Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hà Nội tóm tắt - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________ PHẠM THỊ THƠM
NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________ PHẠM THỊ THƠM
NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1.3. KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC NƢỚC
ASEAN 26
1.3.1. Các chính sách đặc trƣng về phát triển nguồn nhân lực 26
1.3.2. Sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế ở các nƣớc
ASEAN 29
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HÀ NỘI 39
2.1. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƢỜNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ
HỘI CỦA HÀ NỘI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 39
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Hà Nội cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá 39
2.1.2. Về cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hà
Nội 42
2.1.3. Về chủ trƣơng định hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa
bàn thành phố 45
2.2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIÊP HOÁ, HIỆN ĐẠI
HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA 46
2.2.1. Về nguồn cung cấp nhân lực 46
2.2.2. Tốc độ gia tăng dân số Hà Nội và ảnh hƣởng của nó đối với
nguồn nhân lực cho công nghiệp nghiệp hoá, hiện đại hoá 49
2.2.3. Quy mô, số lƣợng nguồn nhân lực chia theo khu vực sản xuất
trên địa bàn 51
2.2.4. Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở thành
phố Hà Nội 58
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA HIỆN NAY ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC
CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 74
2.3.1. Cung - cầu lao động chƣa cân xứng 75
2.3.2. Cơ chế chính sách đào tạo, tuyển dụng, chế độ tiền lƣơng tiền công,
chế độ đãi ngộ còn nhiều bất cập 81

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới với
những thành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của
đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt trên lĩnh vực khoa học, công nghệ,
kinh tế, trong đó nhân tố đóng vai trò quyết định sự biến đổi về chất
dẫn tới sự ra đời của kinh tế tri thức, chính là nguồn nhân lực (NNL)
chất lượng cao.
Trước đây, các nhân tố sản xuất truyền thống như số lượng đất đai,
lao động, vốn được coi là quan trọng nhất, song ngày nay đã có sự thay
đổi thứ tự ưu tiên. Chính NNL có chất lượng cao mới là yếu tố cơ bản
nhất của mọi quá trình. Bởi lẽ những yếu tố khác người ta vẫn có thể có
được nếu có trí thức, song tri thức chỉ xuất hiện thông qua quá trình giáo
dục, đào tạo và hoạt động thực tế trong đời sống kinh tế - xã hội; từ chính
quá trình sản xuất ra sản phẩm để nuôi sống con người và làm giàu cho
xã hội. Vì vậy, để có được tốc độ phát triển cao, các quốc gia trên thế
giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chât lượng NNL. Ngày nay, sự
cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp, công ty, các sản phẩm
chủ yếu là cạnh tranh về tỷ lệ hàm lượng chất xám kết tinh trong sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ, nhờ nâng cao chất lượng NNL.
Do vậy, việc nâng cao chất lượng NNL đối với các quốc gia, các
tỉnh, thành phố nói chung, các doanh nghiệp nói riêng đã và đang trở
thành vấn đề cấp bách có tầm chiến lược, là vấn đề có tính chất sống
còn trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế với trình độ khoa học - kỹ
thuật, công nghệ ngày càng cao và sự lan tỏa của kinh tế tri thức
(KTTT).
Với tư cách là trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học -
kỹ thuật của cả nước nên việc phát triển của Hà Nội về mọi mặt có ý
nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với riêng Thủ đô. Sự phát triển

chính trị, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Trần Văn Nga, Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá qua thực tiễn Phú Thọ, luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, 1999.

3
- Trần Kim Hải, Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, luận án tiến sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính
trị, Học viện Chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
- Chương trình khoa học cấp Nhà nước, "Con người Việt Nam - mục
tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội" của GS.TS Nguyễn Mạnh
Đường làm chủ nhiệm.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước năm 2000, "Chiến lược phát triển
nguồn nhân lực của Việt Nam" của TS. Nguyễn Tuyết Mai, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư.
- Luận án Tiến sỹ, “Tác động KTTT đến quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân Việt Nam” tác giả Cao Quang
Xứng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia, năm 2008.
- Lê Thị Ngân, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh
tế tri thức ở Việt Nam, luận án tiến sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005
Riêng UBND thành phố Hà Nội và Sở Kế hoạch Đầu tư cũng đã tổ
chức cuộc hội thảo (năm 1999) về vấn đề “Nguồn nhân lực với sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thủ đô” trong dự án “Điều tra và
kiến nghị các chính sách huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế
- xã hội của thành phố Hà Nội”.
Ở nhóm những công trình nghiên cứu này các tác giả đã nghiên cứu
khái quát lý luận về NNL, chất lượng NNL, các yếu tố cấu thành và vai

3.1. Mục đích:
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trang NNL trên địa bàn thành phố
Hà Nội đề xuất những giải pháp phát triển NNL cho quá trình CNH,
HĐH thành phố Hà Nội trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ:
- Luận văn khái quát một số vấn đề lý luận về NNL cho quá trình
CNH, HĐH ở thành phố Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đưa ra phương hướng và giải pháp phát triển NNL cho CNH,
HĐH thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2020.

