ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ ĐÌNH PHƯƠNG
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN BÓN
VÀ HÓA CHẤT DẦU KHÍ LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LƯU NGỌC TRỊNH Đà Lạt - 2012
MỤC LỤC
Lời mở đầu … 1
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tình hình tài chính tại
các doanh nghiệp: 6
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính: 6
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính: 6
1.1.2. Ý nghĩa của phân tích tài chính: 6
1.1.2.1. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: 6
1.1.2.2. Đối với các nhà đầu tư: 7
1.1.2.3. Đối với các chủ nợ: 8
1.1.2.4. Đối với người lao động: 8
1.1.2.5. Đối với các cơ quan nhà nước: 9
1.2. Tài liệu và các phương pháp phân tích tài chính: 9
1.2.1. Tài liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính Công ty: 9
3.1. Đánh giá chung Định hướng, mục tiêu phát triển của Tổng công ty: 71
3.1.1 Về ưu điểm:Quan điểm: 71
3.1.2 Về các hạn chế:Chiến lược phát triển: 72
3.2. Định hướng, phát triển của Tổng công ty: 73
3.2.1 Quan điểm mục tiêu: Mục tiêu tổng quát: 73
3.2.2 Chiến lược phát triển 73
3.3. Các giải pháp: 74
3.3.1 Uư tiên đầu tư cho nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa
sản phẩm, mở rộng thị trường 74
3.3.2. Huy động các nguồn vốn với chi phí thấp nhất: 75
3.3.3. Dự báo và lập kế hoạch tài chính dài hạn để sử dụng vốn và đầu tư hiệu
quả: 76
3.3.4. Tăng cường đầu tư tài chính ngắn hạn để giải quyết ứ đọng lượng tiến khá
lớn: 76
3.3.5. Tăng giá trị cổ phiếu DPM trên thị trường chứng khoán: 77
3.4. Kiến nghị 77
3.4.1. Kiến nghị với Nhà nước: 77
3.4.2. Kiến nghị với công ty : 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
………………………………………………………….80
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho
Việt Nam nhiều cơ hội trong việc phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, trong quá
chính tại Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí” làm chủ đề nghiên
cứu cho Luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
-
Về cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp đã được trình bày trong
rất nhiều tài liệu ở cả trong và ngoài nước. Ở đây, tôi chỉ xin đơn cử một số tài liệu
tiêu biểu:
Nguyễn Đức Dũng: Phân tích báo cáo tài chính và định giá trị doanh nghiệp,
NXB. Thống kê, 2009, Hà Nội ;
Nguyễn Minh Kiều: Tài chính doanh nghiệp căn bản, NXB. Thống kê, 2010,
Hà Nội;
Lê Thị Xuân: Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB. Đại Học Kinh Tế Quốc
Dân, 2011, Hà Nội;
Chương trình Đào tạo Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh Quốc tế của Đại Học
GRIGGS,2009
Higgins: Phân tích quản trị tài chính (Nguyễn Tấn Bình dịch), NXB ĐHQG
TP. Hồ Chí Minh, 2008
Brealey, Myers, Allen: Principles of Corporate Finance, McGraw-Hill Irwin,
2006
Brigham, Houston: Fundamentals of Financial Management, Harcourt College
Publisher, 10th edition, 2004
Ross, Westerfield, Jaffe: Corporate Finance, 7
th
edition, McGraw-Hill Irwin,
2005 3
Luận văn này sẽ kế thừa, hệ thống hoá và sử dụng các cơ sở lý luận này để làm
văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản cho việc phân tích hoạt động tài chính tại
Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hoá chất Dầu khí là gì?
- Hoạt động tài chính tại Tổng công ty này đã đạt được những thành công gì và
còn vướng phải những khó khăn và tồn tại gì, tại sao?
- Để nâng cao hiệu qủa của hoạt động tài chính nói riêng và hoạt động kinh
doanh nói chung, Tổng Công ty và các tổ chức có liên quan cần thực thi những giải
pháp gì ?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tài chính của
Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Phân tích toàn bộ tình hình tài chính của Tổng Công
ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí trong giai đoạn từ 2009 đến nay trong đó
tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản, từ đó có thể phản ánh đựơc toàn bộ thực
trạng tình tài chính trong giai đoạn 2009-2011.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, thống kê, tổng hợp, phân tích, so
sánh và đối chiếu, và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia có liên quan để nghiên cứu nhằm đạt
được mục tiêu của đề tài.
Các số liệu trong luận văn dựa trên các Báo cáo tài chính hàng năm của Tổng
Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí; các bài viết được đăng trên các tạp
chí, các báo; sách; luận án; các báo cáo hàng năm của Bộ Tài chính; và các trang Web. 5
6. Những đóng góp mới của luận văn:
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính:
1.1.1. Khái niệm phân tích tài chính:
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình thu thập thông tin, xem
xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ của công
ty, giữa đơn vị và các chỉ tiêu bình quân ngành để từ đó có thể xác định được thực
trạng tài chính và tiên đoán cho tương lai và xu hướng, tiềm năng kinh tế của công ty.
Qua đó người sử dụng thông tin có thể đánh giá đúng thực trạng tài chính của công ty,
xác định chính xác hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai và triển
vọng của công ty từ đó người sử dụng thông tin có thể dự báo và đưa ra các quyết định
tài chính, quyết định tài trợ và quyết định đầu tư.
Mỗi đối tượng khác nhau sẽ quan tâm tới các nội dung tài chính khác nhau của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, về cơ bản, quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp gồm
các bước: thu thập thông tin; xử lý thông tin; dự báo và đưa ra quyết định tài chính.
1.1.2. Ý nghĩa của phân tích tài chính:
Thông tin về tình hình tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghịêp
và cũng là nguồn thông tin quan trọng đối với người ngoài doanh nghiệp. Mục đích
của phân tích tình hình tài chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá chính xác
sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp. Phân tích báo
cáo tài chính nhằm đạt được các mục đích sau:
1.1.2.1. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Nhà quản lý doanh nghiệp bao giờ cũng đứng trước nhiều quyết định khác nhau,
do đó mà quan tâm đến kết quả phân tích thông qua các báo cáo tài chính của doanh
nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau phù hợp với lĩnh vực và cương vị đưa ra quyết
7
định để một khi quyết định được đưa ra là tối ưu hơn cả. Đối với nhà quản lý thì phân
tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm
mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, đó là cơ sở định hướng các quyết định của Ban
tổng giám đốc, dự báo tài chính về kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt
động quản lý. Phân tích tài chính đối với nhà quản lý có phần thuận lợi được gọi là
khả năng sinh lời, chính sách phân phối lợi nhuận, phân tích rủi ro tài chính trong kinh
doanh để lựa chọn hướng đầu tư, cơ cấu đầu tư, nơi đầu tư
1.1.2.3. Đối với các chủ nợ
Để tồn tại và phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh không có bất kỳ
doanh nghiệp nào có thể tiến hành công việc kinh doanh của mình chỉ bằng vốn tự có
mà phải gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp,
trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn hoặc tín dụng thương mại. Vay ngân hàng để
đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo đủ vốn cho
các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu. Tài trợ bằng tín dụng thương mại là phương
thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh, hơn nữa nó còn tạo khả năng
mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Song việc tài trợ bằng hình
thức gì đi nữa thì các chủ nợ đều quan tâm rằng việc hoàn trả cả vốn lẫn lãi có đúng
thời hạn không, khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vay nợ từ những người cung cấp
nào và khả năng trả nợ trong hiện tại và trong tương lai. Từ đó, các chủ nợ mới quyết
định có nên cho doanh nghiệp vay với cơ cấu vốn như thế nào, thời hạn trong bao
lâu
1.1.2.4. Đối với người lao động
Lương là nguồn thu nhập chính thể hiện giá trị sức lao động mà những người
lao động bỏ ra, là nguồn tiền giúp cho họ có thể tái sản xuất và nuôi sống gia đình.
Bên cạnh đó, đối với những doanh nghiệp cổ phần những người lao động cũng có thể
trở thành những cổ đông nếu họ có tiền mua và nắm giữ cổ phiếu. Do đó, họ quan tâm
9
đến tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua chính sách phân phối thu nhập, các
khoản đóng góp của họ đối với doanh nghiệp, quỹ phúc lợi, quỹ trợ cấp ốm đau, thất
nghiệp, chính sách cổ tức, khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Từ đó, người lao động
có thể yên tâm lao động và sáng tạo, sử dụng đồng vốn nhàn rỗi của mình để tăng
thêm thu nhập.
1.1.2.5. Đối với các cơ quan nhà nước
Với tư cách là các cơ quan nhà nước có liên quan bao gồm kiểm toán nhà nước,
tích tài chính, nó giúp đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh
toán, năng lực hoạt động, tài sản hiện có và nguồn hình thành nó, cơ cấu vốn của
doanh nghiệp.
b) Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính
doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định. Đó là kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động theo từng loại hoạt động kinh doanh
(sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, hoạt động bất thường). Ngoài ra, báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước của
doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh đó. Báo cáo kết quả kinh doanh cho ta biết mức lãi,
lỗ của doanh nghiệp bằng cách lấy tất cả các khoản tạo nên doanh thu trừ đi chi phí
kinh doanh tương ứng nó có ý nghĩa quan trọng đến chính sách cổ tức, trích lập các
quỹ như khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ trợ cấp, quỹ đầu tư phát triển. Các chỉ tiêu
trong báo cáo còn là tiền đề để dự đoán và xác định được quy mô dòng tiền trong
tương lai, làm căn cứ tính toán thời gian thu hồi vốn đầu tư, giá trị hiện tại ròng để ra
quyết định đầu tư dài hạn trong doanh nghiệp.
