MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở
MỘT SỐ QUỐC GIA 7
1.1. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ 7
1.1.1. Một số khái niệm 7
1.1.2. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế hiện đại 15
1.2. Yêu cầu và mối quan hệ tác động giữa phát triển nguồn nhân lực với
công nghiệp hoá, hiện đại hoá 17
1.2.1. Yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với việc phát triển
nguồn nhân lực 17
1.2.2. Mối quan hệ tác động giữa phát triển nguồn nhân lực với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá 24
1.3. KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC NƢỚC
ASEAN 26
1.3.1. Các chính sách đặc trƣng về phát triển nguồn nhân lực 26
1.3.2. Sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế ở các nƣớc
ASEAN 29
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HÀ NỘI 39
2.1. MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƢỜNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ
HỘI CỦA HÀ NỘI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 39
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Hà Nội cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá 39
2.1.2. Về cơ sở hạ tầng phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hà
Nội 42
2.1.3. Về chủ trƣơng định hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa
bàn thành phố 45
2.2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHIÊP HOÁ, HIỆN ĐẠI
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHO CÁC CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HÀ NỘI 94
3.3.1. Những giải pháp về phát triển giáo dục - đào tạo nhăm nâng cao
trí lực của nguồn nhân lực 94
3.3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao thể lực của nguồn nhân lực 98
3.3.3. Giải pháp xây dựng tiềm lực tri thức và sử dụng lao động tri thƣc
trong các ngành kinh tế cho quá trình CNH, HĐH ở Hà Nội 100
3.3.4. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách sử dụng nguồn nhân lực 101
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 110
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh nhân lực của các nƣớc ASEAN 29
Bảng 2.1: Sự gia tăng dân số Hà Nội từ 2005 - 2011 49
Bảng 2.2: Sự tăng lên của nguồn nhân lực trong các ngành công nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội từ 2005 - 2011 52
Bảng 2.3: Sự thay đổi của các doanh nghiệp công nghiệp khu vực kinh tế
nhà nƣớc ở Hà Nội 52
Bảng 2.4: Sự tăng lên của nguồn nhân lực trong các ngành dịch vụ trên địa
bàn thành phố Hà Nội từ 2005 - 2011 54
Bảng 2.5: Sự thay đổi của các doanh nghiệp dịch vụ khu kinh tế nhà nƣớc
Hà Nội 55
Bảng 2.6: Lao động nông thôn 56
Bảng 2.7: Bảng so sánh cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế giữa các ngành
kinh tế của Hà Nội 57
Bảng 2.8: Quy mô đào tạo đại học, cao đẳng 66
Bảng 2.9: Thống kê đào tạo trung học chuyên nghiệp 67
Bảng 2.10: Bảng thống kê quy mô đào tạo nghề 68
Bảng 2.11: Số học sinh mẫu giáo và phổ thông từ 2005 -2011 70
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bƣớc sang trang mới với
những thành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống
kinh tế - xã hội, đặc biệt trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, trong đó
nhân tố đóng vai trò quyết định sự biến đổi về chất dẫn tới sự ra đời của kinh
tế tri thức, chính là nguồn nhân lực (NNL) chất lƣợng cao.
Trƣớc đây, các nhân tố sản xuất truyền thống nhƣ số lƣợng đất đai, lao
động, vốn đƣợc coi là quan trọng nhất, song ngày nay đã có sự thay đổi thứ tự
ƣu tiên. Chính NNL có chất lƣợng cao mới là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá
trình. Bởi lẽ những yếu tố khác ngƣời ta vẫn có thể có đƣợc nếu có trí thức,
song tri thức chỉ xuất hiện thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động
thực tế trong đời sống kinh tế - xã hội; từ chính quá trình sản xuất ra sản phẩm
để nuôi sống con ngƣời và làm giàu cho xã hội. Vì vậy, để có đƣợc tốc độ phát
triển cao, các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chât
lƣợng NNL. Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp,
công ty, các sản phẩm chủ yếu là cạnh tranh về tỷ lệ hàm lƣợng chất xám kết
tinh trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, nhờ nâng cao chất lƣợng NNL.
Do vậy, việc nâng cao chất lƣợng NNL đối với các quốc gia, các
tỉnh, thành phố nói chung, các doanh nghiệp nói riêng đã và đang trở thành
vấn đề cấp bách có tầm chiến lƣợc, là vấn đề có tính chất sống còn trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế với trình độ khoa học - kỹ thuật, công nghệ
ngày càng cao và sự lan tỏa của kinh tế tri thức (KTTT).
