i
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
6. Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn 4
7. Kết cấu của Luận văn 4
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC
TẾ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 5
1.1. Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 5
1.1.1. Khái niệm, mối quan hệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động 5
1.1.1.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5
1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động 11
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu
lao động 16
1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 21
1.1.2.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và một số thuật
ngữ liên quan 21
1.1.2.2. Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 23
1.1.2.3. Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 24
1.2. Chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở một
số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 29
1.2.1. Chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở một
số quốc gia trên thế giới 29
2.2.1.1. Về quy mô lực lượng lao động 61
2.2.1.2. Về cơ cấu nông thôn-thành thị 62
2.2.1.3. Về di dân và di chuyển lao động nông thôn ra thành thị 64
2.2.1.4. Về tỷ lệ lao động trong độ tuổi /lực lượng lao động 69 iii
2.2.1.5. Về chất lượng lao động nông thôn 70
2.2.2. Chuyển dịch “cầu” lao động nông thôn 72
2.2.2.1. Theo ngành kinh tế ở nông thôn 72
2.2.2.2. Trong nội ngành nông-lâm-ngư nghiệp 76
2.2.2.3. Về công việc 77
2.2.2.4. Theo lao động làm thuê và tự làm 78
2.3. Đánh giá chung 81
2.3.1. Kết quả đạt đƣợc 81
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 82
2.3.2.1. Những hạn chế 82
2.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế 84
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY QÚA
TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 88
3.1. Bối cảnh mới và những quan điểm, định hƣớng của chuyển dịch cơ
cấu lao động nông thôn 88
3.1.1. Bối cảnh trong nƣớc và quốc tế 88
3.1.1.1. Bối cảnh quốc tế 88
3.1.1.2. Bối cảnh trong nước 92
3.1.2. Quan điểm, định hƣớng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động nông thôn ở Việt Nam trong thời gian tới 94
3.1.2.1. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 94
3.1.2.2. Những định hướng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
v
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ LĐTB-XH: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
CNH : Công nghiệp hoá
CNKT : Công nhân kỹ thuật
ĐTH : Đô thị hoá
GDP : Tổng sản phẩm quốc dân
HĐH : Hiện đại hoá
HTX : Hợp tác xã
LLLĐ : Lực lượng lao động
NSLĐ : Năng suất lao động
NXB : Nhà xuất bản
TCTK : Tổng cục Thống kê
THCN : Trung học chuyên nghiệp
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Bảng 2.10: Giá tiền công lao động/ngày một số nghề, công việc chủ yếu . 56
Bảng 2.11: Tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập bình quân đầu ngƣời
của một số quốc gia Đông Nam Á năm 2004 57
Bảng 2.12: Thu nhập bình quân ngƣời/tháng nông thôn-thành thị
năm 2001-2002 58
Bảng 2.13: Lực lƣợng lao động nông thôn thời kỳ 1996-2004 62
Bảng 2.14: Tỷ lệ LLLĐ nông thôn-thành thị thời kỳ 1996-2004 63
Bảng 2.15: So sánh tỷ lệ LLLĐ nông thôn theo vùng lãnh thổ 64
Bảng 2.16: Tỷ lệ lao động nông thôn di chuyển đến một số thành phố và
một số vùng cơ bản 66
Bảng 2.17: Tỷ lệ lao động di chuyển theo độ tuổi 67
Bảng 2.18: Tỷ lệ lao động di cƣ theo tuổi và nơi điều tra 68
Bảng 2.19: Tỷ lệ lao động trong độ tuổi so với LLLĐ ( nông thôn) 69
Bảng 2.20: Cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế cả nƣớc 1996-2004 72 vii
Bảng 2.21: Việc làm phân theo ngành nông nghiệp-phi nông nghiệp thời
kỳ 1996- 2004 73
Bảng 2.22: So sánh chuyển dịch cơ cấu việc làm và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế thời kỳ 1996-2003 75
Bảng 2.23: Chuyển dịch cơ cấu việc làm nội ngành nông-lâm-ngƣ thời
kỳ 1996-2004 77
Bảng 2.24: Cơ cấu lao động-việc làm theo nhóm nghề của 99 xã điều tra 78
Bảng 2.25: Cơ cấu lao động tự làm theo vùng khu vực nông thôn 80
Bảng 2.26: Cơ cấu lao động làm thuê theo vùng khu vực nông thôn 80
Đồ thị 1: Cơ cấu giới tính của lực lƣợng lao động 41
Đồ thị 2: Cơ cấu lực lƣợng lao động phân theo trình độ văn hoá 42
Đồ thị 3: Cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế năm 2004 44
Đồ thị 4: Cơ cấu việc làm theo thành phần kinh tế 46
năm 2010.
