TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Chính phủ Việt Nam - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
Government of Viet Nam - United Nations Development Programme “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam”
“Strengthening Access to Justice and Protection of Rights in Viet Nam”
CHƢƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
LIÊN HỢP QUỐC BÁO CÁO
“NGHIÊN CỨU VỀ HÒA GIẢI
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM”
Bản quyền của Dự án Tăng cường tiếp cận công lý và vệ quyền tại Việt Nam.
Những quan điểm trong Báo cáo này là quan điểm của tác giả và không phải là
quan điểm của Dự án hay của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP).
dân sự tại Tòa án
2
BÁO CÁO
“NGHIÊN CỨU VỀ HÒA GIẢI
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM”
Thuộc Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam”
(Dự án 58.492)
I. BỐI CẢNH
Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi tranh chấp xảy ra, các bên thường cố gắng
tự thương lượng, dàn xếp với nhau hoặc tìm đến người thứ ba để được hỗ trợ
trong việc tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột, chấm
dứt các tranh chấp, bất hòa. Trường hợp các bên tranh chấp không tự thương
lượng, hòa giải được với nhau về việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu Tòa án
giải quyết, thì tranh chấp sẽ được Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố
tụng dân sự.
Pháp luật tố tụng dân sự xác định hòa giải vừa là nguyên tắc cơ bản trong
hoạt động tố tụng dân sự, vừa là thủ tục tố tụng mà Tòa án, các đương sự có trách
nhiệm tiến hành khi giải quyết vụ việc dân sự. Hòa giải tranh chấp tại Tòa án là
phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều
nước trên thế giới. Bởi theo nguyên tắc “việc dân sự cốt ở đôi bên”, thì pháp luật
luôn có xu hướng tạo điều kiện để các bên đương sự tự thương lượng, thỏa thuận
giải quyết tranh chấp của mình. Hòa giải tranh chấp tại Tòa án là một trong những
chế định nhằm thực hiện nguyên tắc này. Ở Việt Nam, trong suốt quá trình tố tụng
tại Tòa án, các bên vẫn có quyền quyết định và tự định đoạt việc giải quyết tranh
chấp không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Cụ thể là:
Theo tinh thần quy định của khoản 2 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây
viết tắt là BLTTDS) về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, thì trong
quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các
Thị Kim Nga, “Tìm hiểu ngành luật tố tụng dân sự”, Nxb Mũi Cà Mau, 1999; TS.
Trần Văn Quảng, “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam –
cơ sở lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội – 2004; Ths. Đức Thị
Hòa, “Các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2004 về hòa giải vụ việc
dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà
Nội”, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội – 2009. Đặc biệt ở Tòa án nhân dân tối
cao tính đến nay có hai công trình nghiên cứu liên quan gồm: Công trình nghiên
cứu khoa học cấp Bộ “Tòa án với việc giải quyết những vụ việc về hôn nhân và
gia đình – những tồn tại, vướng mắc và hướng hoàn thiện” do TS. Đặng Quang
Phương là Chủ nhiệm đề tài, Tòa án nhân dân tối cao – 2001; Công trình nghiên
cứu khoa học cấp cơ sở “Thực tiễn thi hành chế định hòa giải trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự - những tồn tại, vướng mắc và kiến nghị” do Cn. Nguyễn Thị
Tú là Chủ nhiệm đề tài, Tòa án nhân dân tối cao – 2002;…
Qua nghiên cứu những công trình này, có thể nhận thấy, ít nhiều các tác giả
đã có những nghiên cứu và phân tích về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
hoặc về thực tiễn hòa giải trong một số loại vụ án đặc thù như vụ án hôn nhân gia
đình. Tuy nhiên, đây đều là những công trình nghiên cứu trong bối cảnh của
những quy định pháp luật cũ. Đến nay, BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi bằng
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 và các Nghị quyết
hướng dẫn BLTTDS năm 2004 đã được thay thế bằng các Nghị quyết mới ban
hành năm 2012.
