Nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - Pdf 10



1
Luận văn
Nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp 2mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đã và đang đạt được nhiều thành
tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đặc
biệt trên các lĩnh vực khoa học - công nghệ, kinh tế; trong đó nhân tố đóng vai
trò quyết định sự biến đổi về chất, dẫn tới sự ra đời của nền kinh tế tri thức
chính là con người.
Con người là nhân tố đặc biệt quan trọng trong mọi tiến trình biến đổi
của lịch sử, của mọi quá trình sản xuất, đồng thời cũng là lực lượng tiêu thụ
các thành quả vật chất và tinh thần do chính con người sáng tạo ra. Trong hoạt
động kinh tế con người là nguồn gốc duy nhất của cái gọi là nguồn nhân lực -
một yếu tố đầu vào đặc biệt quan trọng của mọi hoạt động, mọi quá trình kinh
tế. Nguồn nhân lực không chỉ sản xuất ra của cải vật chất mà còn là nguồn
gốc duy nhất của giá trị và do đó là giá trị tăng thêm; hơn nữa nó còn là nhân

dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
- Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước, mã số KX - 07
(1995), Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế -
xã hội, Hà Nội.
- Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX.08 đề tài KX 08-01
(1995), Báo cáo tổng hợp hệ quan điểm phát triển toàn diện kinh tế - xã hội
nông thôn, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban
Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- GS,VS Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1996), Vấn đề con người trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4 - PGS.TS Nguyễn Đình Kháng (2002), “Kinh tế tri thức và những vấn
đề mới đặt ra cho lý luận và thực tiễn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta ”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (1), tr.19 - 21.
- GS.TS Đỗ Thế Tùng (1996), Vấn đề lao động và việc làm, Trung tâm
Thông tin tư liệu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Mai Quốc Chánh (chủ biên) (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
Hầu hết các các công trình trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác
nhau của nguồn nhân lực, mà đặc biệt đã có một số công trình đề cập đến đào
tạo phát triển nguồn nhân lực để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn. Tuy nhiên, đến nay trong số các công trình được công bố chưa có công
trình nào nghiên cứu vấn đề đào tạo NNL của ngành nông nghiệp cho CNH,

5. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với
những nguyên lý, lý luận Hồ Chí Minh. Trong đó, chú trọng sử dụng phương
pháp nghiên cứu cơ bản của kinh tế chính trị Mác - Lênin như: phương pháp
kết hợp logic với lịch sử: phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh đối chiếu để làm rõ các vấn đề cần
phân tích.
6 Đóng góp của lụận văn
- Luận văn làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn của đào tạo NNL của
ngành nông nghiệp phục vụ quá trình CNH, HĐH nông nghiệp ở nước ta hiện
nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để hoàn thiện và phát triển hoạt
động đào tạo NNL của ngành nông nghiệp cho CNH, HĐH nông nghiệp ở
nước ta giai đoạn 2006 - 2010. 67. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết. 7Chương 1
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá nông nghiệp

Như vậy quá trình công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế hay là
nội dung vật chất của quá trình chuyển đổi nền kinh tế chậm phát triển sang
nền kinh tế phát triển.
b. Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
Theo nghị quyết số 15NQ/TW ngày 18/3/2002 của HNTW 5 khoá IX
về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 là:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ
khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa
học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ
thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp
nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của
nông sản hàng hoá trên thị trường [13, tr.64].
Theo đó, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp ở nước ta hiện nay bao
gồm những nội dung cơ bản sau:
- Là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống phát triển thành
nền nông nghiệp hiện đại, về thực chất là HĐH các biện pháp sản xuất nông
nghiệp, HĐH công nghệ sản xuất, HĐH quản lý sản xuất kinh doanh và HĐH
lực lượng lao động ngành nông nghiệp.
- Làm thay đổi thay đổi căn bản tính chất, phương thức sản xuất, cơ cấu
sản xuất, hình thức tổ chức quản lý sản xuất của một nền sản xuất nông
nghiệp sản xuất tự cung, tự cấp, dựa chủ yếu vào điều kiện tự nhiên với kỹ
thuật thủ công sang một nền sản xuất nông nghiệp sản xuất hàng hoá với kỹ
thuật công nghệ tiên tiến, trong điều kiện thương mại hoá toàn cầu và phải
đảm bảo cho sự phát triển bền vững về tự nhiên, kinh tế, xã hội. 9



