ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THANH THỦY HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN
DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI
TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2012 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Hoàn thiện phương pháp xếp hạng tín dụng đối
với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung tâm Thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của giáo
viên hướng dẫn. Các số liệu đưa ra trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.
TÁC GIẢ Nguyễn Thanh Thủy
MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt i
Danh mục bảng ii
Danh mục biểu đồ iii
Danh mục sơ đồ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 4
1.1 Khái quát về xếp hạng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị
trường. 4
2.2.5. Tính điểm và đưa ra kết quả xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 64
2.2.6 Xây dựng hệ thống xếp hạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa 65
2.3 Đánh giá thực trạng XHTD doanh nghiệp nhỏ và vừa tại CIC 66
2.3.1 Kết quả đạt được 66
2.3.2 Hạn chế và tồn tại 68
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 68
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 72
3.1 Định hướng hoạt động xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Trung tâm thông tin tín dụng 72
3.1.1 Định hướng của Trung tâm thông tin tín dụng trong thời gian tới 72
3.1.2 Định hướng hoàn thiện Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Trung tâm thông tin tín dụng 74
3.2. Giải pháp hoàn thiện Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
CIC 76
3.2.1. Nhóm giải pháp chính về hoàn thiện Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại CIC 76
3.2.2. Giải pháp hỗ trợ hoàn thiện xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Trung tâm thông tin tín dụng 92
3.3. Một số kiến nghị 96
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ 96
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 98
3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng thương mại 99
KẾT LUẬN 100
i
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Số hiệu
Nội dung Trang
01. 1.1 Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
02. 1.2 Hệ thống ký hiệu xếp hạng công cụ nợ dài hạn của
Moody’s
32
03. 1.3 Các chỉ tiêu chấm điểm tài chính doanh nghiệp của E&Y 33
04. 1.4
Ma trận XHTD kết hợp giữa tình hình thanh toán nợ và tình
hình tài chính của E&Y
34
05. 1.5 Điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính chấm điểm
XHTD DN của BIDV
35
06. 1.6 Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm
điểm XHTD doanh nghiệp của BIDV
36
07. 1.7 Hệ thống ký hiệu XHTD doanh nghiệp của BIDV 36
08. 1.8 Điểm trọng số các chỉ tiêu phi tài chính chấm điểm
XHTD DN của Vietinbank
37
09. 1.9 Điểm trọng số các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính chấm
điểm XHTD doanh nghiệp của Vietinbank
38
10. 1.10 Hệ thống ký hiệu XHTD DN của Vietinbank 38
20
02. 2.1 Cơ cấu tổ chức của CIC 44
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Việt Nam đã thực
hiện mở cửa kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Trong bối cảnh đó,
hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro nhất cả về tính đa dạng và
mức độ thiệt hại. Các ngân hàng muốn tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh thì cần
thiết phải có hai yếu tố cơ bản đầu vào là tiền vốn và thông tin, trong đó, thông tin tín
dụng (TTTD) ngân hàng chiếm vị trí rất quan trọng, vì nó liên quan trực tiếp đến
khách hàng. Ngày nay, TTTD càng trở nên cần thiết hơn khi nền kinh tế thế giới
đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế.
Ở Việt Nam hiện nay thông tin tín dụng còn hạn chế, đi kèm theo đó là mức
độ rủi ro tín dụng cao, đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ
và vừa chiếm tới gần 90% các doanh nghiệp ở Việt Nam và là nguồn tín dụng chủ
yếu của các TCTD, do đó thông tin về các DNNVV thực sự quan trọng và cần thiết
cho các TCTD trong việc quản lý rủi ro và đánh giá tình hình doanh nghiệp, ra quyết
định tín dụng. Hiện nay, Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (CIC-SBV) đã có nhiều cố gắng trong việc đẩy mạnh hoạt động TTTD, mục
tiêu nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng góp phần phát
triển kinh tế đất nước, trong đó tập trung chủ yếu vào các DNNVV.
Xuất phát từ thực tế trên tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện phương pháp xếp
hạng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung tâm thông tin tín dụng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ” để nghiên cứu.
- Góp phần giới thiệu thêm những kiến thức, hiểu biết về thông tin tín dụng
– một lĩnh vực mà còn rất ít người biết đến.
7. Tên và kết cấu luận văn
Tên luận văn: “Hoàn thiện phương pháp xếp hạng tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ”
để nghiên cứu.
Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
các bảng biểu sơ đồ, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương: 3
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và
vừa.
Chương 2: Thực trạng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung
tâm thông tin tín dụng.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Trung tâm thông tin tín dụng
doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô DN trong
những giới hạn nhất định và được tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu
trung bình, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc
gia.
Ở Việt Nam DNNVV được định nghĩa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
ngày 30/09/2009 [5] như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã
đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, 5
vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được
xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân
năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đ
ồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương m
ại
và dịch vụ
10 ngư
ời trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
ngư
ời đến 50
người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
người đến
hiệu quả mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh đều nằm trong tình trạng thiếu
đất để làm mặt bằng.
- Đội ngũ quản lý, các chủ DNNVV chưa được đào tạo đầy đủ, khả năng cập
nhật thông tin còn yếu. Trình độ tổ chức, quản lý, giám sát hoạt động sản xuất kinh
doanh còn non kém.
- Trình độ tay nghề của đội ngũ lao động trong các DNNVV còn nhiều hạn
chế. Đội ngũ lao động ít được đào tạo bài bản, thiếu kỹ năng (chỉ có khoảng 6% có
trình độ đại học nhưng có tới gần 75% chưa tốt nghiệp PTTH). Những hạn chế về
trình độ của người lao động làm tăng chi phí về sử dụng lao động cho doanh nghiệp
cũng như làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh chung.
- Hệ thống sổ sách của phần lớn các DNNVV chưa thực sự minh bạch,các
báo cáo tài chính còn mang tính chất đối phó, thiếu tin cậy. Trên thực tế có không ít
doanh nghiệp xây dựng nhiều báo cáo khác nhau để nộp cho ngân hàng, cơ quan
thuế và cho chủ doanh nghiệp. Nhiều DNNVV thường bán hàng không có hợp đồng 7
kinh tế, không tuân thủ chế độ phát hành hóa đơn bán hàng, hóa đơn, chứng từ còn
mang tính hình thức, không phản ánh đúng thực trạng hoạt động. Do vậy, các báo
cáo tài chính của DNNVV không phải là cơ sở đáng tin cậy để đánh giá chính xác
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong tiến trình cải cách và phát triển kinh tế ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV) luôn chiếm tỷ trọng lớn. Tuy là những doanh nghiệp nhỏ về vốn,
lao động, doanh thu, nhưng cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng và quy mô
hoạt động, các DNNVV đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong việc
duy trì tốc độ tăng trưởng, thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, giúp cải thiện mức
sống của người dân, góp phần rất lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.
- Do đặc tính phân bố rải rác khắp các vùng miền nên có thể đảm bảo cung
cấp việc làm cho nhiều vùng địa lý, nhiều đối tượng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa,
1.1.2 Khái niệm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Xếp hạng tín dụng (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh
(credit: là tín dụng hay tín dụng, ratings: là xếp hạng) do John Moody đưa ra vào
năm 1909 khi đánh giá tín dụng của các doanh nghiệp ngành đường sắt. Cùng năm
đó, cuốn “cẩm nang chứng khoán đường sắt” được phát hành dựa trên việc nghiên
cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái
phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu được xếp lần lượt là Aaa đến C
(hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế).
Tuy nhiên, xếp hạng tín dụng được phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị vỡ nợ và rơi
vào phá sản. Chính phủ Hoa Kỳ đã quy định cấm các định chế đầu tư (các quỹ hưu
trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy
thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín dụng. Những quy định này đã dẫn
tới sự ra đời của các công ty xếp hạng tín dụng ở Mỹ và họ đẩy mạnh uy tín của
mình. Từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín dụng mới được mở rộng
và phát triển khá mạnh ở các nước trên thế giới.
* Trong cuốn “phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” Bohn, 9
John A định nghĩa rằng: “Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về khả năng thanh toán
đúng hạn cả gốc và lãi của một nhà phát hành đối với một loại chứng khoán trong
suốt thời gian tồn tại của nó”.