Như vậy, với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đẩy nhanh
CNH, HĐH theo chủ trương của Nghị quyết Hội Nghị Trung ương 5 khóa IX:
“chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tăng hiệu quả sử dụng lao động,
tăng hiệu quả việc làm, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và đời sống của
người dân nông thôn góp phần xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ cấp bách hiện
nay”.
Với những yêu cầu đặt ra về lý luận và thực tiễn như trên, việc tìm hiểu và
nghiên cứu vấn đề: “Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở Việt Nam” là hết 2
sức cần thiết và tôi chọn đó làm đề tài Luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn tuy không còn là một vấn đề
mới, nhưng đối với Việt Nam nó vẫn luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng đặt ra
đối với nhiều nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và nhiều cơ quan quản
lý từ địa phương đến Trung Ương. Trong những năm qua đã có một số công
trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:
- Phạm Đỗ Trí, Đặng Kim Sơn, Trần Nam Bình, Nguyễn Tiến Triển
(2003), Nông thôn Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới; Làm gì
cho nông thôn Việt Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh.
- Trương Thị Tiến (1999), Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở
Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (2003), Chuyển dịch cơ cấu Kinh tế
trong điều kiện hội nhập với khu vực và trên thế giới, Nxb Thống kê, Hà Nội.
- Chu Tiến Quang (2001), Việc làm ở nông thôn-thực trạng và giải pháp,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
- Nguyễn Hữu Dũng (chủ nhiệm chương trình trọng điểm cấp Bộ (2002-
2003), Các căn cứ lý luận và thực tiễn để tiếp tục đổi mới chính sách và giải
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra của Luận văn, trong quá trình
nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp phân tích và
tổng quan tài liệu sẵn có, phương pháp phân tích thống kê, so sánh.
6. Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu lao 4
động.
Phân tích một số chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
lao động nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở Việt Nam
trong thời gian qua từ đó thấy được những mặt đạt được, hạn chế và
nguyên nhân của nó.
Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động nông thôn ở Việt Nam trong thời gian tới.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Nội
dung chính của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung và kinh nghiệm quốc tế về chuyển dịch
cơ cấu lao động nông thôn
Chƣơng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở Việt
Nam trong thời gian qua
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy qúa trình chuyển dịch cơ
cấu lao động nông thôn ở Việt Nam trong thời gian tới
ứng của từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận, gắn với
điều kiện kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế-xã hội đã được xác định.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù khách quan. Tính khách quan của cơ cấu
kinh tế thể hiện ở chỗ, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao
động xã hội quyết định sự hình thành cơ cấu kinh tế. Một cơ cấu kinh tế như thế
nào, xu thế chuyển dịch của nó ra sao phụ thuộc vào những điều kiện khách quan
về tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định. Tương ứng với những điều kiện tự nhiên
và trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định,
tất yếu có một cơ cấu kinh tế phù hợp. C.Mác: “trong sự phân công xã hội thì
con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi, một sự tất yếu thầm kín, yên
lặng”. Điều đó thể hiện ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, mỗ điều kiện phát
triển kinh tế đều có thể xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Cơ cấu kinh tế hợp lý đó là một cơ cấu kinh tế phải đảm bảo: Phản ánh
được đúng quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế
và xã hội. Đặc biệt là các quy luật kinh tế như: quy luật quan hệ sản xuất phải
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật tái sản xuất…Đảm bảo khai thác tối đa
các tiềm năng nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực của cả nước, của ngành, của
địa phương và lãnh thổ. Sử dụng được ngày càng nhiều lợi thế tuyết đối và lợi
thế so sánh giữa trong nước và nước ngoài, giữa các vùng và các khu vực. Phản
ánh được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật, xu hướng
toàn cầu hoá và thương mại quốc tế. Đó là một cơ cấu kinh tế mang lại hiệu quả
kinh tế-xã hội cao. 7
Tóm lại cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế đảm bảo được tốc độ
tăng trưởng nhanh, bền vững và đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Nền
kinh tế sẽ phát triển thuận lợi nếu cơ cấu kinh tế thực tế càng gần với cơ cấu kinh
Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân hay của một vùng có nội dung rộng lớn,
đa dạng bao gồm nhiều bộ phận hợp thành, tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ của
một hệ thống kinh tế. Nói cách khác có nhiều cách phân loại cơ cấu kinh tế theo
từng tiêu chí kinh tế như:
- Cơ cấu kinh tế ngành: Ngành kinh tế là tổng thể những hoạt động kinh tế
giống nhau hoặc gần giống nhau của các đơn vị trong nền kinh tế quốc dân để
sản xuất ra những sản phẩm hoặc dịch vụ có những đặc tính chung nhất định. Cơ
cấu kinh tế ngành được hình thành trên cơ sở phân công lao động theo ngành, là
kết quả của sự phân công lao động xã hội.
Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp các ngành hợp thành, là các nhân tố tạo
thành ngành kinh tế, là quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố tạo thành ngành kinh tế
và trong nội bộ ngành đó.
Cơ cấu kinh tế ngành, xét về mặt số lượng là biểu hiện quan hệ tỷ lệ giá trị, tỷ
trọng của ngành đó so với ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Quan hệ tỷ lệ,
tỷ trọng về mặt giá trị của một ngành nào đó trong cơ cấu ngành luôn luôn có sự
thay đổi, chuyển dịch. Về mặt chất lượng, cơ cấu ngành biểu thị sự tác động qua
lại bên trong giữa các ngành với nhau. Các quan hệ này có tác dụng thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự phát triển ngành. Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công
lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc gia,
một vùng.
- Cơ cấu kinh tế vùng: Cơ cấu kinh tế vùng phản ánh sự phân công lao 9
động xã hội về mặt không gian địa lý, phân công lao động theo vùng có nghĩa là
bố trí các ngành sản xuất trên những đơn vị lãnh thổ thích hợp để khai thác tốt
nhất các điều kiện đặc thù của mình. Do vậy, cơ cấu kinh tế vùng là mối quan hệ
giữa các ngành, các thành phần kinh tế trên phạm vi lãnh thổ. Cơ cấu kinh tế
vùng là sự thể hiện cơ cấu kinh tế ngành về không gian, vị trí địa lý được bố trí
phù hợp với sự phân công và chuyên môn hoá trong nền kinh tế, tạo lên tiền đề
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm biến đổi cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp
với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và xu hướng phát triển chung của kinh tế
thế giới cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế dựa trên sự
biến đổi cơ cấu của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế. Sự biến đổi này
được quy định bởi sự thúc đẩy của lực lượng sản xuất làm cho tốc độ tăng trưởng
giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế không đồng đều. Như vậy:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm biến đổi các yếu tố của cấu
trúc và mối quan hệ giữa các yếu tố đó hợp thành nền kinh tế theo chủ đích và
phương hướng xác định.