nghiệp trong cơ cấu chung nền kinh tế, lao động ngành nông nghiệp có tỷ lệ
nhỏ trong cơ cấu chung của các ngành kinh tế.
Sự thay đổi trong cơ cấu ngành nông nghiệp không phải là nguyên
nhân chủ yếu tạo ra thị trường cho nông nghiệp mà chính sự phát triển của
công nghiệp, du lịch dịch vụ đã tạo ra thị trường cho nông nghiệp và qui định
tất yếu nông nghiệp phải chuyển thành ngành kinh doanh theo cơ chế thị
trường.
1.1.2. Khái quát về nguồn nhân lực trong tiến trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
a. Khái niệm về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trong lý thuyết phát triển và theo nghĩa rộng được hiểu
như nguồn lực con người của một quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành và là một bộ
phận của các nguồn lực có khả năng huy động để tham gia vào quá trình kinh
tế xã hội, như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính.
Theo Bộ Lao động Thương binh và xã hội: Nguồn nhân lực là tiềm
năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có
thể được xác định trên một địa phương hay một vùng đây là nguồn lực quan
trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, với tư cách là yếu tố phát triển kinh tế - xã hội, NNL là khả
năng lao động của xã hội mà theo nghĩa cụ thể, nó bao gồm nhóm dân cư
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân
lực tương đương với nguồn lao động, nghĩa là nó bao gồm mọi cá nhân,
những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu
tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Vai trò của
các yếu tố này đã được Các Mác đề cập đến, chẳng hạn như: "Sức lao động
hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại 11

12

Như vậy khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm này là việc tính hay
không tính những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc ở các ngành
kinh tế quốc dân trong nguồn lao động.
ở Việt Nam hiện nay đã thống nhất cách tiếp cận coi nguồn lực lao
động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (gồm cả những
người trên độ tuổi qui định của Bộ luật lao động, nhưng thực tế vẫn đang
tham gia vào quá trình lao động) và những người trong độ tuổi lao động, có
khả năng lao động nhưng chưa làm việc do đang trong tình trạng thất nghiệp,
đang đi học, đang đảm đương nội trợ trong gia đình và kể cả không có nhu
cầu làm việc trong thời điểm hiện tại. Như vậy, nguồn lao động là một bộ
phận dân cư có khả năng về thể chất và tinh thần có thể tham vào quá trình
lao động theo luật định.
Khái niệm về lực lượng lao động hẹp hơn khái niệm về nguồn lao
động, theo ILO, lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi qui
định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang
tích cực tìm kiếm việc làm.
Ngày nay, khoa học và công nghệ đang ở gia đoạn phát triển cao, các
nguồn lực cho sự phát triển đang có nhiều thay đổi rất căn bản, tài nguyên
thiên nhiên đang lùi dần về vị trí thứ yếu, kinh tế tri thức đang lên ngôi. Trong
phân tích kinh tế, người ta thiên về khai thác lợi thế so sánh động. Nhưng xã
hội càng phát triển thì nguồn lực lao động với đầy đủ ý nghĩa của nó, trong đó
bao hàm cả chủ thể mang trong mình nguồn lực của khoa học, đang ngày một
trở nên quan trọng, không những có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh
tranh của một quốc gia, mà thậm chí còn quyết định đến bản chất của toàn bộ
qúa trình phát triển. 13


Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học (khoa học tự
nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội), trình độ kiến thức chuyên môn,
kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán sự vật hiện tượng của mỗi
người. Nhờ trí lực, con người đã khai thác, chế ngự thiên nhiên và sử dụng nó
để bảo tồn và phát triển xã hội của mình. Trí lực của con người được phát
triển thông qua giáo dục đào tạo và lao động sản xuất.
Yếu tố xã hội bao gồm những tình cảm, tập quán, phong cách, thói
quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức và nghệ thuật
nó phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, của lịch sử phát
triển của từng quốc gia, dân tộc.
Tri thức và yếu tố xã hội là hai bộ phận cấu thành hai nhân tố tinh thần,
liên kết chặt chẽ với nhau. Nhân tố tinh thần là kết quả của một quá trình tích
luỹ lâu dài của xã hội, gia đình và từng con người. Sự phát triển kinh tế của
một quốc gia luôn gắn liền với phát triển xã hội. Phát triển những giá trị tinh
thần mới là nền tảng của một quốc gia. Kinh nghiệm thành công trong phát
triển kinh tế Nhật Bản và các nước NICs ở châu á là tiếp thu công nghệ, kỹ
thuật phương Tây trên cơ sở phát huy giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc để
đổi mới và phát triển.
- Đặc trưng về số lượng:
Số lượng NNL được xác định dựa trên qui mô dân số, cơ cấu tuổi, giới
tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số. Các chỉ tiêu về
số lượng này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu qui mô và tốc độ tăng dân số.
Các chỉ tiêu về chất lượng của NNL khi được đặt trong tổng thể nền kinh tế
thì có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó trực tiếp phản ánh thực trạng tăng dân
số đến kinh tế: đến hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, đến vấn đề đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực
- Đặc trưng về chất lượng:
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

16

 Trình độ giáo dục, tính tổng hợp theo tỷ lệ biết chữ của người lớn và
các tỷ lệ về đi học tiểu học, trung học và đại học.
 Mức sống đo bằng giá trị GDP tính bình quân đầu người thực tế theo
sức mua tương đương.
+ Các chỉ tiêu phản ánh năng lực phẩm chất của người lao động như: Tập
quán, thói quen, phong cách, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hoá dân tộc
Trong các chỉ tiêu trên, trình độ CMKT là một trong những chỉ tiêu
quan trọng nhất để thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực.
1.1.3. Một số yêu cầu cơ bản đối với hoạt động đào tạo nguồn
nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
a. Một số vấn đề cơ bản về đào tạo
Theo khái niệm phổ biến hiện nay, đào tạo là quá trình tác động đến
một con người, nhằm tạo cho người đó lĩnh hội và nắm vững các tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi
với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp
phần mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài
người. Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập ở nhà trường gắn với việc
giáo dục nhân cách; là sự phát triển có hệ thống những kiến thức, kỹ năng mà
mỗi cá nhân cần có để thực hiện đúng một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể.
Nội dung đó có thể do nhu cầu cá nhân của người được đào tạo hoặc do nhu
cầu phát triển nhân lực của tổ chức.
Hơn nữa đào tạo còn được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích,
có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có
thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả. Quá trình này được
tiến hành chủ yếu trong các cơ sở đào tạo như nhà trường, trung tâm, viện

Đối với lĩnh vực, ngành(kinh tế - văn hoá- xã hội), địa phương, cơ
quan, tổ chức là chiến lược và kế hoạch phát triển gắn với nhu cầu phát triển
NNL; là nhu cầu và mục đích của các cá nhân trong cơ quan tổ chức hoặc 18

