận tải biển tại Việt
Nam và đề ra một số giải pháp nhằm phát triển ngành dịch vụ này.
2. Tình hình nghiên cứu
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối
với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong quá trình phát triển. Xu hướng này ngày
càng hình thành rõ rệt mà nét nổi bật là nền kinh tế thị trường đang trở thành một
sân chơi chung cho tất cả các nước. Việt Nam đang đứng trước những thách thức to
lớn từ cam kết mở rộng thị trường dịch vụ logistics khi gia nhập WTO. Chỉ còn vài
năm nữa thị trường sẽ được tự do hóa với bên ngoài. Câu chuyện tưởng chừng đã cũ
nhưng không hề cũ một chút nào. Nếu ta cứ bình chân như vại, thì đến một lúc nào

mà doanh nghiệp dịch vụ logistics cần cảm nhận, thực sự nhìn nhận lại chiến lược
kinh doanh của mình. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả của
dịch vụ Logistics trong vận tải biển của nước ta. Việc nghiên cứu tìm ra những giải
pháp phát triển hình thức này ở Việt Nam là rất cần thiết để phục vụ cho việc gia
nhập WTO.
- Nhiệm vụ: Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá
xuất nhập khẩu tại công ty PNT chi nhánh phía bắc. Tìm hiểu quá trình hình thành,
phát triển của công ty và thu thập những số liệu thực tế của công ty để đưa ra những
nhận xét và biện pháp khắc phục những khó khăn cũng như nâng cao hiệu quả của
dịch vụ Logistics trong giao nhận hàng hóa, vận tải biển.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là sức cạnh tranh của dịch vụ logistics trong giao nhận
vận tải biển hàng hoá quốc tế của công ty PNT chi nhánh phía bắc. 4 Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi thời gian: từ năm 2002 – 2011
+ Phạm vi không gian: Các thị trường mà công ty đang khai thác như tại thị
trường trong nước và tại một số nước khu vực.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu dựa trên quan sát thực tế, sử dụng phương pháp thống kê mô tả và
phân tích hoạt động của công ty PNT chi nhánh phía bắc. Từ đó đưa ra nhận xét và
biện pháp thích hợp để cải thiện những khó khăn mà công ty gặp phải. Bên cạnh đó,
nguồn số liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu chủ yếu được tôi tham khảo từ các
báo cáo của công ty thông qua việc cung cấp của nhân viên các phòng ban.


6 CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ LOGISTICS
CỦA VIỆT NAM.
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS
1.1.1.Khái quát về logistics
1.1.1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của logistics
a. Khái niệm:
Bất cứ khi nào có sự thay đổi lớn trong một lĩnh vực thì các thuật ngữ và
định nghĩa cũng thay đổi theo. Logistics cũng không nằm ngoài quy luật đó. Các
thuật ngữ như : logistics kinh doanh, phân phối vật chất, quản lý nguyên vật liệu, kỹ
thuật phân phối, quản trị logistics đều là các thuật ngữ được sử dụng để diễn đạt
cùng một chủ đề, đó là cái mà chúng ta gọi là logistics. Dịch vụ logistics được phiên
âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc.
K.
H
À
N
G

cần phải đến.
 Vì vậy logistics được định nghĩa là " quá trình lên kế hoạch, thực hiện
và kiểm soát hiệu quả và tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và việc lưu trữ
nguyên liệu thô, hàng trong kho đang sử dụng, hàng thành phẩm và các thông tin
liên quan từ nơi xuất xứ cho tới nơi tiêu thụ nhằm mục đích thoả mãn yêu cầu của
người tiêu dùng". (Theo Hội đồng Quản trị logistics Mỹ - 1988)
 Logistics tích hợp (intergrated logistics) là một nguyên lý đơn lẻ nhằm
hướng dẫn quá trình lên kế hoạch, định vị và kiểm soát các nguồn nhân lực và tài
lực có liên quan tới hoạt động phân phối vật chất, hỗ trợ sản xuất và hoạt động
mua hàng. (D.Bowersox - CLM Proceeding - 1987)
 Logistics là việc quản lý sự vận động và lưu trữ của nguyên vật liệu
vào trong doanh nghiêp, của hàng hoá trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng
thành phẩm đi ra khỏi doanh nghiệp 3.
Từ các phân tích trên, có thể hiểu ngắn gọn về logistics: Đó là quá trình có
đƣợc đúng số lƣợng hàng hoá cần thiết đúng nơi, đúng lúc. Dịch vụ logistics là
hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công
việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ
tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng
hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để
hưởng thù lao. (Trích Luật Thương mại - Điều 233).
b. Tầm quan trọng của logistics
Môi trường kinh doanh ở mỗi nơi trên thế giới là khác nhau, văn hoá cũng
như vậy. Điều này đã ảnh hưởng đến việc tiến hành kinh doanh và hoạt động
logistics. Chính vì vậy, các nước khác nhau có quan điểm rất khác nhau về logistics.
Theo quan điểm của người Pháp, không có sự khác biệt nhiều giữa quản trị các hoạt
động của doanh nghiệp với quản trị logistics. Nước Nga vẫn chưa phát triển nhiều 8

9  Phát triển các khoá đào tạo đề hỗ trợ cho thiết bị sản xuất hoặc như một dịch
vụ khách hàng,
 Chuẩn bị các tài liệu cần thiết để hỗ trợ cho hoạt động và bảo dưỡng sản phẩm.
Có một số tiêu chí để đánh giá một nước có khả năng hoạt động trong lĩnh
vực logistics hay không. Điều này rất quan trọng vì một số khu vực trên thế giới có
các tài sản logistics rất quý, nó góp phần tạo nên sự phồn thịnh của khu vực đó.
Ngược lại, có những nơi lại rất thiếu điều kiện phát triển logistics và nơi đó chịu sự
thiệt thòi về mặt kinh tế và cả các khía cạnh khác nữa. Các điều kiện để phát triển
logistics của một khu vực hay một quốc gia bao gồm:
Điều kiện địa lý: Điều kiện địa lý thuận lợi là một trong những yếu tố để phát
triển logistics. Các cảng tự nhiên, ví dụ như vịnh, là một trong những đặc điểm về
địa lý có giá trị nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng mong muốn có được. Việc phát
triển đường bộ cũng tạo điều kiện thuân lợi cho logistics. Đất đai bằng phẳng là
điều kiện lý tưởng nhất để phát triển giao thông đường bộ, còn địa hình núi hay đầm
lầy đều gây khó khăn cho giao thông đường bộ.
Cơ sở hạ tầng: Việc có được điều kiện địa lý tốt cũng chưa hẳn đã có tác
dụng nếu không có cơ sở hạ tầng như đường xá, cảng biển, sân bay Muốn xây
dựng cơ sở hạ tầng thì cần phải mất nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Tuy nhiên,
cơ sở hạ tầng cũng tồn tại lâu dài và khó bị hư hại hoặc bị phá huỷ.
Môi trường pháp lý: Các doanh nghiệp hiện đại đòi hỏi phải có một hệ thống
pháp luật với các quy định về thương mại và buôn bán, về hải quan, về cưỡng chế
thi hành luật pháp của các hợp đồng kinh doanh. Hoạt động kinh doanh và logistics
đòi hỏi các doanh nghiệp, Chính phủ đề ra các quy định này. Nếu không có các quy
định này thì việc kinh doanh chưa chắc đã có lãi bất chấp thực tế là cơ sở hạ tầng
hay điều kiện địa lý có tốt như thế nào đi nữa. Chính vì vậy, những lĩnh vực phát

sự hỗ trợ trên các điểm chuyển giao quyền sở hữu. Ngày nay các doanh nghiệp phải
tồn tại trong một môi trường chật hẹp, trong môi trường này doanh nghiệp vừa phải
tìm kiếm các nguồn lực để sản xuất và đồng thời tìm kiếm khách hàng tiêu thụ các
sản phẩm đã sản xuất ra. Phương tiện liên kết doanh nghiệp với môi trường hoạt động 11 đó chính là kênh logistics. Các kênh logistics cung cấp nguyên liệu thô để tạo điều
kiện phát triển vận tải và cung cấp thành phẩm cho hệ thống phân phối vật chất.
Nhận thức được tầm quan trọng của logistics nên các nước trên thế giới, đặc
biệt là các nước phát triển đã chi rất nhiều cho dịch vụ này. Nước Mỹ đã tiêu tốn
10,5% GDP cho dịch vụ logistics; Anh là 10,6%; Pháp 11,1%; Italia và Hà Lan đều
chi khoảng 11,3%. Các nước chi cho dịch vụ này nhiều nhất là Đức (13%), Tây Ban
Nha (11,5%), Mêxico (14,9%), và Nhật Bản (11,4%) 8.
1.1.1.2. Một số cách tiếp cận về logistics
Logistics, hiểu theo nghĩa rộng nhất, có thể được coi là tổng hợp các hoạt động
trong 3 khía cạnh chính là : logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống.
Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống như
lương thực, thực phẩm, quần áo, nơi cư trú. Tại bất kỳ thời điểm nào, trong bất kỳ
môi trường nào, logistics sinh tồn tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Con
người có nhận thức rất hữu hạn về nhu cầu: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và
cần ở đâu. Logistics sinh tồn là hoạt động cơ bản của các xã hội sơ khai và là thành
phần thiết yếu trong một xã hội công nghiệp hoá. Nó cung cấp nền tảng cho
logistics hoạt động.
Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các hệ
thống sản xuất các sản phẩm xa xỉ, đẹp đẽ cho cuộc sống. Theo định nghĩa, logistics
hoạt động liên kết các nguyên liệu thô doanh nghiệp cần trong quá trình sản xuất,
các dụng cụ sử dụng nguyên liệu đó trong quá trình sản xuất và phân phối thành