* Theo Công ty chứng khoán Merrill Lynch định nghĩa: “Xếp hạng tín dụng
là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín dụng về chất lượng tín dụng của một
nhà phát hành chứng khoán nợ về một khoản nợ nhất định. Nó được hiểu là cách
đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh
hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh
toán gốc và lãi đúng hạn. Kết quả xếp hạng tín dụng chứa đựng cả ý kiến chủ quan
gian gần (3 tháng) mà có thể tác động đến hạng mức tín dụng hay dựa trên cơ sở
đánh giá triển vọng hạng mức tín dụng của doanh nghiệp trong tương lai với thời
hạn trung bình (6 - 24 tháng). Các tổ chức xếp hạng tín dụng cũng dự báo hạng mức
tín dụng, bằng cách dự phóng báo báo cáo tài chính tương lai rồi xếp hạng lại hoặc
xây dựng mô hình toán học để dự báo hạng mức tín dụng doanh nghiệp.
Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng
Xếp hạng tín dụng không phải là lời khuyên tài trợ, đầu tư, mua, bán hoặc
nắm giữ trái phiếu, các công cụ nợ. Chúng chỉ là một trong những nhân tố mà nhà
đầu tư và các nhà tài trợ nên tham khảo trước khi ra quyết định đầu tư, tài trợ.
Xếp hạng tín dụng không phải là chỉ dẫn về tính thanh khoản của một chứng
khoán hay đo lường giá trị của nó trên thị trường.
Xếp hạng tín dụng không đảm bảo tuyệt đối chất lượng tín dụng và rủi ro tín
dụng trong tương lai
.
Bản chất của việc xếp hạng tín dụng DN trong hoạt động tín dụng ngân hàng
là việc áp dụng các phương pháp, công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và
các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình hoạt động của DN, đánh giá
rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của DN đó cũng như đánh giá khả
năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của DN đối với khoản vay nhất định như trả
lãi và gốc nợ vay khi đến hạn, nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng.
Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng DN và được xác định thông qua quy trình
xếp hạng bằng thang điểm, tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định và phù hợp với
thông lệ quốc tế trên cơ sở dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính của DN 11
đó tại thời điểm xếp hạng.
1.1.2.2 Mục đích của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong quá trình thực hiện, tùy theo giác độ nghiên cứu của chủ thể, có thể có
mục tiêu khác nhau về xếp hạng tín dụng DN. Đứng trên giác độ hoạt động ngân
Hiện nay trên thế giới và các nước trong khu vực thường có hai loại chủ thể
trong xếp hạng tín dụng doanh nghiệp gồm: các công ty chuyên xếp hạng tín dụng
DN và các Ngân hàng thương mại.
Các công ty xếp hạng tín dụng DN có thể là các công ty lớn có tính toàn cầu
như: Moody’s, Standard and Poor, First Rating, hoặc có thể là những công ty nhỏ
hơn ở tại từng nước như Credit Bureau Singapore, Joint Credit Information Center
Taipei. Ở Việt Nam, CIC có mô hình hoạt động như các công ty của Singapore hay
Taipei.
Chủ thể chính được đề cập trong Luận văn là CIC, với mục tiêu phục vụ
công tác quản lý, điều hành của Thống đốc NHNN, giúp các TCTD trong công tác
quản trị rủi ro tín dụng và giúp các tổ chức khác trong việc đánh giá năng lực hoạt
động của DN. Ngoài ra, việc xếp hạng tín dụng DN được thực hiện tại CIC nhằm đa
dạng hoá sản phẩm của CIC, phục vụ các đối tượng sử dụng thông tin.
1.1.2.5 Yêu cầu của việc xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Xếp hạng tín dụng DNNVV phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Tính đầy đủ: Thông tin đầu vào phải đảm bảo kịp thời, trung thực, tin cậy,
đây là yêu cầu hàng đầu đối với mọi nguồn thông tin nói chung. Tính đầy đủ của
thông tin được hiểu theo nghĩa là thông tin đó phải xác thực, có nguồn cung cấp rõ
ràng, đáng tin cậy và phải thường xuyên được cập nhật. Tính đầy đủ còn thể hiện
qua việc tính toán tất cả các chỉ tiêu cần thiết để đánh giá đúng đối tượng cần
nghiên cứu.
Tính chính xác: XHTD DNNVV và các chỉ tiêu phân tích phải khoa học,
được áp dụng rộng rãi, được thừa nhận trong khu vực, quốc tế và phù hợp với hoàn
cảnh thực tiễn của Việt Nam, phù hợp với khả năng trình độ nhưng phải có tính khả
thi cao.