Với tƣ cách là trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ
thuật của cả nƣớc nên việc phát triển của Hà Nội về mọi mặt có ý nghĩa vô
cùng quan trọng không chỉ với riêng Thủ đô. Sự phát triển nhanh, bền vững
của Hà Nội có quan hệ mật thiết với sự phát triển chung của cả vùng đồng
2
hoá, hiện đại hoá qua thực tiễn Phú Thọ, luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh
tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
- Trần Kim Hải, Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, luận án tiến sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị, Học viện
Chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
- Chƣơng trình khoa học cấp Nhà nƣớc, "Con người Việt Nam - mục tiêu
và động lực phát triển kinh tế - xã hội" của GS.TS Nguyễn Mạnh Đƣờng làm
chủ nhiệm.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc năm 2000, "Chiến lược phát triển
nguồn nhân lực của Việt Nam" của TS. Nguyễn Tuyết Mai, Bộ Kế hoạch và
Đầu tƣ.
- TS. Đoàn Văn Khải (2005), “Nguồn nhân lực con người trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
- TS. Vũ Bá Thể, Học viện Tài chính (2005), “Phát huy nguồn nhân lực
con người để công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội.
- Lê Văn Kỳ, Phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm ở Thanh
Hoá, luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị, Học viện Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
- Luận án Tiến sỹ, “Tác động KTTT đến quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân Việt Nam” tác giả Cao Quang Xứng, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia, năm 2008.
- Lê Thị Ngân, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri
thức ở Việt Nam, luận án tiến sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005.
Riêng UBND thành phố Hà Nội và Sở Kế hoạch Đầu tƣ cũng đã tổ
chức cuộc hội thảo (năm 1999) về vấn đề “Nguồn nhân lực với sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá thủ đô” trong dự án “Điều tra và kiến nghị các
4
chính sách huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của thành
phố Hà Nội”.
3.1. Mục đích:
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trang NNL trên địa bàn thành phố Hà
Nội đề xuất những giải pháp phát triển NNL cho quá trình CNH, HĐH thành
phố Hà Nội trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ:
- Luận văn khái quát một số vấn đề lý luận về NNL cho quá trình CNH,
HĐH ở thành phố Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đƣa ra phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển NNL cho CNH, HĐH
thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở thành phố Hà Nội trƣớc
những cơ hội và thách thức mới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung bàn về việc phát triển
NNL cho CNH, HĐH ở Hà Nội trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập
sâu vào nền kinh tế thế giới trong thời đại toàn cầu hóa, CNH, HĐH và phát
triển kinh tế tri thức hiện nay.
- Về thời gian: Từ 2005 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phƣơng pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đặc biệt coi trọng một số
6
phƣơng pháp cụ thể sau: Phƣơng pháp trừu tƣợng hóa khoa học, phƣơng pháp
phân tích - tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp điều tra, phỏng vấn
chuyên gia…
6. Đóng góp mới của luận văn
Đề xuất đƣợc một số những giải pháp để phát triển NNL cho CNH,
có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc
hoặc vùng địa phƣơng cụ thể" [9, tr.22].
Theo quan niệm của ILO thì lực lƣợng lao động là dân số trong độ tuổi
lao động thực tế có việc làm và những ngƣời thất nghiệp. Đây là khái niệm về
NNL theo nghĩa tƣơng đối hẹp, coi NNL là nguồn lao động hoặc là toàn bộ
lực lƣợng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Trong số liệu thống kê, Tổng
cục Thống kê Việt Nam qui định NNL xã hội là những ngƣời trong độ tuổi
lao động đang có việc làm và cả những ngƣời ngoài độ tuổi lao động thực tế
đang làm việc và những ngƣời thất nghiệp.
Theo giáo trình kinh tế lao động, thì: NNL đƣợc hiểu là nguồn lực con
ngƣời, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế
xã hội. NNL khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
8
chất, nguồn lực công nghệ…) là ở chỗ: trong quá trình vận động, NNL chịu
tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, tử…) và yếu tố xã hội (việc làm, thất
nghiệp ). Chính vì vậy, NNL là một khái niệm khá phức tạp, đƣợc nghiên
cứu dƣới nhiều giác độ khác nhau. NNL vốn đƣợc hiểu nhƣ là nơi sản sinh,
nuôi dƣỡng và cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Cách hiểu này
muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con ngƣời, nghiêng về sự biến động
tự nhiên của dân số và ảnh hƣởng của nó tới sự biến động NNL. NNL còn
đƣợc hiểu nhƣ một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế
xã hội, là tổng thể những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động.
Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lƣợng hóa đƣợc, đó là năng lực lao động
của xã hội, bao gồm những ngƣời có khả năng lao động, tức là bộ phận chủ
yếu và quan trọng nhất trong NNL.