Cụ thể hơn với khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành: Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự
tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương quan
giữa chúng so với một thời điểm trước đó. Như vậy, điều chỉnh cơ cấu ngành chỉ
xẩy ra sau một khoảng thời gian nhất định và sự phát triển của các ngành phải
dẫn đến thay đổi mối quan hệ tương đối ổn định vốn có của chúng. Thực tế sự
thay đổi đó là kết quả của quá trình sau:
Xuất hiện thêm những ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là đã có 11
sự thay đổi về số lượng cũng như loại ngành trong nền kinh tế. Sự thay đổi này là nhỏ
và liên tục chỉ có thể nhận biết được khi hệ thống phân loại ngành là đủ và chi tiết.
Tăng trưởng về quy mô với nhịp điệu khác nhau của các ngành dẫn đến
thay đổi cơ cấu. Trong trường hợp này sự điều chỉnh cơ cấu ngành là kết quả của
sự phát triển không đồng đều giữa các ngành sau mỗi giai đoạn phát triển. Do
vậy, để đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong mỗi thời kỳ, phải
xem xét đồng thời cả tốc độ tăng trưởng và quy mô phát triển ngành ở thời điểm
xuất phát.
Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành. Thay đổi này
cạnh. Trong đó, cơ cấu lao động khía cạnh cầu là quan trọng, có tính quyết định. Cơ
cấu “cầu” lao động thể hiện sự phân công lao động xã hội, phản ánh chân thực
trình độ của nền kinh tế thông qua mối quan hệ hữu cơ với cơ cấu kinh tế.
Như vậy, khi nghiên cứu cơ cấu lao động của một quốc gia, một vùng phải
luôn đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ với cơ cấu kinh tế. Đặt quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động trong mối quan hệ qua lại, hữu cơ với quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nhằm phát hiện những hạn chế, bất cập, sự không tương thích
giữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; tìm ra nguyên
nhân của những bất cập đó. Từ đó có những giải pháp cần thiết để đạt được sự
phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế theo mục tiêu phát triển.
* Nội dung của cơ cấu lao động thể hiện ở hai khía cạnh:
Cơ cấu “cung” lao động: Cơ cấu lao động được xác định bằng chỉ tiêu phản ánh
cơ cấu (tỷ lệ) số lượng và chất lượng của nguồn lao động như sau:
+ Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động. 13
+ Tỷ lệ dân số không hoạt động kinh tế thường xuyên.
+ Tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế thường xuyên.
+ Cơ cấu chất lượng lực lượng lao động (cung) như: tỷ lệ trình độ văn hoá,
tỷ lệ trình độ CMKT…
+ Cơ cấu lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ, theo giới…
Cơ cấu “cầu” lao động: Cơ cấu này được quy định bởi cơ cấu kinh tế. Cụ thể là:
- Cơ cấu lao động theo ngành: xét về mặt số lượng là biểu hiện quan hệ tỷ
lệ, tỷ trọng lao động của ngành đó so với ngành khác trong lao động của cả nước
hay của cả vùng. Cơ cấu lao động theo ngành luôn luôn có sự thay đổi, chuyển dịch.
Về mặt chất lượng, cơ cấu lao động ngành biểu thị sự tác động qua lại bên
trong giữa các ngành với nhau. Cơ cấu lao động ngành phản ánh trình độ phân
công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc
gia, một vùng.
yêu cầu của các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật cung-cầu lao động của thị
trường lao động.
Sự di chuyển lao động cùng với các yếu tố đầu vào khác có quan hệ chặt
chẽ với nhau thông qua phương thức kết hợp các yếu tố đầu vào. Do vậy, chuyển
dịch cơ cấu lao động cũng phụ thuộc chặt chẽ vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nội dung của chuyển dịch cơ cấu lao động: 15
Chuyển dịch cơ cấu lao động phải được xem xét trong phạm vi không gian
nhất định và thời gian so sánh với một thời điểm gốc, và chuyển dịch cơ cấu lao
động được xem xét ở hai khía cạnh:
Chuyển dịch cơ cấu “cung” lao động: những thay đổi về cơ cấu số lượng
và chất lượng lao động, đáp ứng yêu cầu về sản xuất kinh doanh và thị trường
lao động (thể hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề,
nhân cách trong lao động, tính năng động của xã hội, khả năng sẵn sàng, sự linh
hoạt, tính thích ứng, tác phong và văn hoá trong lao động…).
Chuyển dịch cơ cấu “cầu” lao động: những thay đổi tỷ lệ lao động giữa
các ngành kinh tế, giữa các vùng hay giữa các thành phần kinh tế cùng quan hệ
chuyển dịch lao động giữa chúng.
Giữa chuyển dịch cơ cấu “cung” và cơ cấu “cầu” lao động có mối quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau, yêu cầu nhau. Muốn chuyển dịch cơ cấu “cầu” lao
động đòi hỏi cơ cấu số lượng và chất lượng lao động hay cơ cấu “cung” lao động
dịch chuyển thích hợp. Tức là để chuyển dịch cơ cấu “cầu” lao động đòi hỏi có
cơ cấu “cung” lao động phát triển đạt đến một trình độ cần thiết phù hợp với yêu
cầu khách quan của nền kinh tế. Nếu cơ cấu “cung” lao động không đáp ứng
được sự chuyển dịch cơ cấu “cầu” lao động (thực chất là đòi hỏi của sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế) thì không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, từ đó
không có cơ cấu lao động hợp lý.
Ngược lại, sự chuyển dịch khách quan có tính quy luật của cơ cấu “cầu”
Dân số: tổng số dân, dân số trong độ tuổi lao động, lực lượng lao động… 17
Trong các nhân tố đó thì nhân tố dân số thể hiện vừa là biến cung vừa là
biến cầu của phát triển, là yếu tố quyết định trong sự phát triển kinh tế-xã hội của
quốc gia, của vùng. Cụ thể, đối với các hoạt động kinh tế, dân số vừa là thị
trường cầu sản phẩm hành hoá và dịch vụ và vừa là nguồn cung về lao động cho
sản xuất. Do vậy, chuyển dịch cơ cấu lao động vừa là hệ quả vừa là tác nhân của
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Mối quan hệ chặt chẽ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế được thể hiện sự quá trình phân bố hiệu quả nguồn nhân lực tức là
đổi mới tình trạng phân công lao động từ phân công lao động xã hội lạc hậu, giản
đơn, chuyển sang sự phân công lao động xã hội tiến bộ hơn. Sự chuyển dịch cơ
cấu lao động gắn liền và có quan hệ chặt chẽ với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Chuyển dịch cơ cấu lao động thông qua hệ thống công cụ lao động mới, kỹ năng
mới. Như C.Mác: “Lao động được tổ chức, được phân công một cách khác nhau
tuỳ theo những công cụ mà lao động sử dụng. Cái cối xay chạy bằng tay giả định
một sự phân công khác với cái cối xay chạy bằng hơi nước…công cụ lao động
càng tập trung thì phân công càng phát triển và ngược lại. Chính vì thế mà bất cứ
một phát minh lớn hơn, và đến lượt nó, mỗi lần phân công tăng lên lại đưa đến
những phát minh mới về máy móc”. C.Mác: “Sự khốn cùng của triết học” NXB
Sự Thật. Hà Nội, 1962, Tr 153,160.
Như vậy, quá trình phát triển xã hội bao hàm trong nó sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động. ở đây cơ cấu lao động thể hiện vừa
với tư cách cơ cấu bộ phận của cơ cấu kinh tế vừa với tư cách cơ cấu dân số (cụ
thể là cơ cấu dân số hoạt động kinh tế). Và chuyển dịch cơ cấu kinh tế xét là quá
trình vận động và biến đổi các yếu tố kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế-
xã hội của một quốc gia, một vùng.