Tính khách quan: Kết quả XHTD DNNVV được công bố rộng rãi và phải do
các tổ chức xếp hạng trung gian đứng ra thực hiện để đảm bảo tính khách quan 13
14
những giải pháp thích hợp nhất để thúc đẩy sự phát triển và hoạt động của các DN
trong từng ngành kinh tế nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung, nhằm bảo đảm
một môi trường kinh tế hoạt động lành mạnh.
Đối với NHNN việc xếp hạng tín dụng DNNVV có thể biết được mức độ rủi
ro theo từng ngành kinh tế, từ đó có chính sách tiền tệ, tín dụng thích hợp, và tổ
chức thanh tra giám sát các TCTD.
1.1.3.2 Đối với tổ chức tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng và không thể thiếu đối với các TCTD và
nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro,
đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi hệ thống thông tin
thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính
chuyên nghiệp của cán bộ ngân hàng chưa cao,…. Có thể nói rủi ro được xem như
một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của TCTD trên thị trường.
Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể gây ra những tổn thất to lớn cho
nền kinh tế hơn bất cứ rủi ro của các loại hình DN khác, vì tính chất lây lan của nó
có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống nền kinh tế của một quốc gia và có thể tác
động đến hầu hết tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Xếp hạng tín dụng DNNVV
thực hiện nhằm giúp các TCTD:
- Ra quyết định cấp tín dụng: Xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi
suất, biện pháp bảo đảm tiền vay, phê duyệt hay không phê duyệt.
- Giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụng đang còn dư
nợ.
- Xếp hạng tín dụng DNNVV cho phép TCTD lường trước những dấu hiệu
cho thấy khoản vay và có những biện pháp áp dụng kịp thời.
- Giảm thiểu chi phí và tiết kiệm được thời gian khi quyết định một món vay.
- Xét trên góc độ quản lý toàn bộ danh mục tín dụng, xếp hạng tín dụng
DNNVV còn nhằm mục đích:
+ Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích lập dự
ngân hàng với DN), còn xuất hiện và phát triển hình thức tín dụng thương mại. Đây
chính là quan hệ mua bán chịu giữa các DN với nhau trong quá trình mua bán hàng
hóa. Chính vì thế, thông tin về xếp hạng tín dụng DN sẽ giúp các DN tìm hiểu rõ 16
hơn đối tác của mình, từ đó quyết định các giao dịch mua bán chịu hàng hoá, hợp
tác liên doanh.
1.1.3.4 Đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán
Xếp hạng tín dụng DN vừa và nhỏ có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu
tư, bởi từ đó sẽ cho thấy mức độ danh tiếng, khả năng thu hút vốn, nhân tài và cả lợi
nhuận của DN. Dựa trên kết quả xếp hạng tín dụng DN, nhà đầu tư sẽ hiểu rõ hơn
về sức mạnh tài chính của các DN, đánh giá năng lực tổ chức, các mối quan hệ
kinh doanh từ đó có căn cứ để thẩm định, lựa chọn danh mục đầu tư, dự báo tình
hình phát triển DN và đưa ra quyết định đầu tư hoặc mua cổ phiếu trên thị trường
chứng khoản của các DN này.
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đi vào hoạt động từ tháng 7/2000
đến nay đã có những bước phát triển đáng kể, thông tin về các DN niêm yết đã được
công bố công khai. Tuy nhiên, việc đánh giá hoạt động của các DN đã niêm yết trên
Trung tâm giao dịch chứng khoán chưa được đánh giá theo một chuẩn mực chung
nào cả, trong khi đó việc đánh giá theo một nguyên tắc chung, thống nhất của một
cơ quan, tổ chức khách quan là rất cần thiết. Bên cạnh đó, việc tiếp cận các thông
tin minh bạch về tình hình tài chính và các thông tin khác về DN ngày càng trở nên
thiết yếu với các nhà đầu tư, do vậy đối với TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay và trong tương lai thì thông tin về DN và nhất là thông tin về phân tích, xếp
hạng tín dụng DN là rất hữu ích và là nguồn thông tin không thể thiếu được. Xếp
hạng tín dụng mang lại lợi ích cho cả nhà đầu tư và các công ty chứng khoán, việc
thu hút vốn trên thị trường chứng khoán diễn ra thuận lợi và dễ dàng hơn.
Xếp hạng tín dụng DNNVV cung cấp cho thị trường chứng khoán một hệ
thống xếp hạng các công cụ tài chính, đặc biệt là các chứng khoán nợ, từ đó giúp