Trong lý luận về lực lƣợng sản xuất, con ngƣời đƣợc coi là lực lƣợng
hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của
lực lƣợng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng
suất lao động và tiến bộ xã hội. Ở đây, con ngƣời đƣợc xem xét từ góc độ là
lực lƣợng sản xuất cơ bản của xã hội.
vốn cao hơn so với đầu tƣ cho các nguồn lực khác… tiết kiệm đƣợc việc sử
dụng và khai thác các nguồn lực khác, lợi ích thu đƣợc từ đầu tƣ này có tính
lan tỏa đồng đều hơn so với đầu tƣ vào các nguồn lực khác. Do vậy, việc tập
trung phát triển con ngƣời sẽ đem lại tốc độ phát triển cao hơn, ổn định hơn
và công bằng hơn trong phân phối lợi ích của sự phát triển [17, tr.9].
Theo UNDP, thì NNL là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng)
của con ngƣời đƣợc huy động vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực - nội lực
đó của con ngƣời cũng chính là nội lực xã hội của một quốc gia. Đối với
những nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, với dân số đông, NNL dồi dào
đang trở thành một trong những nguồn nội lực quan trọng nhất và nếu biết
10
khai thác nguồn nội lực đó một cách hiệu quả sẽ tạo ra một động lực to lớn
cho phát triển kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam, theo ý kiến của các nhà khoa học tham gia chƣơng trình
khoa - công nghệ cấp Nhà nƣớc, mã số KX - 07: “Con ngƣời Việt Nam - mục
tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do giáo sƣ, tiến sỹ khoa
học Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, cho rằng nguồn lực con ngƣời đƣợc hiểu
là số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe
và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [6, tr.328].
Giáo sƣ, tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng: Nguồn lực con ngƣời là sự
kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lƣợng - hiệu quả
hoạt động và triển vọng mới phát triển của con ngƣời” [8, tr.14] tức là kết cấu
bên trong của nguồn nhân lực bao gồm sức mạnh thể lực, trí tuệ và sự kết hợp
hai yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của con ngƣời trong quá trình cải
tạo tự nhiên.
Trong luận án tiến sỹ triết học - nguồn lực con ngƣời trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, tác giả Đoàn Khải cho rằng: Nguồn lực con
ngƣời là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lƣợng con ngƣời
với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [32, tr.32].
Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Ngân, trong luận án tiến sỹ thì nguồn
sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải
vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc.
1.1.1.2. Chỉ số đánh giá trình độ nguồn nhân lực
Lựa chọn chỉ tiêu kinh tế phản ánh sự phát triển nguồn nhân lực là một
vấn đề đƣợc cơ quan Liên Hiệp Quốc rất quan tâm. Nếu dựa vào bình quân
thu nhập theo đầu ngƣời thì thì sẽ sảy ra tình trạng không phải bất cứ nƣớc
nào có thu nhập cao đề có mặt bằng dân trí cao. Ngƣợc lai, không ít nƣớc mặc
12
dầu thu nhập bình quân thu nhập đầu ngƣời thấp, đời sống vật chất khó khăn
nhƣng mức độ dân trí lại ở trình độ tƣơng đối cao. Chính vì vậy, cơ quan phát
triển NNL của Liên Hiệp Quốc đƣa ra khái niệm chỉ số phát triển nhân lực.
Giá trị của HDI đƣợc tính trên cơ sở các thông số tuổi thọ bình quan,
trình độ học vấn, số năm đi học, tri thức và thu nhập đã đƣợc điều chỉnh theo
phƣơng pháp PPP.
Giá trị cực đại của HDI là một và giá trị cự tiểu là không. Nƣớc nào có
giá trị HDI càng gần với một thì độ phát triển NNL rất cao và càng có khả năng
cung cấp những năng lực tối đa cho nhân dâ. Nếu giá trị HDI của một nƣớc
dƣới 0,4 thì mức độ phát triển nguồn nhân lực của nƣớc đó đƣợc coi là thấp.
Ngày nay thế giới văn minh nhìn nhận sự phát triển của một đất nƣớc
không chỉ đơn thuần ở mặt tăng trƣởng kinh tế ở mức thu nhập bình quân cao
về GDP hay GNP tinh theo đầu ngƣời, mà chú ý nhiều hơn đến các chỉ tiêu
phát triển xã hội. Một quốc gia muốn đƣợc coi là phát triển tốt đẹp, bên cạnh
sự tăng trƣởng kinh tế, quốc gia đó còn đạt đƣợc những chỉ số chung về mặt
xã hội. trong những chỉ số chung đó, quan trọng nhấp mà thông qua đó ngƣời
ta biết đƣợc mức độ phát triển cao hay thấp của một quốc gia.