Nguồn: James C.J, Contemporary Logistics, New York 1990
Hình 2 miêu tả các khái niệm được nói đến ở trên khi logistics được tiếp cận
theo trục ngang. Nhân tố thứ nhất là logistics sinh tồn, tại đó toàn bộ thời gian được
sử dụng cho một cuộc đấu tranh sinh tồn không có điểm kết. Trong điều kiện này
các cá nhân không sở hữu cả công cụ lẫn nhu cầu sản xuất ra thành phẩm để trao
đổi cho nhau. Logistics sinh tồn tồn tại như là một hoạt động độc lập, tuy nhiên điều
này chỉ là tạm thời. Bởi vì khi các điều kiện phát triển thì dễ nhận thấy có một bước
tiến hướng tới sự chuyên môn hoá. Ví dụ như một cá nhân có khả năng đóng ghế sẽ
bắt đầu sử dụng sức lực của mình để chuyên tâm vào việc đó. Sản xuất ra có thể
vượt quá nhu cầu, và các sản phẩm thừa đó sẽ được coi là thành phẩm dùng để trao
đổi cho người khác. Người đóng ghế đó có thể cần các nguyên vật liệu thô khác để
sản xuất. Ghế có thể được coi là nguyên liệu đang trong quá trình chờ để được
Logistics
sinh tồn
Logistics
hoạt động
Logistics
hệ thống 13 chuyển thành các dạng lắp ghép khác như là hàng bán thành phẩm hoặc cũng có thể
là hàng thành phẩm chờ giao cho khách hàng. Các yếu tố của logistics hoạt động
(sự di chuyển của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏi doanh nghiệp) đã được
hình thành. Tuy nhiên, logistics hoạt động không thể tồn tại độc lập, nó phải dựa
vào nền tảng là logistics sinh tồn.
Trong một xã hội như vậy, sẽ không cần logistics phải mở rộng tới điểm
chuyển giao quyền sở hữu. Chiếc ghế đã được sản xuất nếu bị gẫy sẽ được người


Hình 1.3: Logistics tiếp cận theo hình tháp
Nguồn: James C.J, Contemporary Logistics, New York 1990
Lấy ví dụ, một nhà máy thép đòi hỏi nguyên liệu thô (quặng sắt) phải được
đưa vào trong nhà máy, thép sẽ tồn tại trong nhà máy trong nhiều giai đoạn cho đến
khi thành sản phẩm cuối cùng, thành phẩm này (thép) sẽ được lưu kho trước khi
được phân phối cho khách hàng. Nhà máy thép này sẽ không cần thiết lắm phải phát
triển chương trình logistics nhằm cung cấp sự hỗ trợ cho phân phối sản phẩm. Như
vậy, nhà máy thép trong ví dụ này đã liên kết các yếu tố của logistics hoạt động với
sự hiểu biết rất hạn chế về logistics hệ thống
1.1.1.3. Đặc điểm của logistics
a. Logistics là một dịch vụ
Logistics có chức năng là một dịch vụ. Nó tồn tại để cung cấp dịch vụ cho
doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp. Dịch vụ, đối với cả doanh
nghiệp hay khách hàng, đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác
nhau, mà các yếu tố này lại được tập hợp dưới "tán ô" của logistics. Dịch vụ
logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên vật liệu, lưu
kho trong nhà máy và phân phối vật chất. Tuy nhiên, nó không chỉ bị hạn chế trong
các dịch vụ hữu hạn này. Ngược lại, bản chất của các chức năng cơ bản này chỉ ra các
mức độ khác nhau của việc nhấn mạnh vào các yếu tố khác của logistics.
 Một trong ba chức năng cơ bản - quản trị nguyên vật liệu, chuyển giao lưu
kho nội bộ và phân phối vật chất - đều trực tiếp dẫn tới yêu cầu phải lưu kho.
Nguyên vật liệu cho sản xuất bao giờ cũng được cung ứng nhiều hơn mức cầu, và
sự dư thừa này cần phải được kiểm soát và tính tới. Quá trình sản xuất, bất kể là
trong một doanh nghiệp hay trong các doanh nghiệp phân tán trong một vùng địa lý
cũng cần phải được kiểm soát, tính toán và được tiến hành thông qua kỹ thuật
Logistics sinh tồn
Logistics
hoạt động
Logistics

