Phát triển làng nghề ở huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
 KIỀU MAI HƯƠNG

PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
Ở HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


1.1.1. Các khái niệm và đặc điểm sản xuất - kinh doanh của làng nghề 8
1.1.2. Những nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển của làng nghề 18
1.2. Vai trò của hệ thống làng nghề Việt Nam nói chung đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội 24
1.2.1. Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế 24
1.2.2. Vai trò của làng nghề trong phát triển văn hóa - xã hội 28
1.2.3. Góp phần hình thành phát triển những giá trị kinh tế mới 29
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển làng nghề và một
số bài học rút ra cho huyện Thạch Thất 31
1.3.1. Về kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 31
1.3.2. Những vấn đề rút ra có thể tham khảo cho huyện Thạch Thất
trong phát triển làng nghề 43
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN THẠCH
THẤT TRONG NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI VỪA QUA 46
2.1. Khái niệm về làng nghề huyện Thạch Thất 46
2.1.1. Khái lược về lịch sử huyện Thạch Thất 46
2.1.2. Thế mạnh của các làng nghề huyện Thạch Thất 47
2.2. Thực trạng phát triển các làng nghề của huyện Thạch Thất nhìn trên
một số “lát cắt” chính 53
2.2.1. Thực trạng sản xuất kinh doanh 53
2.2.2. Thực trạng các yếu tố đầu vào của làng nghề 59
2.2.3. Thực trạng về đầu ra của sản phẩm 71
2.3. Đánh giá tổng quát thực trạng phát triển làng nghề của huyện Thạch
Thất 74
2.3.1. Những thành tựu chủ yếu và nguyên nhân 74
2.3.2. Những mặt hạn chế, yếu kém chính và nguyên nhân 82
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN
KINH TẾ LÀNG NGHỀ HUYỆN THẠCH THẤT GIAI ĐOẠN 2011-
2020 89
3.1. Cơ sở để đề xuất quan điểm và phương hướng phát triển các làng nghề 89

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước ở châu Á có bề dày lịch sử về các
làng nghề. Từ hàng trăm năm trước đây, trong xã hội phong kiến, các làng
nghề Việt Nam đã có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất, cung ứng các
sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp cho các hoạt động của nền sản xuất nông
nghiệp, cho bản thân các nghề thủ công nghiệp và cho nhu cầu tiêu dùng thiết
yếu của đông đảo cư dân nông thôn và các đô thị trong nước; thậm chí nhiều
sản phẩm độc đáo về tơ lụa, đồ gốm, hàng thủ công chạm khắc tinh xảo,…
của các làng nghề Việt Nam đã được các nhà buôn lớn Trung Quốc, Nhật Bản
và một số nước phương Tây thu gom với số lượng khá lớn nhằm mục đích
sinh lợi. Tuy nhiên, trong thời kỳ Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, các hoạt động sản xuất và lưu thông theo phương thức thị
trường tự do bị ngăn trở, cấm đoán, và mặt khác do tác động bất lợi của chiến
tranh, nhiều làng nghề đã mai một, thậm chí mất hẳn. Sự thụt lùi của các làng
nghề Việt Nam ở thời kỳ này đã kéo theo nhiều hậu quả bất lợi về cả kinh tế,
văn hóa và xã hội.
Trong 25 năm đổi mới vừa qua (1986-2010), với chủ trương nhất quán
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng khuyến
khích các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh phát triển.
Trong bối cảnh đó, các làng nghề có cơ hội phục hồi và đã có những bước
phát triển mang tính đột phá. Những sản phẩm mới của các làng nghề Việt
Nam không chỉ xuất hiện ngày càng nhiều ở thị trường trong nước, mà còn
xâm nhập vào thị trường của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều thách

“bốn nhà”; sự ảnh hưởng của phát triển làng nghề tới việc giữ gìn, phát triển
một số giá trị văn hóa truyền thống; sự tác động của trực tiếp của làng nghề tới
việc làm thu nhập, mức sống, trình độ học vấn, ổn định chính trị, quyền làm
chủ của nhân dân. Trong các chính sách và giải pháp đưa ra, tác giả chưa đề
cập đến phát triển làng nghề như một giải pháp quan trọng góp phần giải quyết
tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện có hiệu quả một số vấn
đề xã hội, qua đó thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. 3
- Luận án Tiến sĩ: “Làng nghề truyền thống trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Trần Minh Yến, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2004.
Trong luận án, tác giả đã phân tích rõ vai trò của làng nghề truyền thống
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, đồng thời tác giả
còn đưa ra những kinh nghiệm phát triển làng nghề của các nước trong khu vực
châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, và một số nước trong khu vực
ASEAN,… Đề tài còn nêu rõ thực trạng hiện nay của các làng nghề truyền
thống ở Việt Nam từ đó chỉ ra xu hướng vận động và 8 nhóm giải pháp của
làng nghề truyền thống dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu tác giả còn chưa nêu ra được nguyên
nhân dẫn đến những yếu kém, khó khăn của làng nghề truyền thống hiện nay
đó là công tác truyền nghề và năng lực quản lý của doanh nghiệp làng nghề
trong quá trình tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, là một trong những khâu
quan trọng trong việc phát triển kinh tế trong làng nghề truyền thống.
- “Bảo tồn và phát triển làng nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Hà
Nội, năm 2009.
Công trình nghiên cứu khoa học này trước hết đã chỉ ra được vai trò có
ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Làng nghề góp phần
tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu,

- Hội thảo “Bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội”, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 17/9/2010, tại Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ: “Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở
Việt Nam”, Vũ Thị Thu, Hà Nội, 1998.
- Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Nguyễn Thị
Thọ, Hà Nội, 2005.
- Luận văn thạc sĩ: “Phát triển làng nghề Hà Tây trong hội nhập kinh
tế quốc tế”, Nguyễn Thị Nghĩa, Hà Nội, năm 2008.
- Đề tài nghiên cứu: “Phát triển bền vững các làng nghề huyện Thạch
Thất - Thành phố Hà Nội”, Đỗ Thị Lan, Hà Nội, năm 2009.

Những công trình nói trên và còn nhiều công trình khác đã nghiên cứu,
đề cập đến nhiều vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn phát triển của các làng
nghề Việt Nam nói chung và ở một số địa phương nói riêng. Đây là nguồn tư
liệu tham khảo rất có ý nghĩa đối với chúng tôi trong việc thực hiện đề tài 5
luận văn. Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên
cứu sâu, hệ thống về phát triển kinh tế làng nghề ở huyện Thạch Thất, Thành
phố Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về làng nghề, làng
nghề truyền thống, làng có nghề, làng nghề mới, luận văn tập trung phân tích
một cách khách quan thực trạng của các làng nghề ở huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội, làm rõ những thành tựu đã đạt được và những tồn tại đang mắc
phải; từ đó tìm ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế làng nghề
của địa phương này một cách có hiệu quả và theo hướng phát triển bền vững.

Luận văn cũng sẽ khai thác, kế thừa một cách thích hợp kết quả nghiên
cứu của các công trình đi trước.
6. Một số đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về phát triển làng nghề
trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
- Phân tích, phản ánh một cách khách quan thực trạng phát triển làng
nghề của huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội trong những năm đổi mới vừa
qua; chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thành tựu và hạn chế.
- Đề xuất, luận chứng những giải pháp mới, thiết thực góp phần thúc
đẩy phát triển làng nghề của huyện Thạch Thất theo hướng hiệu quả, bền
vững trong giai đoạn 2011-2020.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết:
Chƣơng1: Làng nghề và phát triển làng nghề trong điều kiện kinh tế
thị trường.
Chƣơng 2: Thực trạng phát trỉển làng nghề huyện Thạch Thất trong
những năm đổi mới vừa qua.
Chƣơng 3: Phương hướng và các giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế
làng nghề huyện Thạch Thất giai đoạn 2011 - 2020. 7


đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài.
Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu” [44, tr.110].
Cũng có quan niệm khác được trình bày trong cuốn “Làng nghề truyền
thống trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa”, TS Trần Minh Yến
đưa ra quan niệm như sau: Làng nghề là một thiết chế - xã hội ở nông thôn,
được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa
lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ 9
công là chính và giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa [46,
tr.110].
Những quan niệm nói trên là rất đáng được tham khảo; tuy nhiên, xét
trong điều kiện ngày nay thì hầu hết vẫn chưa làm nổi bật tính chất của làng
nghề, ở chỗ nó không chỉ tồn tại và phát triển như một thực thể sản xuất kinh
doanh một cách lâu đời trong lịch sử mà còn có tác dụng to lớn đối với đời
sống văn hóa tinh thần đối với người dân như vốn nó đã từng có. Khi khoa
học kỹ thuật và công nghệ cùng với sự phân công lao động đã phát triển ở
mức độ cao hơn thì khái niệm làng nghề cũng được mở rộng hơn. Tựu trung
lại, hiện nay đa phần mọi người nhất trí với khái niệm làng nghề do Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đưa ra như sau: “Làng nghề là
một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phun, sóc hoặc các
điểm dân cư tương tự trên một xã, thị trấn (được gọi là chung là làng), có
hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm
khác nhau”.
* Làng nghề truyền thống:
Là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Làng
nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền
thống. Làng nghề truyền thống còn là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ
lành nghề. Trong làng nghề truyền thống còn có các hộ gia đình chuyên làm

nông nghiệp dần dần chiếm ưu thế, phần lớn các nghề thuộc tiểu thủ công
nghiệp. Ngày nay, do sự phát triển của kinh tế hàng hóa, nghề nghiệp được
mở rộng, đã xuất hiện các làng nghề buôn bán. Nếu xét ở góc độ rộng, làng
nghề là những làng tạo thu nhập, tạo việc làm có thao tác riêng biệt nói chung.
Xem xét ở góc độ này thì ở Việt Nam có thể chia ra làm 4 loại như sau:
+ Làng nông nghiệp: Là làng thuần nông
+ Làng buôn: Là làng nông nghiệp có thêm nghề buôn
+ Làng chài: Là làng của vạn chài, kẻ chài ven sông, ven biển
+ Làng nghề: Là làng nông nghiệp và có thêm nghề thủ công.
Phân loại theo góc độ số lượng làng nghề thì làng nghề lại được chia
thành: Làng một nghề, làng nhiều nghề, làng có nghề [46, tr.110].
Phân loại theo thời gian hình thành, thì có làng nghề truyền thống, làng
nghề mới.
* Tiêu chí công nhận và cách phân loại làng nghề
Không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng được gọi là
làng nghề, cho dù làng nào, nghề nào cũng mang bản sắc, mang nét tinh túy 11
riêng. Về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế, chỉ có những nghề có khả năng
đem lại cuộc sống ấm no, thu hút được đông đảo người dân tham gia sản xuất,
lâu dần tụ thành các làng cùng sản xuất, cùng kinh doanh mới được coi là làng
nghề. Hiện nay, Chính phủ cũng như các địa phương đã quy định các tiêu
chuẩn công nhận làng nghề để tiện cho việc quản lý và phát triển. Các quy định
này đã cụ thể hóa các tiêu chuẩn xây dựng, phát triển ngành nghề, làng nghề,
nghề cổ truyền và nghề mới trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương; mặt khác góp
phần khuyến khích, động viên thợ thủ công có công trình có trình độ cao về kỹ
thuật, tay nghề và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, sáng tác, tập trung trí tuệ
sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, mang bản sắc văn hóa dân

về phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày
18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNN hướng dẫn thực hiện một số nội
dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát
triển ngành nghề nông thôn. Về cơ bản, tiêu chuẩn công nhận làng nghề mà
UBND thành phố Hà nội đưa ra là nhất quán với Thông tư mà Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn đưa ra, nhưng thành phố có đưa thêm các quy định khác
trong tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:
(1) Về thời gian: Là làng có nghề đã được hình thành trên 50 năm tính
đến ngày làng được đề nghị xét danh hiệu làng nghề truyền thống.
(2) Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làng
chiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng.
(3) Về sử dụng lao động: Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia
hoạt động ngành nghề nông thôn.
(4) Đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn lao động theo các quy định
hiện hành.
(5) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, các quy định của Thành phố và địa phương.
(6) Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hóa dân tộc, phải gắn với
tên tuổi của làng.
(7) Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường
theo quy định tại Điểm 4 vẫn được xem xét công nhận danh hiệu làng nghề
truyền thống khi đã có các đề án, dự án nghiên cứu đánh giá tác động môi
trường và đề ra các biện pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường [39, tr.111].
1.1.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của làng nghề 13
- Đặc điểm về sản phẩm:
Phần lớn sản phẩm đều mang tính đơn chiếc, riêng lẻ. Đặc điểm này
hình thành là do hầu như toàn bộ các thao tác của người thợ đều phải dựa vào


14
điểm trong hợp tác xã nông nghiệp, trong các làng nghề lác đác cũng có xí
nghiệp quốc doanh. Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đa số các
hợp tác xã đều bộc lộ rõ hơn những yếu kém trong việc tổ chức sản xuất và
quản lý, điều đó dẫn đến năng suất lao động thấp, năng lực kinh doanh không
linh hoạt, sức cạnh tranh của sản phẩm kém. Trước tình trạng ấy, các hợp tác
xã và các xí nghiệp quốc doanh cần phải đổi mới và cũng có những doanh
nghiệp không trụ vững trước những tác động và đòi hỏi của cơ chế thị trường.
Hiện nay, khi cơ chế thị trường mở rộng, chính sách phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần và tự do thương mại được Chính phủ khuyến
khích, thì các các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ngày càng được đa
dạng hóa, và được phát triển theo mức độ của lực lượng sản xuất. Tựu trung
lại, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề tồn tại theo các
dạng sau đây:
+ Hộ gia đình: Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, nó phù hợp với
quy mổ sản xuất nhỏ và vừa. Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là
một đơn vị kinh tế, vừa là một đơn vị sinh hoạt. Các thành viên trong gia đình
đều có chung một cơ sở kinh tế, cùng sở hữu đối với tài sản dung cho sinh
hoạt và đối với tư liệu sản xuất [19, tr.109]. Lao động làm việc trong phạm vi
gia đình với mục đích không phải là lấy tiền công mà là để đóng góp phần
mình vào sản lượng và thu nhập chung của gia đình. Người chủ hộ đồng thời
là người thợ giỏi, nắm quyền quản lý, quyết định và điều hành mọi công việc
từ đầu tư vốn, phân công lao động cho đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm và phân
phối thu nhập. Với những đặc điểm đó, hình thức sản xuất hộ gia đình không
giống với bất kỳ một hình thức tổ chức sản xuất nào. Tuy nó có một số ưu thế
nhất định như: huy động và sử dụng mọi thành viên trong gia đình tham gia
kinh doanh, tận dụng được thời gian lao động và mặt bằng sản xuất kinh
doanh; nhưng ngược lại nó cũng bộc lộ những nhược điểm cơ bản. Do đặc
trưng của sản xuất gia đình là quy mô nhỏ, vốn ít, lao động ít, kiến thức tay

trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh hoặc làm khâu cung ứng dịch vụ cho
làng nghề.
1.1.1.3. Nhận định tổng quát về làng nghề
- Về bản chất kinh tế - xã hội của làng nghề:
Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân trong
một nền kinh tế tự cấp tự túc, nghề thủ công đã xuất hiện từ hàng tram năm
trước đây, với vai trò là các nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân
trong lúc thời gian nông nhàn giữa các mùa vụ. Chính tính thời vụ trong sản 16
xuất nông nghiệp đã tạo ra sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định
và do nhu cầu về sản phẩm tiểu thủ công nghiệp cho khu vực nông thôn ngày
càng cao, bởi vậy số sản phẩm làm ra không những đủ để đáp ứng nhu cầu
sản xuất và tiêu dùng mà còn có thể đem trao đổi trên thị trường, và chủ yếu
là thị trường nông thôn. Như vậy, trong các làng nghề người thợ thủ công
đồng thời là người nông dân. Người nông dân ngoài thời gian lao động dành
cho nông nghiệp họ còn phải kiếm thêm việc làm để tăng thu nhập. Sự gắn bó
với nông nghiệp, nông thôn của làng nghề truyền thống còn được hiểu là: các
cơ sở sản xuất của làng được phân bố tại chỗ trên địa bàn nông thôn, phục vụ
trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn như: tiêu thụ nguyên vật
liệu, cung cấp vật tư, sản phẩm hàng hóa làm ra, thu hút lao động nông thôn,
thúc đẩy nông nghiệp và hoạt động dịch vụ cùng phát triển, góp phần tăng thu
nhập cho người nông dân.
- Về vị thế và xu hướng phát triển của làng nghề trong nền kinh tế thị
trường hiện nay:
Xưa kia, những nghề chỉ mang tính chất là nghề phụ của người nông
dân, nhưng do được chuyên môn hóa theo sự phân công lao động nhất định
nên năng suất lao động, chất lượng sản phẩm làm ra ngày càng tăng lên, số
sản phẩm làm ra không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng mà còn có thể dư

thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc,… Quá trình sản xuất, lưu thông
hàng hóa có thuận lợi hay không là do yếu tố này quyết định. Cơ sở hạ tầng
ngày nay càng trở nên quan trọng khi Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa
kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế. Việc tăng cường đầu tư vào phát triển cơ sở
hạ tầng cho các khu vực kinh tế cần phải được chú trọng, có như vậy năng lực
sản xuất của các ngành mới được tăng lên và là cơ sở để đảm bảo sự phát
triển kinh tế - xã hội hơn. Yêu cầu đặt ra là việc giao hàng đúng thời hạn,
thông tin về thị trường phải được cập nhật hàng ngày, vấn đề quảng bá sản
phẩm rất cần đến phương tiện thông tin hiện đại, có như vậy mới nâng cao
được sức cạnh tranh của sản phẩm. Vì thế muốn làng nghề phát triển mạnh,
chiếm lĩnh thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, cần phải
xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với nền sản xuất hàng hóa theo những chuẩn
mực mới mang tính toàn cầu, cũng như phù hợp với phát triển của làng nghề.
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng xã hội cũng cần được quan tâm, ngoài
những thành tích nói chung mà các ngành như y tế, giáo dục - đào tạo đã đạt
được thì vẫn cần xây dựng một hệ thống giáo dục với đầy đủ các cấp học, bậc
học. Mạng lưới trường lớp được phát triển nhiều hình thức đa dạng (như công
lập, dân lập, tư thục,…) cần mở thêm các trường đại học, cao đẳng, trường 18
trung học chuyên nghiệp, các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề gắn chặt với
yêu cầu đảm bảo chất lượng, có như vậy mới đáp ứng nhu cầu lao động tại
chỗ, mới tạo ra được một đội ngũ công nhân lành nghề, tạo ra được năng suất
và chất lượng sản phẩm tốt. Ngoài ra, hệ thống y tế cũng cần chú trọng hơn
nữa, có thêm nhiều bệnh viện, phòng khám đa khoa, sẽ góp phần chăm lo sức
khoa học của người dân được tốt hơn, từ đó mới đảm bảo cho làng nghề phát
triển bền vững.
1.1.2.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Quá trình đổi mới mô hình phát triển kinh tế cùng với hệ thống chính

khoa học công nghệ, lao động, thuế,… đồng thời các văn bản luật ra đời như:
Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đất đai,… đã tạo môi trường pháp
lý thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề.
1.1.2.3. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của làng nghề bao gồm các nghệ nhân, những thợ thủ
công, những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh…Trong đó những nghệ nhân có
vai trò đặc biết quan trọng trong việc truyền nghề dạy nghề, đồng thời là
người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm chất nghệ thuật. Bên
cạnh đó, một lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu lao động trẻ, có khả năng
thích ứng với những điều kiện kinh tế thị trường, là những nhân tố quyết định
toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề. Tuy nhiên, hạn chế lớn
nhất của lao động làng nghề lại là chất lượng lao động về trình độ chuyên
môn và trình độ nhận thức áp dụng các phương tiện máy móc vào sản xuất.
1.1.2.4. Vốn đầu tư cho sản xuất
Vốn đầu tư cho sản xuất là nguồn lực quan trọng đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh. Trước đổi mới, với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang
nặng tính tự cấp tự túc thì yếu tố vốn sản xuất không đóng vai trò quan trọng,
mọi vấn đề đều do Nhà nước lập kế hoạch và giao cho các đơn vị thực hiện.
Người sản xuất chỉ phải chú tâm vào việc sản xuất và hoàn thành sản xuất,
giao nộp sản phẩm đúng thời hạn ngoài ra không quan tâm đến những yếu tố
nào khác. Ngày nay, trong cơ chế thị trường mọi việc đã thay đổi một cách
căn bản, trước sức ép cạnh tranh về giá cũng như sức ép về chất lượng sản
phẩm, yêu cầu đặt ra cho mỗi hộ sản xuất là muốn tồn tại tất yếu phải mở
rộng sản xuất, cải tiến thiết bị, tang cường ứng dụng các tiến bộ khoa học
công nghệ; có như vậy mới nâng cao được năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh. Để có được điều này họ phải
tìm kiếm nguồn vốn đầu tư. Chỉ khi có nguồn vốn mọi ý tưởng sản xuất kinh
doanh mới có thể thực hiện được. Ngày nay, với chính sách của Đảng và Nhà
thị trường. Điều này đã được thực tế chứng minh. Chẳng hạn làng nghề gốm
Bát Tràng (Hà Nội) do luôn biết cách đổi mới sản phẩm, biết cách quảng bá
thương hiệu mà dần dần gốm mang thương hiệu Bát Tràng ngày càng chiếm

Trích đoạn Đánh giá tổng quát thực trạng phát triển làng nghề của huyện Thạch Kiến nghị về quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế Mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh của Đẩy mạnh đào tạo lực lượng lao động cho các làng nghề Huy động nguồn vốn và chính sách đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status