Các chỉ số cá biệt cấu thành chỉ số chung về phát triển con ngƣời là:
- Chỉ số tuổi thọ
- Chỉ số tri thức (gồm tỷ lệ ngƣời lớn có học và số năm học trung bình)
- Chỉ số thu nhập (gồm thu nhập thực tế và thu nhập đã điều chỉnh theo
giá cả sinh hoạt từng nƣớc).
ngƣời biết sống một cuộc sống trọn vẹn, phong phú hơn; con ngƣời tiến từ cá
nhân thành nhân cách, thành con người xã hội. Phát triển NNL đƣợc hiểu là
"cả một quá trình quan trọng mà qua đó sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức
có thể đạt đƣợc những tiềm năng đầy đủ nhất của họ theo thời gian" [35, tr.23].
14
Trong xu thế của nền kinh tế tri thức, các quốc gia trên thế giới đều
quan tâm đến sự phát triển NNL, tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lƣợng, có
trình độ cao, có khả năng nắm bắt khoa học công nghệ mới và ứng dụng vào
sản xuất đời sống. Phát triển NNL là một "quá trình làm biến đổi về số lƣợng,
chất lƣợng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của
nền kinh tế- xã hội" [18, tr.13], đó là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp,
chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng cho NNL
(trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn
nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.
Một điểm cần lƣu ý là: “Phát triển NNL hay vốn con ngƣời không đồng
nhất với phát triển con ngƣời: Các lý thuyết tăng trƣởng kinh tế gần đây đã chỉ
ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trƣởng kinh tế bền vững chính là
con ngƣời. Chi tiêu cho con ngƣời, trong nhiều trƣờng hợp, không phải là
khoản chi tiêu đơn thuần mà là khoản chi đầu tƣ để hình thành một loại vốn
quan trọng, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tƣơng lai - đó là
nguồn vốn con ngƣời thông qua việc tạo lập kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm,
năng lực sáng tạo Tuy nhiên, không thể quy phát triển con ngƣời về phát triển
nguồn nhân lực. Điểm khác biệt căn bản ở đây là trong quan niệm về con
ngƣời, con ngƣời là mục tiêu, chứ không phải là phƣơng tiện của sự phát triển,
còn khi đề cập đến phát triển nguồn nhân lực, con ngƣời chủ yếu đƣợc nhìn
nhận với tính cách là một nguồn vốn, dù quan trọng nhất, bên cạnh các nguồn
vốn khác, để thúc đẩy sự phát triển” [29, tr.15].
Nhƣ vậy, trên giác độ vĩ mô, phát triển NNL là các hoạt động đầu tƣ
nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội với số lƣợng và chất lƣợng đáp ứng đƣợc
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đồng thời đảm bảo sự phát
là những nơi đạt tốc độ phát triển kinh tế cao liên tục trong nhiều thập kỷ, nên
chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành các nền kinh tế phát triển.
16
Yếu tố đóng vai trò quyết định cho sự thành công trong phát triển kinh
tế của các quốc gia đó chính là NNL có chất lƣợng cao. Ở các nƣớc phát triển
con ngƣời ta đã tính toán đƣợc rằng trong giá trị của những sản phẩm cao cấp
thì hàm luợng chất xám chiếm 70%, năng lƣợng 10%, nguyên liệu 10%, thao
tác lao động giản đơn chỉ chiếm 5,6%. Hiện nay quan niệm về vai trò, vị trí
của nguồn nhân lực trong phát triển luôn có sự thay đổi. Nếu nhƣ trƣớc đây,
ngƣời ta cho rằng nguồn nhân lực chỉ đơn thuần là phƣơng tiện, là một nguồn
lực cho phát triển giống nhƣ mọi nguồn lực vật chất khác, thì ngày nay con
ngƣời không chỉ là động lực chủ yếu mà còn là mục tiêu của sự phát triển, với
phƣơng châm phát triển vì con ngƣời. Trí tuệ con ngƣời ngày càng đƣợc đề
cao, vì nó là nguồn lực to lớn và mạnh mẽ nhất cho tiến bộ và phát triển xã
hội. Theo Alvin Toffler, mọi nguồn lực tự nhiên đều có thể bị khai thác cạn
kiệt, chỉ riêng có trí tuệ là vô tận, bởi tri thức có tính chất lấy không bao giờ
hết. Trái lại, NNL, đặc biệt là NNL chất lƣợng cao, nếu biết khai thác và bồi
dƣỡng hợp lý thì càng phát triển và có khả năng tái sinh nhanh. Chính vì lẽ
đó, NNL đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và
nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau, và từ đó ngƣời ta cũng tìm ra các phƣơng
cách khác nhau để có thể nâng cao chất lƣợng NNL phục vụ cho phát triển
kinh tế - xã hội.