là hoạt động hỗ trợ sau khi chuyển giao quyền sở hữu không bao gồm các yếu tố
của logistics hoạt động. Trên thực tế, các khía cạnh logistics được liên kết với nhau
và được sắp xếp tuần tự với nhau.
Xem xét một ví dụ là người ta ngày càng sử dụng nhiều rôbốt trong quá trình
sản xuất. Những máy móc tinh vi này đòi hỏi công nhân phải được đào tạo để phát 16 triển các kỹ năng cần thiết để vận hành và sửa chữa các rôbốt. Công việc sửa chữa
lại đòi hỏi phải có tài liệu kỹ thuật đặc biệt, dụng cụ đặc biệt và thiết bị kiểm tra,
thậm chí là cả một nhà máy sửa chữa. Tất cả những cái này đều là các yếu tố của hệ
thống logistics. Sự liên kết tự nhiên của logistics đã cho thấy những lý luận cho
rằng logistics hoạt động đối lập với logistics hệ thống là không đúng. Do vậy, DN
có thể kết hợp bất kỳ yếu tố logistics nào với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tuỳ theo
cấp độ yêu cầu của DN mình. Hình 1.4: Bốn chức năng hoạt động của doanh nghiệp
Nguồn: Norman E.Hutchinson, An Intergrated Approach to Logistics Management.

thương. Khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển không ngừng tăng qua
các năm và theo số liệu thống kê của UNTACD, tổng số lượng hàng hoá chuyên
chở trong buôn bán quốc tế đạt hơn 7 tỷ tấn mỗi năm thì khối lượng hàng hoá
chuyên chở thông qua vận tải biển luôn chiếm khoảng 80%.
Vận tải đường biển đóng vai trò quan trọng như vậy trong thương mại quốc
tế vì nó có những ưu điểm nổi bật sau:
 Vận tải đường biển có năng lực chuyên chở lớn: Phương tiện vận tải
trong vận tải đường biển là các tàu có sức chở lớn, lại có thể chạy được nhiều tàu
trong cùng một tuyến đường, cùng một khoảng thời gian nên vòng quay phương
tiện vận tải tăng giúp giảm chi phí. Thời gian tàu nằm chờ tại cảng giảm do sử dụng
các phương tiện xếp dỡ hiện đại và container nên khả năng thông quan lớn, như
cảng Rotterdam: 300 triệu tấn hàng hoá/năm; cảng New York: 150 triệu tấn/năm;
cảng Kobe: 136 triệu tấn/năm
 Vận tải đưởng biển thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại
hàng hoá trong thương mại quốc tế (TMQT). Đặc biệt thích hợp và hiệu quả là các
loại hàng rời có khối lượng lớn nhưng giá trị thấp như than, quặng, ngũ cốc, phốt
phát
 Chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp: các tuyến
đường hàng hải hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên nên không đòi
hỏi nhiều vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng, duy trì, bảo quản trừ việc
xây dựng các kênh đào và hải cảng.
 Giá thành vận tải biển rất thấp do trọng tải tàu biển lớn, cự ly vận
chuyển trung bình lớn, biên chế ít nên năng suất trong ngành vận tải biển cao. Nhiều

Trích đoạn Hệ thống vệ tinh HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP GIAO NHẬN, Nâng cao mức độ linh hoạt trong hoạt động của các DN Nhận thức của các DN giao nhận, vận tải biển về logistics Thực tiễn áp dụng logistics trong các DN giao nhận, vận tải biển ViệtNam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status