Đồng thời, ngày 18-6-2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XIII thông qua Nghị quyết số 45/2013/QH13 về điều chỉnh Chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2013 và
Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 đã bổ sung Dự án Bộ luật tố
tụng dân sự (sửa đổi) vào Chương trình chính thức; ngày 09-7-2013 Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 616/NQ-UBTVQH13 về triển khai
thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2013 và Chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh năm 2014, theo đó Tòa án nhân dân tối cao được giao là cơ quan
thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án; hoạt động tư pháp mà trọng tâm
là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao; (ii) Thực hiện
Chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp giai đoạn 2012-2016 của Ban
Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (Chương trình số 05-CTr/CCTP ngày 28-
12-2011), Tòa án nhân dân tối cao đang thực hiện Đề án “Nghiên cứu xây dựng
cơ chế mở rộng phạm vi hòa giải trong hoạt động tư pháp nhằm giảm số lượng
các vụ án phải đưa ra xét xử tại Tòa án” theo Quyết định số 174/CTTr-BCS của
Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao ngày 11-10-2012 về chương trình thực
hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp theo sự phân công của Ban chỉ đạo cải cách tư
pháp trung ương từ nay đến năm 2016, dự kiến trình Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp
trung ương năm 2014. Khẳng định tinh thần luôn nghiên cứu và định hướng hoàn
thiện pháp luật tố tụng dân sự nói chung và quy định về hòa giải trong tố tụng dân
sự nói riêng, gần đây, tại Chỉ thị số 01/2014/CT-CA ngày 14-01-2014, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo: Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, giao
cho Viện khoa học xét xử tham mưu cho lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao trong
việc rà soát các quy định của pháp luật hiện hành và khẩn trương xây dựng các dự
5
án Luật, Pháp lệnh mà Tòa án nhân dân tối cao được giao chủ trì soạn thảo, trong
đó có các dự án luật tố tụng, đảm bảo thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng
về cải cách tư pháp. Đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn xét xử;
thường xuyên rà soát để tham mưu cho lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao và Hội
đồng Thẩm phán ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật trong công tác xét xử của Tòa án.
Được sự hỗ trợ của Dự án "Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại
Việt Nam ", tiểu hợp phần này đánh giá thực trạng hòa giải tranh chấp tại Tòa án;
đưa ra những đề xuất, khuyến nghị cụ thể để hoàn thiện những quy định về hòa
giải tại Tòa án, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền của các chủ thể tại Tòa án Việt Nam.
II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN
DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
1
Từ điển Tiếng Việt, (NXB Đà Nẵng; năm 1996; Tr.430).
2
West Pus.Co (1983), Từ điển Luật học Black.
6
đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án. Điều này có nghĩa, hòa giải là sự tự nguyện
thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án với sự
giúp đỡ của Tòa án nhân dân nhằm hướng sự thỏa thuận và thương lượng giữa các
đương sự đúng pháp luật và chính sách… Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự,
hòa giải là một thủ tục đặc trưng và mang tính bắt buộc đối với Tòa án trước khi
mở phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án mà pháp luật quy định phải hòa giải
3
.
Khi tiến hành hòa giải, Tòa án thực hiện theo một trình tự và thủ tục nhất định,
Tòa án giải thích pháp luật làm cho các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình
trong quan hệ tranh chấp nhằm mục đích hướng các đương sự tự nguyện thỏa
thuận với nhau về giải quyết tranh chấp giữa họ.
Từ quy định của pháp luật và các định nghĩa nêu trên, hòa giải trong tố tụng
dân sự được hiểu là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đương
sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, hướng dẫn, động viên các đương sự tự
nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc đang có tranh chấp và đi
đến kết quả giải quyết vụ án một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam có một số đặc thù sau đây:
Thứ nhất, hòa giải vụ việc dân sự là một hoạt động tố tụng được tiến hành
theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Việc hòa giải vụ việc dân sự là một thủ tục bắt buộc (trừ những trường hợp
pháp luật quy định không được hòa giải) trong quá trình tố tụng của một vụ việc
Có thể nói đây là một trong những điểm đặc thù nhất của hòa giải vụ việc
dân sự tại Tòa án. Nếu không đảm bảo nguyên tắc các bên tự thỏa thuận và quyết
định về việc hòa giải vụ việc của mình, mà có bên bị nhầm lẫn, đe dọa, cưỡng ép
thỏa thuận, tức là quá trình hòa giải đã bị vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, là
căn cứ để bị Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị hủy quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự.