trong một cộng đồng xã hội sẽ tham dự khoá đào tạo. Xác định nhu cầu đào
tạo là bước đầu tiên rất quan trọng trong hoạt động đào tạo. Bởi vì, đào tạo là
hoạt động đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí tài chính lớn. Nếu đào tạo tốt có
thể thu hồi lại các chi phí đó, mang lại lợi ích cho cá nhân và xã hội, ngược lại
sẽ làm tăng chi phí. Khi đánh giá nhu cầu đào tạo cần xem xét đến nhu cầu
của xã hội, các chương trình phát triển kinh tế nông thôn có tính đến các đặc
thù của từng vùng; yêu cầu về ngành nghề và trình độ; hiện trạng chất lượng
nhân lực. Việc xác định nhu cầu đào tạo của một ngành, lĩnh vực rất có ý
nghĩa cho các cơ sở đào tạo chuẩn bị về nguồn lực đào tạo.
+ Xác định các mục tiêu đào tạo:
Về nhận thức và các thông tin, kiến thức gì mà người học nhận được
khi kết thúc khoá đào tạo; về hành động là những kỹ năng cần có mà người
học có thể làm được sau khoá đào tạo; về tác động là quan điểm hoặc niềm tin
mà người học có được sau khoá đào tạo.
+ Tuyển chọn người được đào tạo:
Đối với cá nhân, quyết định học và lựa chọn ngành học hoặc chương
trình đào tạo nâng cao năng lực là đặc biệt quan trọng cho lập nghiệp trong
tương lai hoặc khả năng thích ứng với sự thay đổi công việc; trên giác độ tổ
chức, lựa chọn đúng người đào tạo sẽ tạo điều kiện cho chính con người đó cơ
hội phát triển đồng thời thúc đẩy sự phát triển đội ngũ lao động và tăng năng
suất lao động cũng như hiệu quả của đầu tư, ngược lại sẽ là chi phí lớn, là sự
lãng phí về thời gian tổ chức và sức lực của người học, lựa chọn người đào
tạo cần căn cứ nhu cầu của tổ chức, nguyện vọng và động lực của người học.

với kỹ năng, sự đa dạng của đội ngũ lao động trong tổ chức. Mục tiêu của quá
trình phát triển là làm giàu lực lượng lao động của tổ chức nói chung thông
qua việc chuẩn bị cho họ nhu cầu công việc trong tương lai.
+ Trong văn minh nông nghiệp, "đào tạo" theo kiểu kèm cặp, bắt
chước, trong văn minh công nghiệp là qua trường đào tạo nghề trên một lĩnh 20

vực, theo quy trình chặt chẽ và với thời gian tương đối dài; trong văn minh
hậu công nghiệp, phải được đào tạo nhiều mặt trên một số lĩnh vực.
+ Về học vấn của người lao động: Trong văn minh nông nghiệp là trình
độ tiểu học, trong văn minh công nghiệp tối thiểu tốt nghiệp lớp 9, trình độ sơ
trung, trong văn minh hậu công nghiệp là tốt nghiệp lớp 12 và trình độ cao trung.
- Hình thức đào tạo:
+ Theo hình thức đào tạo có đào tạo chính quy và đào tạo không chính
quy, đào tạo có chứng chỉ văn bằng và đào tạo không có chứng chỉ văn bằng,
đào tạo tại trường và đào tạo tại nơi làm việc trên cơ sở công việc đang làm
+ Hình thức đào tạo chính quy là hình thức ở đó người học được học
tập theo chương trình học có hệ thống theo thứ bậc tuần tự trong hệ thống nhà
trường với thời gian học liên tục, thường xuyên. Người học được học từ đơn
giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, có điều kiện nắm vững các kiến
thức cơ bản và kỹ năng nghiệp vụ. Hình thức đào tạo hiện nay đòi hỏi quy
chuẩn về điều kiện trường, lớp, bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên, trang thiết
bị thí nghiệm, xưởng thực hành, thư viện, chương trình đào tạo, người học
Hình thức đào tạo không chính quy giúp cho mọi người vừa làm vừa học, học
liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện và mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ
học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để thích nghi với thay đổi của công việc và
đời sống xã hội.
+ Đào tạo tại nơi làm việc, là đào tạo trực tiếp, chủ yếu là thực hành

khả năng hành nghề.
+ Đào tạo THCN: Mục tiêu của đào tạo của trường trung học chuyên
nghiệp là đào tạo cán bộ thực hành có trình độ trung học về kỹ thuật, nghiệp
vụ, kinh tế giáo dục, y tế và nghệ thuật. Đối tượng đào tạo là học sinh đã tốt
nghiệp trung học cơ sở, phổ thông trung học và cũng có thể tuyển sinh công
nhân, nhân viên nghiệp vụ đã tốt nghiệp các trường dạy nghề cùng ngành
nghề đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp.
Nội dung đào tạo trung học chuyên nghiệp được chia thành 4 nhóm:
Những kiến thức chung; những kiến thức về kỹ thuật cơ sở cho nhóm ngành; 22