5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở thành phố Hà Nội trước
những cơ hội và thách thức mới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung bàn về việc phát triển
NNL cho CNH, HĐH ở Hà Nội trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội
nhập sâu vào nền kinh tế thế giới trong thời đại toàn cầu hóa, CNH,
HĐH và phát triển kinh tế tri thức hiện nay.
- Về thời gian: Từ 2005 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đặc biệt coi trọng
một số phương pháp cụ thể sau: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học,
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp
điều tra, phỏng vấn chuyên gia…
6. Đóng góp mới của luận văn

kinh tế xã hội của đất nước hoặc vùng địa phương cụ thể" [9, tr.22].
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người
bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,… mà mỗi cá nhân sở
hữu. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn
bên cạnh các loại vốn khác: vốn vật chất, vốn tài nguyên thiên nhiên,…
Trong kinh tế học hiện đại đầu tư cho con người được xem là đầu tư
quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở vững chắc
cho sự phát triển bền vững.
NNL tiếp cận dưới giác độ phổ quát của Kinh tế Chính trị được
hiểu là: Tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao
động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh
nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng
để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại
và tương lai của đất nước.
1.1.1.2. Chỉ số đánh giá trình độ nguồn nhân lực
Các chỉ số cá biệt cấu thành chỉ số chung về phát triển con người là:
- Chỉ số tuổi thọ

7
- Chỉ số tri thức (gồm tỷ lệ người lớn có học và số năm học trung
bình)
- Chỉ số thu nhập (gồm thu nhập thực tế và thu nhập đã điều chỉnh
theo giá cả sinh hoạt từng nước).
Như vậy chỉ số đánh giá chung nguồn nhân lực của nước tương đối
cao ty nhiên cần phải sử dụng NNL như thế nào cho đạt hiệu quả đó là
vấn đề hiện nay nước ta và các thành phố lớn của Việt Nam phải giải
quyết.
1.1.1.3. Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực trong một đơn vị hanh chính là quá trình
biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng của con người, là

* Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng đưa ra một số quan điểm
chỉ đạo sau:
Một là: giữ vững độc lập tự chủ đi đôi đi đôi với mở rộng hợp tác
quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại.
Hai là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân,
của mỗi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.
Ba là: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Bốn là: Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại,
tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.
Năm là: Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác
định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư
chiều sâu để khai thác tối đanăng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển
mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc
làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời, xây dựng một số công trình quy mô
lớn thật cần thiết và có hiệu quả. Tạo ra những mũi nhọn trong từng
bước phát triển. Tập trung thích đáng nguồn nhân lực cho các lĩnh vực,
các địa bàn trọng điểm; đồng thời, quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu
của mọi vùng trong nước; có chính sách hỗ trợ những vùng khó khăn,
tạo diều kiện cho các vùng phát triển.
Sáu là: Kết hợp chặt chẽ và toàn diện phát triển kinh tế với củng cố
tăng cường nền quốc phòng - an ninh của đất nước.

9
* Để tiến hành CNH, HĐH nước ta phải thực hiện theo những nội
dung cơ bản sau:
Áp dụng cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nhằm phát triển
lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã

* Xúc tiến học tập suốt đời

11
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC
CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HÀ NỘI

2.1. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƢỜNG CHÍNH SÁCH KINH
TẾ - XÃ HỘI CỦA HÀ NỘI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Hà Nội cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
Cùng với vị trí địa lý thuận lợi thì các điều kiện tự nhiên của Hà
Nội cũng thích hợp cho việc phát triển sản xuất công nghiệp. Hà Nội có
khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa với 2 mùa chủ yếu trong năm là mùa
nóng và mùa lạnh có ảnh hưởng rõ rệt đến việc phát triển ngành công
nghiệp dệt - may, da - giày, công nghiệp chế biến. Nguồn nước của Hà
Nội tương đối dồi dào có thể đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất
và đời sống với quy mô lớn. Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội
khá lớn, trong đó 91% diện tích là đất ngoại thành, đó chính là điều
kiện thuận lợi cho tiến trình phát triển và mở rộng các khu công nghiệp,
khu chế xuất ra vùng ngoại thành trong thời gian tới.
2.1.2. Về cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá Hà Nội
* Hệ thống giao thông Hà Nội: Hà Nội là đầu mối của mạng lưới
giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không.
* Hệ thống điện: nguồn cung cấp điện chủ yếu cho công nghiệp Hà
Nội là nhà máy thuỷ điện Hoà Bình và nhà máy nhiệ điện Phả Lại cùng
với hệ thống lưới điện, trạm điện và hệ thống lưới chuyển tải hiện nay
đang được nâng cấp đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu về điện cho phát

2020 thành phố Hà Nội trở thành một thủ đô công nghiệp theo hướng
hiện đại, chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ kỷ cương, đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân năng lên rõ rệt. Cùng với nhân
dân cả nước giữ vững độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vện lãnh
thổ, vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế được nâng lên, tạo tiền đề
vững chắc cao hơn trong giai đoạn sau”.

13
2.2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIÊP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
2.2.1. Về nguồn cung cấp nhân lực
Hà Nội có lợi thế và tiềm năng về NNL vào loại bậc nhất của cả
nước. Lợi thế này bắt nguồn một mặt từ điều kiện lịch sử để lại với vị
trí địa lý thuận lợi là trung tâm của đồng bằng sông Hồng và với vị trí là
thủ đô trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá,khoa học kỹ thuật lớn nhất
của cả nước, mặt khác được bổ sung và phát triển trong quá trình phát
triển và hội nhập với khu vực, thế giới.
2.2.2. Tốc độ gia tăng dân số Hà Nội và ảnh hưởng của nó đối
với nguồn nhân lực cho công nghiệp nghiệp hoá, hiện đại hoá
Sự gia tăng dân số Hà Nội được quyết định bởi sự gia tăng dân số
tự nhiên và sự gia tăng dân số cơ học.
2.2.3. Quy mô, số lượng nguồn nhân lực chia theo khu vực sản
xuất trên địa bàn.
* Khu vực sản xuất công nghiệp trên đia bàn thành Phố
* Khu vực kinh tế thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ trên
địa bàn
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Đây là khu vực kinh tế chiếm số lao động chủ yếu của thành phố Hà
Nội.
2.2.4. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở

trung cấp rất lớn với nhiều loại hình đào tạo như hệ 2 năm, hệ 3 năm,
các trường quốc lập dân lập, các trường đại học, cao đẳng có đào tạo hệ
trung cấp.
* Đào tạo công nhân kỹ thuật.
Mấy năm gần đây do thấy được tính thiết thực của việc đào tạo
nghề. Vì vậy số trường nghề được hình thành rất nhiều và đa dạng gồm
cao đẳng, trung cấp nghề và dạy nghề. Đồng thời các trường đại học
cao đẳng trung cấp chuyên nghiệp cũng mở them dạy nhề ở tất cả các
quận huyện của thành phố Hà Nội hầu như huyện nào cũng có các
trung tâm dạy nghề, ngoài ra còn có các cơ sở dạy nghề tồn tại dưới các
hình thức khác nhau như ngắn hạn, dài hạn…

15
* Đào tạo mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông.
Đây là bậc học quan trọng của một đời người và là cơ sở để đào tạo
ra nguồn nhân lực ở nước ta bậc học này có sự tăng nhanh về số lượng
và chất lượng. Đặc biệt ở thành phố Hà nội với sự phát triển kinh tế
nhanh chóng nên vấn đề đầu tư cho giáo dục cũng phát triển. Số trường
chuẩn quốc gia ngày cành nhiều. chất lượng trường lớp tăng lên đáng
kể. được thể hiên qua số lượng học sinh ở các cấp học. Số nhà trẻ,
trường mầm non tăng nhanh năm 2008 là 7787 trường với 9126 giáo
viên đến năm 2011 có 857 trường và 18814 giáo viên với 65.548 cháu.
Số trường tiểu học cũng tăng nhanh để chánh tình trạng quá tải của lớp
học. năm 2005 có 664 trường với 22647 giáo viên đến năm 2011có 689
trương 20879 giáo viên với 492604 học sinh. Số trường trung học cơ sở
đi vào đầu tư cho chất lượng nên số lượng các trường dân lập chất
lượng thấp không thu hút được người học nên ngày càng giảm. năm
2010 có 591 trường với 20446 giáo viên đến năm 2011 có 586 trường
với 19722 giáo viên số học sinh cũng giảm đi đáng kể do thời kỳ này có

môn kỹ thuật còn nhiều bất cập so với yêu cầu và tiềm năng phát
triển
Sự phân bố lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
giữa khu vực sản xuất vật chất và khu vực sản xuất phi vật chất chưa
hợp lý. Có đến 65,6% cán bộ chuyên môn kỹ thuật (72% đại học, cao
đẳng; 66% trung học chuyên nghiệp) làm việc trong khu vực sản xuất
phi vật chất, còn trong khu vực sản xuất vật chất chỉ có 34,4% cán bộ
có chuyên môn kỹ thuật (28% đại học, cao đẳng; 34% trung học chuyên
nghiệp). Chính tình trạng này đã làm hạn chế việc đưa tiến bộ khoa học
và công nghệ vào sản xuất.
2.3.3. Cơ chế chính sách đào tạo, đào tạo bổ sung, tuyển dụng và
sử dụng nguồn nhân lực cũng như chế độ tiền lương, tiền công, chế
độ đãi ngộ
Với lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng còn
nhiều bất cập, đặc biệt là đội ngũ những người có trình độ chuyên môn
kỹ thuật và tay nghề cao có khả năng hội nhập và thích ứng trước
những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đặc biệt là chính sách đào tạo, nâng cao trình độ của thành phố. Người

17
lao động muốn đi học để nâng cao trình độ phải tự chi phí nên không
thúc đẩy được quá trình độ của người lao động.
2.3.4. Nhu cầu lớn về lao động có trình độ kỹ thuật, có tay nghề cao
Hiện nay nhu cầu lao động có trình độ kỹ thuật, có tay nghề cao,
thợ lành nghề tại các doanh nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất
ngày càng tăng khiến cho hệ đào tạo nghề đã và đang thu hút được
đông đảo học sinh vào học.

18
Chƣơng 3

HĐH đã làm cho Hà Nội có sự thay đổi nhanh chóng tỷ trọng công

19
nghiệp, dịch vụ trong GDP của Hà Nội tăng dần lên còn nông nghiệp
ngày càng giả xuống. Sự thay đổi này được biểu hiện qua bảng 3.1.
Như vậy nếu tốc độ phát triển của ngành công nghiệp - xây dựng
được dự báo là tăng từ 11 đến 12% một năm thì tương ứng với nó tốc
độ tăng lao động làm việc trong ngành này sẽ tăng khoảng 6 - 7%/năm.
Nghĩa là tổng lao động tăng thêm do năng lực sản xuất công nghiệp sẽ
tăng là 21 - 22 vạn người so với năm 2005, chiếm khoảng trên 70%
tổng số lao động tăng thêm của toàn ngành công nghiệp - xây dựng.
3.1.3. Dự báo nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật cho cả giai đoạn
2010 - 2020 của Thủ đô Hà Nội
Như vậy hàng năm ở Hà Nội từ 2010 - 2020 nhu cầu đào tạo mới
lao động có chuyên môn kỹ thuật là 49.750 người một năm, trong đó:
Cao Đẳng, Đại học là 10.750 người, Trung học chuyên nghiệp là
13.400 người, Công nhân kỹ thuật là 25.600 người.
Nhu cầu đào tạo công nhân các ngành dệt- may, da- giầy với kỹ
thuật cao năm 2020 là 150.000 người gấp 5 lần tổng số công nhân của
ngành năm 1999. Đối với ngành cơ khí năm 1998 có 20.000 thợ các
loại, nhưng đến năm 2020 nhu cầu số công nhân ngành cơ khí phải
được nâng lên tới 120.000 người. Ngoài ra trong nông nghiệp lao động
có trình độ chuyên môn cho sản xuất nông nghiệp cũng gia tăng, lao
đông trong ngành dịch vụ cũng đồi hỏi trình độ chuyên môn cao.
3.2. PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.2.1. Những quan điểm chiến lược về phát triển nguồn nhân lực
Vị trí của chiến lược NNL trong sự phát triển của thế giới hiện đại
được xác định:
- Con người đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển là tác nhân là

hội trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước… Trên thực tế đã có nhiều
nước bứt phá phát triển nhanh tróng từ nghèo khó thành một nước có
nền kinh tế phát triển cao như Nhật Bản là nhờ có chiến lược đúng đắn
về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực.
Thứ tư: Trình độ NNL là khâu quyết định cho việc thực thi bất kỳ
một nhiệm vụ chiến lược quan trọng nào. Bởi vậy biện pháp cải tiến cơ
cấu đào tạo và tục nâng cao trình độ nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan
trọng không chỉ trước mắt mà còn là nhiệm vụ nâu dài của toàn xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status