Thứ tư, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là quyết định
có hiệu lực thi hành ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm. Đồng thời, theo quy định của Điều 106 Hiến pháp năm
2013, thì “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải
được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan
phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị
nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2.1.2. Ý nghĩa của hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án
a) Bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt của đương sự trong việc giải quyết vụ
việc dân sự
Trong giao lưu dân sự, các bên được tự do giao kết và thực hiện quyền,
nghĩa vụ mà họ đặt ra không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Khi có tranh
chấp trong quá trình giao kết và thực hiện giao kết đó, các bên cũng được tự do
lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp của mình, đó có thể là Trọng tài,
Tòa án, hòa giải bằng cá nhân hoặc tổ chức ngoài Tòa án… Do đó, có thể hiểu
hòa giải được bắt nguồn từ sự giao lưu dân sự theo nguyên tắc tự do, tự nguyện
cam kết và tự thỏa thuận của các bên đương sự, hòa giải thể hiện quyền tự định
đoạt của các bên đương sự khi tham gia tố tụng dân sự.
Việc BLTTDS quy định hòa giải các vụ việc dân sự là một trong những
nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành
hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết vụ việc dân sự là nhằm bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt của đương
của BLTTDS mà chưa biết bao giờ mới kết thúc.
Khi các đương sự thỏa thuận được về việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ
việc, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nếu hết
thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự
nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó. Quyết định của Tòa án công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự thường được thi hành nhanh chóng do xuất phát từ những
cam kết tự nguyện của các đương sự nên họ tự giác thi hành. Việc khiếu nại,
kháng nghị quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thường ít xảy
ra. Trong khi đó, như trình bày ở trên, thực tiễn xét xử nhiều vụ án dân sự thường
có xu hướng bị các bên đương sự kháng cáo hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị
dẫn đến việc giải quyết những vụ án này kéo dài, phức tạp và tốn kém tiền của,
công sức, thời gian của nhà nước và đương sự. Hòa giải trong tố tụng dân sự nằm
ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, do đó, nếu các bên có thể đi đến thống nhất,
hòa giải thành, thì việc giải quyết vụ án đã được rút ngắn rất nhiều thời gian so
với một vụ án thông thường, từ đó giúp giảm nhiều loại chi phí tố tụng, thời gian,
công sức cho cả Nhà nước và các đương sự.
c) Khôi phục và củng cố đoàn kết trong nội bộ nhân dân
Trong lĩnh vực dân sự, trước khi khởi kiện, phần lớn các bên đương sự là
những người có quan hệ với nhau (quan hệ huyết thống, quan hệ bè bạn, quan hệ
kinh doanh,…) nhưng vì một lý do nào đó đã nảy sinh tranh chấp với nhau. Nếu
được sự hướng dẫn, giúp đỡ, giải thích của Tòa án, có thể các đương sự sẽ tìm ra
cách thỏa thuận chung để giải quyết tranh chấp. Việc quy định hòa giải là một thủ
9
tục trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, một phần cũng xuất phát từ truyền
thống dân tộc Việt Nam, đó là truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái và tình
cảm con người được đặt lên hàng đầu mỗi khi xem xét một vấn đề nào đó liên
quan đến tranh chấp. Hòa giải giúp cho các đương sự hiểu biết và thông cảm với
nhau, giảm bớt mâu thuẫn, tranh chấp, ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc từ tranh
chấp dân sự.
trong đó có Sắc lệnh số 18 ngày 08-9-1945 bãi bỏ ngành học quan, Sắc lệnh số 32
ngày 13-9-1945 bãi bỏ ngạch quan hành chính và quan tư pháp. Đồng thời, nhà
nước đã khẩn trương bắt tay xây dựng bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân, trong
đó hệ thống các cơ quan tư pháp đã nhanh chóng được thiết lập. Ngày 13-9-1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33 thành lập các Tòa án quân sự, hệ thống
10
các cơ quan xét xử từng bước được kiện toàn. Tuy nhiên, không thể một sớm, một
chiều hệ thống pháp luật của chế độ dân chủ nhân dân được hình thành. Do đó, Sắc
lệnh ngày 10-10-1945 quy định “Cho đến khi ban hành được các bộ luật cho toàn
cõi Việt Nam, các luật lệ tiến hành ở Bắc, Trung, Nam vẫn được giữ nguyên như cũ
với điều kiện là những quy định pháp luật chỉ được thi hành nếu không trái với
những nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa”.