những kiến thức về kỹ thuật chuyên môn của ngành và các kỹ năng, kỹ xảo
thực hành cho người công nhân một vài nghề chính của ngành.
+ Đào tạo nghề: Phát triển giáo dục nghề nghiệp theo ba trình độ đào
tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề; học sinh tốt nghiệp trình
độ trung cấp và cao đẳng được cấp bằng nghề tương ứng với trình độ đào tạo.
Tăng khả năng liên thông; phân luồng giữa các bộ phận của hệ thống.
Nội dung đào tạo là tập hợp các hệ thống các kiến thức về văn hoá, xã
hội, khoa học và công nghệ, các kỹ năng và kỹ xảo lao động, các chuẩn mực
về giá trị đạo đức - tư tưởng và nhận thức chúng để đảm bảo sự phát triển
toàn diện nhân cách. Trong đó kỹ năng, kỹ xảo thực hành nghề là phần cơ bản
của nội dung đào tạo. Nội dung đào tạo cơ bản được quy định trong nguyên
tắc xây dựng chương trình đào tạo.
Về phương pháp đào tạo: đào tạo theo môdun là một biện pháp để mềm
hoá quá trình đào tạo, làm cho việc đào tạo trở nên linh hoạt, đáp ứng tốt hơn
cho nhu cầu của người học và người sử dụng lao động. Việc liên thông giữa
các loại hình đào tạo: Đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo nghề dài hạn; đào tạo
nghề trung học chuyên nghiệp - cao đẳng kỹ thuật sẽ dễ dàng thực hiện hơn

nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức
chuyên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu
khoa học trong chuyên ngành của mình.
Đào tạo trình độ tiến sĩ phải đảm bảo cho nghiên cứu sinh nâng cao và
hoàn chỉnh kiến thức cơ bản; có hiểu biết sâu thêm về kiến thức chuyên
ngành; có đủ năng lực tiến hành độc lập công tác nghiên cứu khoa học và
sáng tạo trong công tác chuyên môn.
1.2. Vai trò của đào tạo Nguồn nhân lực của ngành nông nghiệp trong tiến trình Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
1.2.1. Đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp trong tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
a. Nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực của ngành nông nghiệp phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp 24

Đào tạo đủ số lượng, chất lượng lao động đáp ứng nhu cầu phát triển
nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá và tăng tỷ trọng chăn nuôi trong sản
xuất nông nghiệp.
Đào tạo NNL có đủ trình độ để nghiên cứu, tiếp thu áp dụng sáng tạo
tiến bộ khoa học trong sản xuất: đảm bảo cho khoa học công nghệ trên các
lĩnh vực nông lâm, thuỷ lợi hội nhập với khu vực và quốc tế, đi tắt đón đầu để
rút ngắn quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, bao gồm:
+ Đào tạo sau đại học: nhằm đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học,
công nghệ đầu ngành, cán bộ khoa học trẻ có triển vọng trong lĩnh vực công
nghệ sinh học, công nhệ thông tin, chuyên gia quản lý tài nguyên môi trường.
+ Đào tạo đại học cao đẳng: nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có năng
lực thực hiện nội dung CNH, HĐH nông nghiệp và đáp ứng yêu cầu về cán bộ
cho các trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp ở cấp huyện,

c. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp
- Nội dung đào tạo:
Đó là quá trình trang bị kiến thức chuyên môn nghiệp vụ gắn với nội
dung chủ yếu của CNH, HĐH nông nghiệp cho người lao động nhằm đáp ứng
yêu cầu cấp thiết về nhân lực trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp; bao
gồm các cấp độ đào tạo.
+ Giáo dục hướng nghiệp ở trung học phổ thông.
+ Đào tạo ngành nghề nông nghiệp cho nông dân.
+ Đào tạo trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
+ Đào tạo cao đẳng và đại học.
+ Đào tạo trên đại học: Trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
+ Đào tạo bồi dưỡng cán bộ - công chức của ngành nông nghiệp.

Trích đoạn Ngành nghề đào tạo phục vụ chương trình, nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp được mở rộng Một số tồn tại và thách thức trong công tác đào tạo nguồn Nguyên nhân chủ yếu Bài học kinh nghiệm Những tác động bên ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status