Có quan điểm cho rằng: Thông thƣờng những nguồn lực làm cơ sở cho
chiến lƣợc phát triển của một nƣớc có thể là nguồn lực tự nhiên nhƣ tài nguyên
thiên nhiên, vị trí địa lý, có thể là cơ sở vật chất kỹ thuật đã đƣợc tạo ra trong
các giai đoạn trƣớc đó, có thể là nguồn lực do con ngƣời tạo ra nhƣ vốn, công
nghệ. Trong nền kinh tế hiện nay, NNL là nguồn lực lâu bền nhất trong sự phát
triển của mọi quốc gia cho dù có những nguồn lực khác mà không có những
con ngƣời tƣơng xứng, đủ khả năng khai thác những nguồn lực đó, đủ trình độ
nắm bắt và làm chủ kỹ thuật công nghệ hiện đại và nếu không có một môi
Mặt khác, mỗi phƣơng thức sản xuất có cơ sở vật chất kỹ thuật tƣơng
ứng với nó. CNXH cũng vậy, muốn tồn tại và phát triển phải có cơ sở vật chất
kỹ thuật tƣơng ứng, đó là một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lƣợng
sản xuất hiện đại và chế độ sở hữu về những tƣ liệu sản xuất chủ yếu. Cơ sở
vật chất kỹ thuạt của CNXH dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học
công nghệ dựa trên một nền tri thức tiên tiến, hiện đại. Cơ sở vật chất kỹ thuật
đó phải bảo đảm tạo ra những năng xuất lao động cao hơn chủ nghĩa tƣ bản.
Việt Nam quá độ nên CNXH từ một nƣớc nông nghiệp lạc hậu, cái
thiếu nhất của nƣớc ta là lực lƣợng sản xuất tiên tiến, hiện đại làm cơ sở vật
chất kỹ thuật cho CNXH. Đề có đƣợc cơ sở vật chất Kỹ thuật này chúng ta
phải thực hiện CNH, HĐH.
* Tác dụng của CNH, HĐH.
Ở nƣớc ta quá trình CNH, HĐH đó là con đƣờng tạo ra lực lƣợng sản
xuất mới. Nó cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực nhƣ
nguồn vốn,nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và nguồn tài nguyên thiên
nhiên bên trong và bên ngoài. Đảm bảo năng cao năng suất lao động. Tạo ra
nhiều của cải vật chất cho xã hội. Từng bƣớc cải thiện đời sống vật chất và
văn hoá tinh thần của nhân dân.
Trên cơ sở phát triển của lực lƣợng sản xuất, CNH góp phần củng cố và
hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tăng cƣờng khối liên minh công
nhân với nông dân và trí thức, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đƣợc
nâng cao. Góp phần khắc phục sự chênh lệch về kinh tế và trình độ phát triển
giữ các dân tộc, giữa các vùng trong nƣớc và các tầng lớp dân cƣ. Tạo điều
kiện thuận lợi cho việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đạm đà bản sắc dân
tộc, xây dựng con ngƣời mới xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm nền quốc phòng an
ninh ngày càng vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ. Đồng thời thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là
19
đẩy mạnh việc mở rộng phân công và hợp tác quốc tế cả về chiều rộng lầm
chiều sâu.
Bốn là: Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi
nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.
Năm là: Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác
định phƣơng án phát triển, lựa chọn dự án đầu tƣ và công nghệ. Đầu tƣ chiều
sâu để khai thác tối đanăng lực sản xuất hiện có. Trong phát triển mới, ƣu tiên
quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn
nhanh; đồng thời, xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và có
hiệu quả. Tạo ra những mũi nhọn trong từng bƣớc phát triển. Tập trung thích
đáng nguồn nhân lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm; đồng thời,
quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nƣớc; có chính sách
hỗ trợ những vùng khó khăn, tạo diều kiện cho các vùng phát triển.
Sáu là: Kết hợp chặt chẽ và toàn diện phát triển kinh tế với củng cố
tăng cƣờng nền quốc phòng - an ninh của đất nƣớc.
Tiếp tục thực hiện những quan điểm chỉ đạo trên, Đại hội X, XI của
Đảng nhấn mạnh một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm
năng, lợi thế của nƣớc ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nƣớc theo định
hƣớng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Thứ hai: Coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và
CNH, HĐH. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng
cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con
ngƣời Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại.