ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ XUÂN HỒNG
PHÁT TRIỂN MẠNG LƢỚI CHI NHÁNH
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN
TÂY NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN MẠNG LƢỚI CHI NHÁNH CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP
KHẨU VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân Hàng
Mã số: 60 34 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ANH TUẤN Đà Lạt – 2012
2.1.1. Lịch sử và cơ cấu tổ chức 32
2.1.2. Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của Eximbank 36
2.2. Phát triển mạng lƣới chi nhánh của Eximbank trên địa bàn các tỉnh Tây
Nguyên 41
2.2.1. Khái quát về sự phát triển chi nhánh của Eximbank trên toàn quốc
giai đoạn 2007 đến nay 41 2.2.2. So sánh sự phát triển chi nhánh của Eximbank với một số ngân hàng
thương mại khác 45
2.2.3. Quá trình phát triển các chi nhánh của Eximbank trên địa bàn các
tỉnh Tây Nguyên 47
2.2.4. Hiệu quả hoạt động của các chi nhánh của Eximbank trên địa bàn
các tỉnh Tây Nguyên 49
2.3. Đánh giá những thành công và những tồn tại trong quá trình phát triển các
chi nhánh của Eximbank 52
2.3.1. Thành công 52
2.3.2. Những tồn tại 53
2.3.3. Nguyên nhân 54
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
PHÁT TRIỂN MẠNG LƢỚI EXIMBANK TẠI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN
TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 57
3.1. Chiến lƣợc và định hƣớng phát triển của Eximbank trên địa bàn các tỉnh
Tây Nguyên 57
3.1.1. Chiến lược 57
3.1.2. Định hướng 58
3.2. Những thuận lợi và thách thức trong việc phát triển chi nhánh ngân hàng
trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 59
3.2.1. Những thuận lợi 59
3.2.2. Những thách thức 61
Eximbank
giai đoạn 2007-20112
44
5
Bảng 2.5. Chỉ tiêu vốn điều lệ lợi nhuận sau thuế và mạng
lƣới hoạt động của Eximbank năm 2007-2011 và, ACB
45
6
Bảng 2.6. Lợi nhuận trƣớc thuế của Eximbank Đà Lạt và
Eximbank Buôn Ma Thuột giai đoạn 2009-2011
49
7
Bảng 2.7. So sánh về quy mô và thời gian hoạt động của
Eximbank và Sacombank, ACB trên địa bàn Lâm Đồng
50
8
Bảng 2.8. So sánh về quy mô và thời gian hoạt động của
Eximbank và Sacombank, ACB trên địa bàn Đăk Lăk
51
9
Bảng 2.9. Kết quả hoạt động của Eximbank CN Buôn Ma Thuột
năm 2011
51
10
Bảng 2.10. Kết quả hoạt động của Eximbank CN Đà Lạt
năm 2011
52
11
Bảng 3.1. Dự toán chi phí – thu nhập của chi nhánh Buôn
Mê Thuột
Hình 1.3 Mô hình tổ chức hoạt động của NHTM phân cấp
quản lý theo thị trƣờng và đối tƣợng phục vụ
20
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TT
Nội dung
Trang
1
Biểu đồ 2.1 Tổng tài sản Eximbank 2007-2011
40
2
Biểu đồ 2.2 Vốn điều lệ Eximbank 2007-2011
40
3
Biểu đồ 2.3 Vốn huy động Eximbank 2007-2011
40
4
Biểu đồ 2.4 Dƣ nợ Eximbank 2007-2011
40
5
Biểu đồ 2.5 Lợi nhuận trƣớc thuế Eximbank 2007-2011
40
6
Biểu đồ 2.6 Mạng lƣới hoạt động Eximbank 2007-2011
40
7
Biểu đồ 2.7 So sánh chỉ LNST giữa Eximbank, Sacombank
và ACB giai đoạn 2007 – 2011
mức tăng bình quân là 11,9%/năm bằng 4.2% GDP cả nƣớc. Thu nhập bình quân đầu
ngƣời năm 2010 là 15,5 triệu đồng trong khi đó bình quân cả nƣớc là 22 triệu đồng. So
với các vùng khác trong cả nƣớc, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có nhiều
khó khăn, nhƣ là thiếu lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng kém phát triển, sự chung đụng
của nhiều sắc dân trong một vùng đất nhỏ và với mức sống còn thấp. Tuy nhiên Tây
Nguyên có lợi điểm về tài nguyên thiên nhiên rất phù hợp với những cây công nghiệp
nhƣ cà phê, cao su, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm, trà. Chính điều này đã tạo nên đặc thù kinh
tế và cũng là thế mạnh của các tỉnh Tây Nguyên trong hoạt động kinh tế thƣơng mại.
Hoạt động thƣơng mại của Tây Nguyên chủ yếu tập trung ở các cây công nghiệp kể trên
trong đó nổi tiếng nhất phải kể đến là cà phê, cao su, điều, tiêu. Tuy nhiên, có thể thấy
tiềm lực kinh tế cũng nhƣ trình độ phát triển kinh tế-xã hội ở vùng Tây Nguyên còn ở
mức thấp chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và quy mô của vùng. Giải thích về nguyên nhân của tình trạng trên ở khía cạnh lĩnh vực ngân hàng, có thể thấy bên cạnh nguyên
nhân từ phía ngƣời dân (khả năng hấp thụ vốn kém, quy mô và trình độ quản lý kinh
doanh còn yếu,…) còn có nguyên nhân về phía các ngân hàng (chất lƣợng dịch vụ chƣa
cao, trình độ cán bộ tác nghiệp còn hạn chế, sản phẩm, chiến lƣợc đƣa ra cho các chi
nhánh trong vùng thiếu tính linh hoạt…)
Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (sau đây gọi tắt là
Eximbank) là một trong những ngân hàng thƣơng mại đầu tiên ở Việt Nam, đƣợc thành
lập vào ngày 24/05/1989 và chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 với tên gọi
đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam sau đổi thành Ngân hàng TMCP Xuất
Nhập Khẩu Việt Nam. Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở
hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Thế mạnh ban đầu của
Eximbank là lĩnh vực bán sĩ với các gói sản phẩm dịch vụ phục vụ chủ yếu cho hoạt
động thanh toán quốc tế và xuất nhập khẩu. Nhƣng đến nay trƣớc những chuyển biến
của tình hình kinh tế thế giới và trong nƣớc Eximbank đã bắt đầu chiến dịch mở rộng
mạng lƣới nhằm phục vụ cho kênh phân phối bán lẻ sắp tới. Tính đến ngày 31/12/2010,
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam đã có 183 chi nhánh trên cả nƣớc và đã
Bài báo khoa học của Astrid A. Dick đƣợc đăng trên Tạp chí kinh doanh vào tháng
3 năm 2006 với tiêu đề "Mở rộng chi nhánh trên cả nước và ảnh hưởng đến cơ cấu thị
trường, chất lượng và hoạt động của ngân hàng thương mại" cũng đã cho biết sau khi
đạo luật Riegle – Neal đƣợc thông qua ở Mỹ vào những năm 1990, trong đó quy định
cho phép các ngân hàng Mỹ đƣợc mở chi nhánh trên toàn nƣớc Mỹ đã ảnh hƣởng nhƣ
thế nào đến thị trƣờng và dịch vụ ngân hàng cũng nhƣ hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng Mỹ.
Công trình nghiên cứu của 3 tác giả Giorgio Calcagnini , Riccardo De Bonis and
Donald D. Hester vào tháng 10 năm 1999 với tiêu đề "Nhân tố ảnh hưởng đến sự mở
rộng chi nhánh ngân hàng tại Italia" cũng đã đi đến kết luận cơ cấu thị trƣờng và sự
hiện diện các chi nhánh cũ và chi nhánh của các ngân hàng đối thủ sẽ có ảnh hƣởng lớn
đến các chi nhánh ngân hàng mới; các ngân hàng có xu hƣớng mở chi nhánh tại những
khu vực có nhiều đối tƣợng khách hàng học chƣa vƣơn tới và nơi có tỷ lệ chi nhánh
ngân hàng trên đầu ngƣời thấp; các ngân hàng mới sát nhập thƣờng có nhiều chi nhánh
mới hơn…
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước: Về vấn đề phát triển hệ thống chi nhánh của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam,
các công trình nghiên cứu độc lập về vấn đề này không nhiều, khía cạnh phát triển hệ
thống chi nhánh thƣờng đƣợc đề cập nhƣ là một nội dung của phát triển các hoạt động
ngân hàng nhƣ dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tín dụng, nâng cao cạnh tranh…có thể liệt kê
nhƣ :
Bài nghiên cứu của tác giả PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi năm 2008 "Hệ thống Ngân
hàng thƣơng mại Việt Nam và những vấn đề đặt ra" cho rằng việc phát triển chi nhánh
các ngân hàng thƣơng mại đã góp phần phát triển các dịch vụ truyền thống và phát triển
các dịch vụ mới, từ đó góp phần tạo nên sự tăng trƣởng về doanh số và tỷ trọng dịch vụ.
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội
nhập của các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam đến năm 2010” của tác giả Trịnh Quốc
Trung vào năm 2004. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã đi sâu nghiên cứu về
Các NHTM có những mô hình nào trong việc phát triển mạng lƣới ?
- Eximbank đã phát triển mạng lƣới chi nhánh nhƣ thế nào trên địa bàn các tỉnh
Tây Nguyên? Những thành công và hạn chế của sự phát triển này?
- Trong thời gian tới để thực hiện đƣợc chiến lƣợc phát triển của mình, Eximbank
cần có những giải pháp và đề xuất gì trong việc phát triển mạng lƣới chi nhánh ở Tây
Nguyên.
Để trả lời câu hỏi trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về chi nhánh ngân hàng và phát triển chi
nhánh ngân hàng thƣơng mại
- Đánh giá thực trạng phát triển mạng lƣới của Eximbank trên địa bàn Tây
Nguyên: những thành công, hạn chế và nguyên nhân.
- Đƣa ra các giải pháp áp dụng vào mở rộng mạng lƣới Eximbank trên địa bàn Tây
Nguyên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hoạt động phát triển mạng lƣới chi nhánh của
Eximbank tại các tỉnh Tây Nguyên, trong đó tập trung vào 02 đối tƣợng chính là chi
nhánh và phòng giao dịch của ngân hàng. Đây là 2 đối tƣợng mà các ngân hàng hiện
nay đang tập trung nguồn lực để phát triển và mở rộng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vào hoạt động phát triển mạng lƣới của Eximbank ở
Tây Nguyên trong các 5 năm gần đây (2007-2012).
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài, luận văn sử dụng phƣơng
pháp tổng hợp, phân tích, thống kê có chọn lọc kết hợp với phƣơng pháp so sánh kết
quả trên cơ sở vận dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Trong quá trình phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn cũng nhƣ đánh giá tính
khả thi của các giải pháp, luận văn còn sử dụng các công thức toán học, bảng biểu và
ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng đầu tiên đã xuất hiện ở Hy Lạp và La Mã, sau đó lan
sang Bắc Âu và Tây Âu và các nơi khác. Thuật ngữ ngân hàng đã có từ rất lâu trên thế
giới. Theo từ điển wikipedia thuật ngữ ngân hàng đƣợc vay mƣợn giữa tiếng Anh và
tiếng Pháp (từ banque), tiếng Ý cổ (banca), và tiếng Đức cổ (banc). Các băng ghế dài
đƣợc sử dụng nhƣ bàn làm việc hoặc nơi đổi ngoại tệ trong thời kỳ Phục Hƣng bởi
những ông chủ nhà băng ở vùng Florentine là hình thức hoạt động đầu tiên của ngân
hàng ngày nay. Một số ý kiến cho rằng các nghiệp vụ ngân hàng xuất phát từ nhu cầu
ban đầu của các thƣơng gia là đổi tiền và dịch vụ thanh toán hộ. Ban đầu các thƣơng gia
lập nên những điểm để đổi tiền, thu tiền và thanh toán hộ cho ngƣời gửi có lấy phí.Về
sau nhận thấy các khoản tiền này có khả năng sinh lời các thƣơng gia đã trả tiền lời cho
ngƣời gửi tiền nhằm tăng số tiền gửi. Nhƣ vậy các giao dịch ban đầu chỉ là nhận tiền
gửi. thu phí và thanh toán hộ. Khi các thƣơng gia này nhận thấy có một lƣợng tiền mặt
luôn tồn lại két trong khi có một số khác lại có nhu cầu vay vốn vì thế họ cho vay tiền
để có thêm lợi nhuận.
Theo historyworld.net ngân hàng lại bắt nguồn từ việc ngƣời dân Ai Cập có thói
quen gởi tài sản vàng cho các tu sĩ các đền thờ nhằm đảm bảo an toàn. Sau này khi thấy
một số khác lại có nhu cầu vốn nên các tu sĩ này đã cho họ mƣợn tiền.Và khái niệm ngân hàng đã xuất hiện từ đó. Một trong những ngân hàng đầu tiên đƣợc biết đến là
Banco di San Giorgio vào năm 1407 tại Genoa - Ý.
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về NHTM. Theo Luật của Mỹ: “Ngân hàng là
loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất –
đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Theo đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “NHTM là những xí
nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới
hình thức ký thác, hoặc dƣới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ
trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam, khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại đƣợc quy định tại Khoản 1, 2 và
a. Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động hoạt động huy động vốn hay còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi của
NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của các NHTM. Vì các
NHTM hoạt động chính là đi vay để cho vay. Theo luật Các tổ chức tín dụng năm 2010,
hoạt động huy động vốn bao gồm:
- Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu
- Các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi
cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận. Hoạt động
Trong hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh các hình thức nhận tiền gửi trên để
huy động vốn, các NHTM còn sử dụng các hoạt động sau để huy động vốn trong trƣờng
hợp gặp khó khăn về thanh khoản:
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín
dụng nƣớc ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nƣớc. b. Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng của NHTM, theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm
2010, đƣợc hiểu là hoạt động của NHTM cho các cá nhân, doanh nghiệp hay các tổ
chức kinh tế vay vốn dƣới nhiều hình thức khác nhau. Chính vì vậy mục 13 Điều 4,
Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân
sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc
có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Cụ thể nhƣ sau:
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hoạt động cho vay
bao gồm: cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc cho phép.
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân
hàng trong nƣớc.
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc cho phép.
d. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp
dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động khác,
bao gồm:
- Góp vốn và mua cổ phần: NHTM đƣợc dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp
vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các Tổ chức tín dụng khác trong nƣớc theo
quy định của pháp luật. Ngoài ra, NHTM còn đƣợc góp vốn, mua cổ phần và liên doanh
với ngân hàng nƣớc ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh. - Tham gia thị trƣờng tiền tệ: NHTM đƣợc tham gia thị trƣờng tiền tệ, theo quy
định của Ngân hàng Nhà nƣớc, thông qua các hình thức mua bán các công cụ của thị
trƣờng tiền tệ.
- Kinh doanh ngoại hối: NHTM đƣợc phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập
công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trƣờng trong nƣớc và thị
trƣờng quốc tế.
- Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM đƣợc ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý trong các
lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tƣ của
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc theo hợp đồng ủy thác, đại lý.
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM đƣợc cung ứng dịch vụ bảo hiểm, đƣợc
thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của
pháp luật.
- Tƣ vấn tài chính: NHTM đƣợc cung ứng các dịch vụ tƣ vấn tài chính, tiền tệ cho
khách hàng dƣới hình thức tƣ vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tƣ vấn trực thuộc
ngân hàng.
hàng. Chi nhánh ngân hàng còn có thể cung cấp các khoản vay cá nhân, vay sản xuất,
vay thế chấp…từ đó giúp cho ngân hàng ngày càng thuận lợi đối với khách hàng. Khái
niệm và cách diễn giải về chi nhánh ngân hàng của Wisegeek tƣơng đối cũ trong bối
cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển trên nền công nghệ thông tin ngày càng
phát triển. Chi nhánh theo Wisegeek chỉ là địa điểm có thể riêng biệt hoặc không riêng
biệt thực hiện các dịch vụ ngân hàng truyền thống cho khách hàng, giúp khách hàng tiết
kiệm thời gian và chi phí để đi đến trụ sở chính quá đó nâng cao khả năng cạnh tranh
cạnh tranh của NHTM.
Theo định nghĩa của trang web Bách khoa toàn thƣ mở, chi nhánh ngân hàng hay
chi nhánh của các tổ chức tài chính là địa điểm bán lẻ, nơi ngân hàng, hiệp hội tín dụng
hoặc các tổ chức tín dụng cung cấp những dịch vụ trực tiếp hoặc tự động cho khách
hàng của họ. Với cách hiểu này, chi nhánh ngân hàng là nơi thực hiện các nghiệp vụ
ngân hàng trực tiếp với khách hàng nhƣ nhận tiền gửi, cho vay tại địa điểm cách xa trụ
sở chính. Việc mở chi nhánh sẽ giúp NHTM tăng cƣờng sự hiện diện của mình trên những địa bàn khác nhau, từ đó thu hút thêm khách hàng và nâng cao khả năng cạnh
tranh.
Theo luật của Mỹ, quy định tài điều 12 USC 36 (i), chi nhánh bao gồm chi nhánh
ngân hàng, trụ sở, đại lý, trụ sở phụ hoặc bất cứ địa điểm kinh doanh nào do ngân hàng
mẹ thành lập có chức năng nhận tiền gửi, trả séc hoặc cho vay tiền. Luật Mỹ cũng quy
định những loại hình không phải là chi nhánh nhƣ: Trạm kiểm tra séc đặt tại những địa
điểm không phải ở ngân hàng; những nơi mà những ngƣời thông thƣờng không thể vào
để gửi tiền, rút tiền hoặc vay tiền; những địa điểm bên cạnh hoặc trong khu vực trụ sở
chính hoặc chi nhánh đƣợc cấp giấy phép của ngân hàng, máy ATM, văn phòng cho
vay; văn phòng nhận tiền; trụ sở chính của ngân hàng,
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học-công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin đã làm cho mô hình tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng đã có
nhiều thay đổi kể từ năm 1980 để ứng phó với sự cạnh tranh ngày càng tăng trên thị
trƣờng tài chính. Ví dụ, sự phát triển về công nghệ tài chính nhƣ internet banking cũng
1.1.3. Phân loại chi nhánh ngân hàng:
- Phân loại Bách khoa toàn thƣ mở:
+ Chi nhánh truyền thống hay có trụ sở cố định: đây là loại hình chi nhánh của các
tổ chức tài chính có văn phòng trụ sở. Loại hình chi nhánh này thông thƣờng công cấp
tất cả các loại dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vũ cất trữ tài sản, chi nhánh ngân hàng
loại này có thể đặt những máy ATM.
+ Chi nhánh trong trung tâm: là loại chi nhánh có trụ sở tại các trung tâm mua bán
nhƣ siêu thị, trung tâm mua sắm. Loại hình này có thể cũng cấp tất cả hay một phần
dịch vụ ngân hàng. Loại chi nhánh này có lƣợng nhân viên hạn chế và sử dụng nhiều
công nghệ để thực hiện các dịch vụ ngân hàng nhƣ máy ATM, ngân hàng trực tuyến qua
truyền hình.
+ Chi nhánh ngân hàng xanh, là thƣơng hiệu độc quyền đƣợc cấp cho Công ty
Dịch vụ tài chính PNC nhằm thúc đẩy xây dựng những toàn nhà trụ sở, địa điểm lựa
chon đặt trụ sở thân thiện với môi trƣờng . Cách phân loại này tập trung vào địa điểm đặt chi nhánh và các dịch vụ mà chi
nhánh thực hiện.
- Phân loại theo Quyết định 13/2008/QĐNHNN ngày 29/04/2008 gồm: sở giao
dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm,
máy giao dịch tự động, trong đó:
- Sở giao dịch là đơn vị phụ thuộc trụ sở chính của ngân hàng thƣơng mại, hạch
toán phụ thuộc, có con dấu, thực hiện hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của ngân
hàng thƣơng mại. Mỗi ngân hàng thƣơng mại chỉ đƣợc mở một sở giao dịch. Địa điểm
sở giao dịch nằm trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng nơi ngân
hàng thƣơng mại đặt trụ sở chính.
- Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thƣơng mại, có con dấu, thực hiện hoạt
động kinh doanh theo ủy quyền của ngân hàng thƣơng mại.
- Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thƣơng mại, có con dấu, thực
hiện chức năng đại diện theo ủy quyền của ngân hàng thƣơng mại. Văn phòng đại diện
1.2. Mối quan hệ giữa trụ sở chính và chi nhánh của NHTM
1.2.1. Các mô hình tổ chức mối liên hệ giữa chi nhánh và trụ sở chính
Về quản trị, hiện nay hầu hết các NHTM Việt Nam đều đƣợc tổ chức theo mô
hình: trụ sở chính quản lý sở giao dịch, các chi nhánh và các công ty trực thuộc. Các sở
giao dịch và chi nhánh cấp 1 quản lý PGD, điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm và chi nhánh
cấp 2 (nếu có). Chi nhánh cấp 2 quản lý PGD và quỹ tiết kiệm của nó.
Về mô hình tổ chức, các NHTM đang tổ chức theo 2 dạng:
+ Phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ.
+ Phân cấp quản lý theo thị trƣờng và đối tƣợng phục vụ (hay còn gọi là quản lý
theo nhóm khách hàng).
Đối với dạng phân cấp quản lý theo loại hình nghiệp vụ Hội sở chính ngân hàng
giao nhiều quyền năng cho chi nhánh, mức độ can thiệp sâu của hội sở vào hoạt động
kinh doanh của chi nhánh là không nhiều dẫn đến hoạt động kinh doanh không đƣợc tập trung cao, chủ yếu là xử lý phân tán. Do vậy, mô hình tổ chức hoạt động ở cả hội sở và
chi nhánh đều rất đơn giản. Đặc trƣng của mô hình này là cơ chế thành lập các phòng,
ban đơn thuần ở hội sở và tại các chi nhánh nhƣ phòng tín dụng, phòng dịch vụ khách
hàng và các bộ phận có chức năng hỗ trợ, tổng hợp.
Mô hình tổ chức nhƣ trên chỉ thích hợp trong điều kiện hoạt động với qui mô nhỏ,
mức độ tập trung quyền lực cao. Khi một NHTM có qui mô ngày càng lớn với số lƣợng
chi nhánh ngày càng nhiều, khối lƣợng và tính chất công việc ngày một phức tạp hơn thì
mô hình tổ chức nhƣ vậy sẽ bộc lộ những hạn chế, nhất là trong việc tổ chức và bố trí
các phòng nghiệp vụ cả ở cấp trung ƣơng và chi nhánh hiện đang phân cấp quản lý theo
loại hình nghiệp vụ, chƣa chú trọng quản lý theo thị trƣờng và đối tƣợng phục vụ. Rõ
ràng, với áp lực cạnh tranh, yêu cầu chuẩn hoá hoạt động tổ chức theo hƣớng gọn nhẹ,
hiệu quả đang là đòi hỏi đối với cả các ngân hàng lớn cũng nhƣ các ngân hàng quy mô
nhỏ. Trong những năm gần đây, mô hình ngân hàng hiện đại tổ chức phân cấp quản lý
theo nhóm khách hàng đã đƣợc gia nhập vào Việt Nam và đƣợc áp dụng hiệu quả tại
một số ngân hàng thƣơng mại lớn của Việt Nam.
P. Ngân
Qũy, P.
Chuyển tiền
du học, … HỘI SỞ
Phòng Tín
Dụng ( Cá
Nhân,
Doanh
Nghiệp)
Phòng/ Ban
Hỗ Trợ Khác
( Kế Toán,
Hành Chánh,
Nhân Sự, )
CHI NHÁNH
P. Dịch
vụ
khách
hàng
P. Ngân
Qũy
P. Hành
Chánh
Nhân
Sự,…
Phòng