11
c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính mà doanh nghiệp
cần lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp về những vấn đề
liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng
tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Những luồng tiền vào ra của tiền và các
khoản coi như là tiền được tổng hợp và chia thành 3 nhóm:
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
Trên cơ sở đó, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu
quyết định tài chính là đúng đắn hay sai lầm.
- Kinh doanh luôn gắn liền với rủi ro đặc biệt trong nền kinh tế thị trường rủi ro
tài chính luôn tiềm ẩn, đòi hỏi các doanh nghiệp dự tính mức rủi ro có thể chịu đựng
được qua các quyết định tài chính để có biện pháp phòng ngừa vì rủi ro rất đa dạng và
phức tạp, nó có thể làm cho doanh nghiệp phá sản, giải thể.
- Doanh nghiệp với sức ép của thị trường cạnh tranh, những đòi hỏi về chất
lượng, mẫu mã, chủng loại, giá cả hàng hoá, chất lượng dịch vụ ngày càng cao hơn,
tinh tế hơn của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp cần có những thông tin nắm bắt thị
hiếu của khách hàng để thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh
có hiệu quả.
- Doanh nghiệp phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn sở hữu
trong cơ cấu vốn. Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tới hoạt động
doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau.
- Doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh tốt phải luôn đặt các hoạt động của
mình trong mối liên hệ chung của ngành. Đặc điểm ngành kinh doanh liên quan đến :
+ Tính chất của các sản phẩm.
13
+ Quy trình kỹ thuật áp dụng .
+ Cơ cấu sản xuất công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ những cơ cấu sản
xuất này có tác động tới khả năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ phương tiện tiền
tệ…
1.2.2. Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính:
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện
pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và
bên ngoài, các luồng tiền dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng
hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tài chính doanh nghiệp ở quá khứ, hiện tại và dự đoán
tài chính doanh nghiệp trong tương lai, giúp các đối tượng đưa ra quyết định kinh tế
phù hợp với mục tiêu mong muốn.
tổng thể quy mô chung được xác định.
1.2.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố
Là phương pháp phân tích và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
chỉ tiêu phân tích, sau đó xem xét tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố, những
nguyên nhân dẫn đến sự biến động của từng nhân tố và xu thế nhân tố trong tương lai
sẽ vận động như thế nào. Tùy thuộc mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ
tiêu phân tích, người ta có thể chia thành phương pháp thay thế liên hoàn, phương
pháp số chênh lệch, phương pháp hiệu số tỷ lệ, phương pháp cân đối để xác định
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:
- Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp dùng để xác định mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi các nhân tố có quan hệ với chỉ
tiêu phân tích thể hiện dưới dạng phương trình tích hoặc thương
- Phương pháp số chênh lệch và phương pháp hiệu số tỷ lệ: là hệ quả của thay
thế liên hoàn áp dụng trong trường hợp mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các
nhân tố ảnh hưởng thể hiện dưới dạng tích đơn thuần.
15
- Phương pháp cân đối: cũng dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến chỉ tiêu phân tích khi chỉ tiêu phân tích có mối quan hệ với các nhân tố thể hiện
dưới dạng phương trình tổng hiệu. Để xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố
nào đó người ta chỉ việc xác định chênh lệch giữa thực tế so với kỳ gốc của nhân tố
đó.
1.2.2.3 Phương pháp dự đoán
Là phương pháp được sử dụng để ước tính các chỉ tiêu kinh tế trong tương lai.
Tùy thuộc vào mối quan hệ cũng như dự đoán tình hình kinh tế xã hội tác động đến
doanh nghiệp mà sử dụng các phương pháp khác nhau. Thường người ta sử dụng
phương pháp hồi quy, toán xác suất, toán tài chính và các phương pháp phân tích
chuyên dụng như phân tích dòng tiền, phân tích hòa vốn, phân tích lãi gộp, lãi thuần,
lãi đầu tư, phân tích dãy thời gian Các phương pháp này có tác dụng quan trọng
được sử dụng như thế nào trong tương lai
b) Khái quát về phương pháp:
Sơ đồ dưới đây sẽ chỉ ra chu kỳ của dòng tiền tham gia kinh doanh của các
doanh nghiệp:
Tiền mặt > Các khoản phải trả > Mua sắm NVL > Quá trình sản xuất >
Thành phẩm tồn kho > Thêm lợi nhuận gộp > Các khoản phải thu > Tiền mặt.
Khi phân tích dòng tiền của doanh nghiệp, ta đi phân tích các hệ số sau:
- Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh so với tổng dòng tiền vào:
Lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh dương (thu > chi) thể hiện công ty
làm ăn có hiệu quả, có khả năng trả ngay các khoản nợ đến hạn.
- Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh cho biết tỷ lệ tạo ra nguồn tiền vào
từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp. Thông thường nếu doanh nghiệp
không có những biến động tài chính đặc biệt thì tỷ lệ này khá cao (khoảng 80%), đây
17
là nguồn tiền chủ yếu dùng trang trải cho hoạt động đầu tư dài hạn, trả lãi vay, nợ gốc,
cổ tức.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh bao gồm các khoản mục sau:
Lợi nhuận ròng: (Lãi +, Lỗ -)
Khấu hao cơ bản (Lãi +, Lỗ -)
Chi phí trả lãi vay (+)
Tăng giảm nhu cầu vốn lưu động (Tăng -, giảm +)
{
- Hệ số dòng tiền từ hoạt động đầu tư so với tổng dòng tiền vào:
Lưu chuyển thuần từ hoạt động đầu tư dương (thu > chi) thể hiện quy mô của doanh
nghiệp bị thu hẹp. Vì số tiền thu được từ khấu hao, bán tài sản cố định sẽ lớn hơn số
tiền mua sắm tài sản cố định khác.
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư bao gồm các khoản mục sau:
kinh doanh, không phải tiền tạo ra từ hoạt động đầu tư hay tài chính, đây chính là việc
xác định mức độ ổn định của một doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhóm hệ số tài chính
1.3.2.1. Khả năng thanh toán:
a) Nhóm hệ số khả năng thanh khoản ngắn hạn:
Nhóm hệ số khả năng thanh khoản ngắn hạn phản ánh khả năng chuyển đổi các
tài sản ngắn hạn thành tiền để thanh toán các khoản nợ vay ngắn hạn. Một hạn chế của
hệ số thanh toán nợ ngắn hạn là trong nhiều trường hợp doanh nghiệp tuy có hệ số
thanh toán nợ ngắn hạn cao nhưng vẫn không hoàn trả được các khoản nợ đến hạn do
hàng tồn kho và các khoản phải thu có tính thanh khoản kém nên chưa chuyển hoá
được thành tiền. Để khắc phục hạn chế của hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, có thể sử
dụng các hệ số thanh toán nhanh hoặc hệ số thanh toán ngay, hai hệ số này phản ánh
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp sau khi đã loại bỏ các tài sản kém
thanh khoản như hàng tồn kho và phải thu ngắn hạn.
19
Thông thường các hệ số thanh khoản ngắn hạn cao đem lại sự an toàn cho
doanh nghiệp. Tuy nhiên, đôi khi hệ số thanh khoản cao có thể do doanh nghiệp đầu tư
quá mức cần thiết vào tài sản ngắn hạn và không mang lại hiệu quả. Do vậy, các hệ số
này cần được so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành và căn cứ vào tính chất ngành nghề
kinh doanh. Mặt khác, các hệ số này cũng cần được xem xét trong mối quan hệ với
các hệ số năng lực hoạt động tài sản như vòng quay hàng tồn kho và phải thu. Cụ thể,
hệ số vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho thấp hạn chế khả năng thanh khoản
do hàng tồn kho không thể tiêu thụ và các khoản phải thu không thể thu hồi không
đem lại nguồn tiền giúp doanh nghiệp hoàn trả các khoản nợ.
Hệ số thanh toán ngắn hạn: được xác định dựa vào thông tin từ bảng cân đối tài
sản bằng cách lấy giá trị của tài sản ngắn hạn chia cho giá trị nợ ngắn hạn phải trả,
phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng cách sử
dụng các tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh
Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn đo lường mức độ tài trợ cho tài sản dài hạn
bằng vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn ổn định và doanh nghiệp không
phải chịu áp lực chi phí lãi vay. Toàn bộ tài sản dài hạn được tài trợ bằng vốn chủ sở
hữu thể hiện khả năng tài chính vững vàng.
Khả năng thanh toán (solvency): là khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ
đến hạn bất cứ lúc nào. Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng
thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế (capital) và nguồn lực sẵn có (resource). Hay
nói cách khác khả năng thanh toán của doanh nghiệp “là khả năng đáp ứng các chi tiêu
cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển”.
Để đảm bảo tăng trưởng, doanh nghiệp có thể phải giảm tiền mặt nắm giữ và
tăng lượng vốn vay, thậm chí chấp nhận giảm mức độ tự chủ. Nhiệm vụ của chức
năng tài chính là dàn xếp vấn đề này bằng cách duy trì khả năng thanh toán. Vì vậy,