Với tinh thần của Sắc lệnh này, các quy định pháp luật về dân sự và tố tụng
dân sự, trong đó có các quy định về hòa giải nếu không trái với những nguyên tắc
độc lập của nước Việt Nam là chính thể cộng hòa thì tiếp tục được áp dụng. Cùng
với việc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, hệ thống pháp luật nói
chung, pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự nói riêng từng bước được hình thành
và hoàn thiện. Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự đã được nhà nước
ta hết sức chú trọng. Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946 về tổ chức Tòa án và các
ngạch Thẩm phán quy định: Ban Tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân
sự và thương sự. Nếu hòa giải được, Ban Tư pháp xã có thể lập biên bản hòa giải
có các ủy viên, đương sự ký.
Điều 4 Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự
phân công giữa các nhân viên trong Tòa án quy định: Ban Tư pháp xã hòa giải tất
cả các việc hộ và thương mại do người đương sự muốn mang ra trước ban Tư
pháp ấy. Biên bản hòa giải ấy chỉ có hiệu lực như chứng thư. Điều 9 Sắc lệnh này
quy định: Khi nhận được đơn khởi kiện về dân sự hay thương sự, ông Thẩm phán
sơ cấp phải đòi hai bên đến để thử hòa giải. Biên bản hòa giải có hiệu lực như
chứng thư. Điều 12 Sắc lệnh này cũng quy định: Những việc kiện dân sự và
Để triển khai nhiệm vụ này, Tòa án nhân dân tối cao đã ra Thông tư số 1080-
TATC ngày 25-9-1961 quy định: “Trong khi thực hiện thẩm quyền mới các Tòa
án nhân dân … Cần đề phòng khuynh hướng đưa ra xét xử nhiều việc và thiếu
kiên trì hòa giải, giáo dục các đương sự và nhân dân”.
Thông tư số 2421-TATC ngày 29-12-1961 cũng nêu rõ: “Về nguyên tắc việc
hòa giải của Tòa án không có Hội thẩm nhân dân tham gia”.
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 1959 quy định: “khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm
quyền sẽ điều tra và hòa giải, hòa giải không được, Tòa án sẽ xét xử”.
Báo cáo tổng kết công tác năm 1966 của ngành Tòa án đã nhấn mạnh việc
tiếp tục tăng cường công tác hòa giải của Tòa án nhân dân các cấp trong quá trình
xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.
Để khắc phục những bất cập của chế định hòa giải trong hệ thống pháp luật,
đáp ứng với yêu cầu giải quyết các vụ án dân sự, ngày 30-11-1974, Tòa án nhân
dân tối cao đã ban hành Thông tư 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng
dân sự. Thông tư này đã quy định thẩm quyền, trình tự và phương pháp hòa giải
các vụ án dân sự.
Có thể nói, Thông tư số 25-TATC ngày 30-11-1974 của Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự đã đánh dấu một bước phát triển
quan trọng của chế định hòa giải. Các quy định trong Thông tư này có những
điểm khác biệt so với các quy định trước đó, thủ tục và phương pháp tiến hành
hòa giải đã được quy định một cách chi tiết, rõ ràng, cụ thể.
Thông tư số 81-TATC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn các Tòa án nhân dân địa phương giải quyết tranh chấp về thừa kế quy định:
“Cần kiên trì hòa giải nhằm góp phần củng cố và phát triển tình đoàn kết thương
yêu trong nội bộ gia đình, đảm bảo sản xuất và công tác,… và phải quán triệt
phương châm hòa giải, khuyến khích sự tương trợ lẫn nhau giữa các đương sự
đảm bảo cho việc xét xử có lý, có tình và tạo thuận lợi cho việc thi hành án”.
b) Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004:
Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự, góp phần tích cực vào
Các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn có liên quan nêu trên
đã quy định cụ thể về hòa giải như: Nguyên tắc hòa giải; thẩm quyền hòa giải của
Tòa án nhân dân các cấp; thủ tục hòa giải; …
c) Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2011:
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTDS năm 2004. Sau khi
BLTTDS được ban hành, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan đã ban
hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này như:
- Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15-6-2004 của Quốc hội về việc thi
hành BLTTDS;
- Nghị quyết số 742/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24-12-2004 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về việc giao thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định
tại Điều 33 của BLTTDS cho Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh;
- Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ
nhất: “Những quy định chung” của BLTTDS;
13
- Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS
về “chứng minh và chứng cứ”;
- Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai
“Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS;
- Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy trong Phần thứ ba
“thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS.
BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự và
thủ tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh thương mại, lao động; trình tự và thủ tục giải quyết các vụ việc
nguyên tắc, thành phần, nội dung, trình tự, biên bản hòa giải cũng như quyết định
công nhận, không công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Như vậy, các quy định về hòa giải của BLTTDS đã được hoàn thiện trên cơ
sở kế thừa, pháp điển hóa các quy định về hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân gia
đình, kinh tế, lao động. Các quy định này là chuẩn mực chung cho hòa giải các vụ
án dân sự, hôn nhân, kinh tế, lao động; đồng thời tạo cơ sở để đa dạng hóa các
hình thức hòa giải tranh chấp dân sự nói chung nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt
của các đương sự và thể hiện trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức, đồng thời quy định về hòa giải của
BLTTDS đã khắc phục được sự tản mạn, phân tán của các quy định về hòa giải
trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật trước đây. BLTTDS cũng đã cá thể hóa
trách nhiệm của Thẩm phán trong việc hòa giải. Trước đây pháp luật chỉ quy định
chung chung trách nhiệm hòa giải của Tòa án dẫn đến quan niệm cho rằng bất cứ
cán bộ nào của Tòa án cũng có thể tiến hành hòa giải được.
Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã xác định trách
nhiệm của Tòa án trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự là giúp các đương sự
thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc; đồng thời tạo cơ chế đảm bảo cho
việc thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong quá trình hòa giải. Để đảm bảo
cho việc hòa giải được tiến hành nhanh chóng, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành
Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai
“Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi,
bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo
đó, các điều 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21 của BLTTDS hướng dẫn về những vụ án
dân sự không được hòa giải, những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được,
thành phần phiên hòa giải, trình tự hòa giải, biên bản hòa giải, quyết định công
nhân sự thỏa thuận của các đương sự.
2.2. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về hòa giải vụ án
giải hay không. Nếu bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt
không có lý do chính đáng thì có nghĩa là bị đơn từ chối hòa giải. Trong trường
hợp này, Tòa án không được ép buộc bị đơn tham gia hòa giải, Tòa án sẽ lập biên
bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt và ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
- Tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải: Trong quá trình hòa giải, các bên
tranh chấp được bàn bạc, thảo luận và đi đến thống nhất phương án giải quyết
tranh chấp. Nếu đương sự chấp nhận thỏa thuận và việc thỏa thuận này là do hành
vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực tác động đến ý chí chủ quan của đương sự
làm cho họ phải lựa chọn cách thức thỏa thuận để bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
danh dự nhân phẩm và tài sản của mình thì cũng không được coi là tự nguyện
thỏa thuận.
Trong quá trình hòa giải, Tòa án với vai trò trung gian giúp các đương sự
hiểu về quyền và nghĩa vụ liên quan tới các tranh chấp, tự nguyện thỏa thuận với
nhau về giải quyết vụ án. Tòa án không được can thiệp vào thỏa thuận của các
đương sự nếu nội dung thỏa thuận đó không trái pháp luật. Các đương sự là chủ
thể của các tranh chấp nên chính họ mới là người có quyền định đoạt về việc giải
quyết quyền lợi của họ trong tranh chấp đó. Giá trị pháp lý của việc hòa giải chỉ
được công nhận và ý nghĩa, tác dụng của nó chỉ trở thành hiện thực khi thỏa thuận
của các đương sự xuất phát từ chính nguyện vọng của họ.
c) Nội dung thỏa thuận không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội
Quy định này được nêu tại khoản 2 Điều 180 của BLTTDS. Sự tuân thủ
pháp luật là yêu cầu bắt buộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó,
16
trong quá trình hòa giải, các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau, nhưng các
thỏa thuận đó không phù hợp với quy định của pháp luật và trái đạo đức xã hội thì
thỏa thuận đó cũng không được công nhận. Mặt khác, là một hoạt động tố tụng,
hòa giải chỉ được tiến hành trên cơ sở của pháp luật và mọi sự thỏa thuận về giải
quyết vụ án phải phù hợp với quy định của pháp luật.
thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêu cầu đòi
bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Toà án không được hoà giải để các bên
đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
(ii) Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh 4
Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03-12-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố
tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
17
nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của
các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà
doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và
chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Toà án
tiến hành hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ
án theo thủ tục chung.
(2) Những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội
Toà án không được hoà giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp
luật (giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu
việc hoà giải nhằm mục đích để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó.
Trường hợp các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch
vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, thì Toà án vẫn phải tiến hành
hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của
giao dịch vô hiệu đó
5
.
Giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội đã vô hiệu ngay từ khi giao
Hướng dẫn tại Điều 16 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP.
18
đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của họ và bị buộc phải tham gia tố tụng. Tòa
án triệu tập bị đơn đến tham gia phiên hòa giải là muốn hai bên đương sự tự
nguyện thỏa thuận với nhau. Việc bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia
phiên hòa giải mà vắng mặt, thì chứng tỏ họ đã từ bỏ việc tham gia hòa giải. Tòa
án không có quyền ép buộc bị đơn phải tham gia hòa giải, song nếu bị đơn vắng
mặt thì nguyên đơn không còn đối tác để thỏa thuận việc giải quyết vụ án nên Tòa
án sẽ không tiến hành hòa giải được.
(2) Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng
Trường hợp này được áp dụng đối với cả hai bên đương sự. Khi các đương
sự có lý do chính đáng để từ chối tham gia phiên hòa giải thì Tòa án cũng không
thể tiến hành hòa giải được. Chẳng hạn, đến ngày tham gia phiên hòa giải mà
đương sự bị bệnh nặng phải nằm viện điều trị hoặc trên đường đương sự đến Tòa
án tham gia phiên hòa giải mà không may bị thương tích nặng do tại nạn giao
thông và phải vào viện cấp cứu thì Tòa án phải hoãn phiên hòa giải, đương nhiên
trường hợp này phải có giấy tờ hợp lệ của bệnh viện.
(3) Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực
hành vi dân sự
Theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì người bị coi là
mất năng lực hành vi dân sự khi người đó rơi vào tình trạng không thể nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình do bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác.
Trong vụ án ly hôn, vợ và chồng là chủ thể chính, nếu một trong hai bên đã rơi
vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án không thể hòa giải được.
Nếu Tòa án tiến hành hòa giải trong trường hợp này, thì kết quả hòa giải đó cũng
không được pháp luật thừa nhận. Bởi vì khi một người đã không thể nhận thức và
làm chủ được hành vi của mình thì sự thỏa thuận của họ không phải là ý chí thực
của họ.
Đối với những vụ án mà Tòa án không tiến hành hòa giải được trong quá
phiên hòa giải theo Mẫu số 06b ban hành kèm theo Nghị quyết này.
3. Nếu trong vụ án có nhiều quan hệ pháp luật mà quan hệ pháp luật này
liên quan đến đương sự này, quan hệ pháp luật kia liên quan đến đương sự khác
và việc giải quyết quan hệ pháp luật đó chỉ liên quan đến các đương sự có mặt,
không liên quan đến các đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán tiến hành hoà giải
những vấn đề có liên quan đến các đương sự có mặt.
Trường hợp nêu trên mà các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án, thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt
và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền,
nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thoả thuận của họ có ảnh hưởng
đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì thoả thuận này chỉ có giá trị nếu
đương sự vắng mặt tại phiên hoà giải đồng ý bằng văn bản.
Trường hợp trước khi tiến hành hòa giải đương sự vắng mặt đã có ý kiến
bằng văn bản nhưng sau khi kết thúc phiên hòa giải, nội dung thỏa thuận của các
đương sự có mặt khác với nội dung văn bản thể hiện ý chí của đương sự vắng mặt,
thì Tòa án phải lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt về thỏa thuận của
các đương sự tại phiên hòa giải. Thủ tục và thời hạn lấy ý kiến bằng văn bản của
đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trường hợp
đương sự đồng ý với kết quả hoà giải thì ngày nhận được ý kiến bằng văn bản của
đương sự vắng mặt được xác định là ngày các đương sự thỏa thuận được với nhau
về vấn đề phải giải quyết trong vụ án.”
Rõ ràng, pháp luật tố tụng dân sự quy định trách nhiệm hòa giải của Tòa án
nhưng thực chất đó là trách nhiệm của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
việc, Thẩm phán được phân công luôn là người chủ động, bố trí thời gian và nội
dung của các buổi làm việc. Thẩm phán cũng là người trực tiếp chịu trách nhiệm
20
trước cấp trên và nhà nước về kết quả giải quyết vụ việc dân sự. Do vậy, trong
phiên hòa giải chính thức, bắt buộc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc
phải giữ vai trò là người chủ trì. Hơn nữa, chỉ có Thẩm phán giải quyết vụ việc
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tham gia
tố tụng và vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình. Việc tham gia tố tụng của người có quyền, nghĩa vụ
liên quan có thể do họ chủ động hoặc bị yêu cầu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bao gồm hai loại: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố
tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không
độc lập. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập có đủ
điều kiện pháp lý để khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ án dân sự đã xuất hiện
giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của họ, nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ
21
gặp khó khăn hơn. Yêu cầu của họ có thể chống lại cả nguyên đơn và bị đơn.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không độc lập có quyền và lợi ích phụ thuộc
vào nguyên đơn hoặc bị đơn nên việc tham gia tố tụng của họ phụ thuộc vào
nguyên đơn hoặc bị đơn. Tuy nhiên, khi tham gia tố tụng họ vẫn có quyền quyết
định trong phạm vi quyền hạn của họ.
Ngoài Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, pháp luật cũng quy định thành
phần tham gia phiên hòa giải còn bao gồm cả người phiên dịch nếu đương sự
không biết tiếng Việt, cá nhân, tổ chức khác có liên quan vụ việc dân sự.
2.2.4. Nội dung hòa giải
Nội dung hòa giải được quy định theo Điều 185 của BLTTDS:“Khi tiến
hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp
luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ
của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án”.
Theo hướng dẫn tại Điều 18 của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, hướng
dẫn về nội dung hòa giải như sau:
“1. Toà án xem xét các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ án phải giải
quyết để tiến hành hoà giải từng yêu cầu theo thứ tự hợp lý.
b) Tiến hành phiên hòa giải
Theo quy định tại Điều 185a của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 19 Nghị
quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án tiến
hành việc hòa giải theo trình tự như sau:
(1) Thẩm phán khai mạc phiên hòa giải và kiểm tra căn cước của những
người tham gia phiên hòa giải
- Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải khai mạc phiên hòa giải như sau: “Hôm
nay, ngày, tháng, năm, Toà án nhân dân… tiến hành tổ chức hòa giải vụ án về…,
tôi tuyên bố khai mạc phiên hòa giải”.
- Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải giới thiệu họ, tên những người tiến hành
tố tụng, người giám định, người phiên dịch, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác tham
gia phiên hòa giải (nếu có).
- Thư ký Toà án báo cáo với Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải về sự có mặt,
vắng mặt của những người tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập, giấy báo
của Toà án và lý do vắng mặt. Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải kiểm tra lại sự có
mặt và kiểm tra căn cước của những người tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu
tập, giấy báo của Toà án (quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 184 của
BLTTDS).
- Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải phải phổ biến đầy đủ quyền, nghĩa vụ của
các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác quy định tại điều luật
tương ứng của BLTTDS.
Ví dụ: Đối với nguyên đơn phải giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ của họ
quy định tại Điều 58 và Điều 59 của BLTTDS,… Đối với người phiên dịch, Thẩm
phán chủ trì phiên hòa giải yêu cầu họ phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ; đối với
người làm chứng là người thành niên, thì yêu cầu họ cam đoan khai báo trung
thực.
(2) Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải theo nội dung hoà giải quy định tại
Điều 185 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 18 của Nghị quyết này.
(3) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến
của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa giải.
đổi thoả thuận của họ. Biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự và
lưu vào hồ sơ vụ án. Việc thay đổi ý kiến về sự thoả thuận này phải được Tòa án
thông báo cho các đương sự khác có liên quan đến thoả thuận đó.
c) Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự quy định tại
Điều 187 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 21 của Nghị quyết số 05/2012/NQ-
HĐTP, cụ thể như sau:
Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có
đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó, thì về nguyên tắc chung Thẩm
phán chủ trì phiên hoà giải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương
sự. Nếu vì trở ngại khách quan mà Thẩm phán không ra quyết định được, thì
Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán khác ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự.
Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, nếu
các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án (các quan
hệ pháp luật, các yêu cầu của các đương sự trong vụ án) và có thể cả về án phí.
Việc thỏa thuẩn về án phí phải tuân theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí