ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGÔ ĐĂNG THÀNH TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ CHÍNH TRỊ XHCN
MÃ SỐ : 5.02.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRỊNH THỊ HOA MAI
HÀ NỘI, 2004
2
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3
66
2.1.4. Tự do hóa hoạt động của các trung gian tài chính trên thị
trường
71
2.1.5. Tự do hóa tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối
75
2.1.6. Quá trình tự do hóa thị trường chứng khoán
82
2.2. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
89
2.2.1. Vấn đề về nâng cao hiệu năng của thị trường tài chính
89
2.2.2. Vấn đề về lựa chọn lộ trình tự do hóa tài chính thích hợp
91
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÖC ĐẨY TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM
96
3.1. Định hƣớng hoàn thiện chính sách hƣớng tới tự do hóa tài chính
96
3.1.1. Phương hướng xây dựng chính sách thời gian tới
96
3.1.2. Mục tiêu của các chính sách thúc đẩy tự do hóa tài chính
từ nay đến năm 2010
97
3.2. Một số giải pháp thúc đẩy tiến trình tự do hóa tài chính ở Việt
Nam trong thời gian tới
99
3.2.1. Củng cố sức mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng
99
3.2.2. Tiếp tục đẩy mạnh tiến trình tự do hóa tài chính
Đầu tư gián tiếp từ nước ngoài
TCTD
Tổ chức tín dụng
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTCK
Thị trường chứng khoán
TTGDCK
Trung tâm giao dịch chứng khoán
UBCKNN
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
WB
Ngân hàng Thế giới
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới 4
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, giai
đoạn của toàn cầu hoá và khu vực hoá. Đây là giai đoạn phát triển kinh tế
trong đó các nước có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau về nhiều mặt, đặc
biệt là trong quan hệ tài chính - tiền tệ. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng cũng đã nhận định, Việt Nam tất yếu cũng phải gia nhập vào tiến
trình này. Một trong những đòi hỏi khách quan đặt ra đối với Việt Nam khi
tham gia vào toàn cầu hoá và khu vực hoá là phải có một nền kinh tế mở cửa
và tự do, cho phép các dòng tài chính có thể được tự do lưu thông giữa các
vùng trong nước, giữa trong nước với các khu vực và quốc tế. Để thực hiện
được điều đó, việc xây dựng và thực hiện các chính sách thúc đẩy tự do hóa
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Bộ tài chính là một tập hợp các
công trình nghiên cứu về chính sách tài chính trên các lĩnh vực khoa học -
công nghệ, kinh tế đối ngoại, thuế nhưng chưa có sự tổng hợp đánh giá ở
tầm vĩ mô, xem xét các chính sách như một nhân tố quan trọng thúc đẩy tiến
trình tự do hoá tài chính ở nước ta.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ đề cập đến các nội dung cơ bản của quá trình tự do hóa tài
chính ở các nước đang phát triển, từ đó đánh giá tác động của các chính sách
của Nhà nước Việt Nam đối với quá trình tự do hóa thị trường tài chính Việt
Nam. Thông qua việc đánh giá được những mặt làm được và chưa được trong
can thiệp của chính phủ tới quá trình tự do hóa thị trường tài chính ở Việt
Nam, luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy quá trình này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Trong phạm vi đề tài, tác giả chủ yếu tập trung nghiên
cứu tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ tới hoạt động
của thị trường tài chính Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp,
6
khuyến nghị đối với chính phủ nhằm thúc đẩy quá trình tự do hóa thị trường
tài chính Việt Nam trong thời gian tới.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Khảo cứu kinh nghiệm tự do hoá tài chính ở một số quốc gia
trên thế giới, từ đó liên hệ đến quá trình này ở Việt Nam.
+ Nghiên cứu tác động của các chính sách của chính phủ đến thị
trường tài chính ở Việt Nam trong hơn 15 năm đổi mới (từ sau 1986 đến nay)
để chỉ ra được những nhân tố tích cực cũng như những bất cập của tiến trình
xây dựng kinh tế thị trường nói chung và của quá trình tự do hoá tài chính nói
riêng, qua đó rút ra các biện pháp phát huy mặt mạnh, khắc phục những bất
cập để thúc đẩy quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chương 1. TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH - XU HƢỚNG TẤT YẾU TRONG
QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở
CÁC NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1.1.1. Nội dung của tự do hóa tài chính
Các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn đều cho thấy, sự phát triển
kinh tế của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chính sách cũng như cơ cấu
hệ thống tài chính của nước đó. Nhiều sự biến động thăng, trầm và thậm chí là
khủng hoảng tại một số quốc gia, đặc biệt là ở khu vực Đông Á - một thời có
tốc độ phát triển cao và được coi là bền vững - đã đặt ra yêu cầu phải xem xét
lại hệ thống tài chính của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tự do hóa tài chính vẫn
được thừa nhận như một hướng đi thích hợp trong bối cảnh hiện nay và được
nhiều quốc gia tiếp tục thực hiện, trong đó có Việt Nam.
Xu thế tự do do hóa tài chính đã và đang trở thành xu thế lớn của kinh
tế học hiện đại và được thể hiện trên thực tiễn qua nhiều khía cạnh, theo một
đánh giá của Tổng giám đốc Hiệp hội ngân hàng Pháp thì "từ gần 30 năm nay,
một số lượng lớn các nước đang dấn thân vào con đường tự do hóa hệ thống
tài chính của quốc gia; nhưng với những biến động trong thời gian gần đây,
câu hỏi được đặt ra là nên tự do hóa như thế nào còn chưa có câu trả lời cụ thể
và do đó, rất cần có những tổng kết, kinh nghiệm để đúc kết thành những bài
học có tính chất nguyên tắc chung".
Đối với trường hợp Việt Nam, có thể nói rằng trước các tác động mạnh
mẽ của xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế của thế giới, chúng ta không
thể đứng ngoài và bỏ qua các áp lực tự do hóa hệ thống tài chính của đất n-
ước. Muốn vậy, trước hết đòi hỏi chúng ta phải nắm được một số nội dung cơ
bản của tự do hóa tài chính.
* Khái niệm về tự do hóa tài chính
9
buộc (forced savings) để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa đầu tư và tiết kiệm. Do
đó, hệ thống tài chính đóng vai trò thụ động trong cuộc huy động tiết kiệm và
phân bổ nguồn lực.
Bằng việc phân chia các cá nhân trong nền kinh tế thành hai loại (loại
thứ nhất có thu nhập dựa trên tiền lương và loại thứ hai có thu nhập dựa trên
lợi nhuận), lý thuyết Keynes cho rằng một chính sách lạm phát cao và lãi suất
thực giảm sẽ hấp dẫn hơn đối với các cá nhân thuộc loại hai và do đó họ có
động cơ tiết kiệm để đầu tư và giảm tiêu dùng. Loại thứ nhất sẽ chịu sự giảm
xuống về thu nhập thực, điều này khuyến khích họ tiêu dùng hơn là tiết kiệm.
Như vậy xu hướng tiết kiệm trên lợi nhuận tăng và xu hướng tiết kiệm trên
tiền lương giảm. Hệ thống tài chính có nhiệm vụ nhận ký thác các khoản tiết
kiệm từ loại cá nhân thứ hai cho đến khi họ đủ nguồn lực để đầu tư mới. Như
vậy, hệ thống tài chính có vai trò rất thụ động và nó chỉ phát triển sau nếu như
nền kinh tế phát triển bền vững. “Nói chung hệ thống tài chính nên phát triển
sau hơn là đi trước việc phát triển kinh tế. Sự độc lập về chính trị và thiết lập
ngân hàng trung ương không có tính cách là nền tảng cho sự phát triển. Xu
hướng chính của sự phát triển được xác định trên sự thịnh vượng của thị
trường xuất khẩu, trên dòng vốn nước ngoài, trên những chính sách về ngân
sách và trên những sự kiện chính trị. Hệ thống tài chính đóng vai trò trong
việc cổ vũ cho các ảnh hưởng đó” [Kitchen, 1986].
- Nhóm quan điểm ủng hộ: Đối lập với lý thuyết của trường phái
Keynes về vai trò thụ động của hệ thống tài chính trong việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, các lý thuyết cổ vũ cho tự do hóa tài chính khẳng định rằng
phát triển thị trường tài chính là rất cần thiết để phát triển kinh tế, và do vậy
đòi hỏi phải tiến hành tự do hóa tài chính. Họ cho rằng, thị trường tài chính là
kênh phân bổ tốt nhất các nguồn lực tài chính bởi cơ chế chia sẻ rủi ro và
chuyển giao có thời hạn (maturity transformation); trong điều kiện vốn đầu tư
là tương đối khan hiếm, nhất là tại các nước nghèo có thu nhập thấp thì một
11
- Xóa bỏ kiểm soát lãi suất và các loại phí dịch vụ tài chính: Chừng nào
mà chính phủ còn quy định trần lãi suất (tiền gửi hoặc cho vay) thì lãi suất
thực còn bị méo mó và không phản ánh được tính khan hiếm của đồng vốn.
Do đó kéo theo các hệ quả là:
+ Lãi suất thấp không kích thích tiêu dùng trong tương lai mà
kích thích tiêu dùng trong hiện tại, do đó tiết kiệm sẽ giảm dưới mức có thể.
+ Những người cho vay tiềm năng sẽ tỏ ra thích đầu tư vào các
dự án sinh lợi thấp của mình hơn là ký thác tiền vào ngân hàng.
+ Những người đi vay ngân hàng có thể nhận được các khoản
vay với lãi suất thấp hơn có thể sẽ chọn dự án đầu tư sinh lợi thấp hơn.
+ Việc quy định trần lãi suất cho vay còn dẫn đến việc tín dụng
không được phân phối dựa trên suất sinh lợi mong đợi của các dự án đầu tư
cạnh tranh mà dựa trên chi phí giao dịch và mức độ an toàn của các dự án đó.
Khi đó, phân bổ tín dụng trở nên không hiệu quả, méo mó.
Như vậy, thực hiện tự do hóa lãi suất nghĩa là quyền quyết định các
mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và các mức phí đối với hoạt động dịch
vụ tài chính sẽ được giao về cho các định chế tài chính.
- Giảm thiểu tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Ngân hàng trung ương thường quy
định cho các ngân hàng thương mại phải trích một tỷ lệ nhất định trong tổng
số các khoản ký thác đem gửi tại ngân hàng trung ương để đảm bảo khả năng
thanh toán cho các ngân hàng thương mại khi xảy ra trường hợp người gửi
đến rút tiền hàng loạt và ngân hàng thương mại thiếu tiền mặt chi trả. Mặt trái
của việc làm này là: (i) giảm khối lượng nguồn quỹ cho vay và (ii) làm gia
tăng quá mức khoảng cách giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay (các
nghiên cứu toán học đã chứng minh, chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi
suất cho vay đồng biến với tỷ lệ dự trữ bắt buộc). Để hạn chế các tác động (i)
và (ii) đòi hỏi phải giảm thiểu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các ngân hàng, tạo
điều kiện cho các ngân hàng hoạt động hết công suất vốn có của mình.
13
trên thị trường thế giới, đồng thời cũng đòi hỏi phải có cơ chế quản lý thị
trường ngoại hối một cách hiệu quả. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải xoá bỏ các
hạn chế về quản lý ngoại hối và thực hiện điều hành tỷ giá hối đoái theo cung
cầu thị trường, tức là phải tự do hóa hoạt động ngoại hối.
- Tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài
chính: là việc xoá bỏ những hạn chế về phạm vi hoạt động, phạm vi kinh
doanh của các tổ chức tài chính tạo nên sự tự do cạnh tranh trong các hoạt
động trung gian tài chính. Một thị trường muốn hình thành thì trước hết phải
có hàng hóa, người bán và người mua, trong đó hàng hóa là điều kiện cần, còn
các đối tác tham gia vào giao dịch thị trường (người bán, người mua) là điều
kiện đủ cho việc hình thành thị trường. Do đó, để các giao dịch trên thị trường
được vận hành theo các quy luật tự nhiên vốn có thì trước hết phải tự do hóa
hoạt động của các đối tác tham gia vào giao dịch thị trường này.
* Trình tự tự do hóa tài chính
Trên thực tế, không có một trình tự chung nào cho tất cả các quốc gia
trên con đường tự do hóa tài chính. Mỗi một quốc gia sẽ phải tự chọn cho
mình một con đường tự do hóa tài chính khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện
kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia đó. Chẳng hạn, Malaysia và Indonesia
là hai nước có những điều kiện tương đối giống nhau nhưng cũng vẫn có cách
đi riêng của mình:
SƠ ĐỒ 1. QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở MALAYSIA VÀ INDONESIA
TDH tín dụng
Trở lại kiểm soát
tín dụng
Rd= 3% (không tính
tiền mặt dự trữ)
15
Tuy nhiên, theo McKinnon, vẫn có thể chỉ ra một mô hình chung cho
phần lớn các quốc gia, và trong các điều kiện thông thường thì một quốc gia
bình thường nên tiến hành tự do hóa tài chính theo mô hình sau:
SƠ ĐỒ 2. TRÌNH TỰ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH CỦA MCKINNON Bước thứ nhất, Chính phủ phải đạt được sự cân bằng về tài chính.
Kiểm soát tài khoá nên đi trước tự do hoá tài chính. Cụ thể, chi tiêu của Chính
phủ phải hợp lý và hiệu quả, hệ thống thuế phải hợp lý nhằm bù đắp những
nguồn thu bị mất do việc giảm thuế xuất nhập khẩu để khuyến khích tự do
hóa. Lý do chính của yêu cầu phải ổn định tài khóa trước tiên dựa trên quan
điểm cho rằng sự thâm hụt ngân sách quá lớn của chính phủ trong điều kiện
thị trường tài chính chưa phát triển (để có thể phát hành trái phiếu chính phủ)
thường dẫn đến việc Ngân hàng trung ương phát hành nội tệ quá mức để tài
trợ thâm hụt ngân sách, từ đó dẫn đến lạm phát. Phân tích bước thứ hai của
quá trình tự do hoá tài chính sẽ càng làm rõ vấn đề này.
Bước thứ hai trong trình tự tự do hoá tài chính là việc mở cửa thị
Cải cách tài
khoản vốn
Quản lý tỷ giá hối đoái
16
cao, người cho vay sẽ bị thiệt do lãi suất thực có xu hướng âm, điều này sẽ
cản trở hành vi cho vay của người có vốn.
Song song với tự do hoá lãi suất là tự do hoá hoạt động của các ngân
hàng và việc phân bổ các nguồn tín dụng. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng chỉ
được giải phóng khỏi các đòi hỏi dự trữ phiền hà và các chỉ dẫn chính thức
trong việc định lãi suất tiêu chuẩn đối với tiền gửi vào và tiền cho vay sau khi
việc kiểm soát tài khoá chặt chẽ được bảo đảm, sao cho chính phủ không còn
cần phải đánh thuế lạm phát hoặc đánh thuế vào khoản tiền tích trữ quá mức
của người gửi tiền để có thu nhập. Như vậy, một lần nữa, kiểm soát tài khoá
lại phát huy vai trò là một bước đệm quan trọng trong tiến trình tự do hoá tài
chính.
Sau khi các ngân hàng đã quen với cách thức hoạt động độc lập theo cơ
chế thị trường, bước tiếp theo là mở rộng sự tham gia của các trung gian tài
chính mới, cho phép cả các tổ chức tài chính nước ngoài hoạt động. Tuy
nhiên quy chế này cũng cần được nới lỏng dần dần bởi nếu như hệ thống tài
chính được nới lỏng hoàn toàn và bất ngờ thì nó sẽ gây tác hại không nhỏ tới
hệ thống tài chính. Các tổ chức mới tham gia thị trường (trung gian tài chính
nước ngoài, có vốn lớn, công nghệ quản lý tốt ) khi đưa ra mức lãi suất hấp
dẫn hơn lãi suất hiện có của thị trường nhằm mục đích cạnh tranh giành tiền
gửi vô hình chung sẽ buộc các ngân hàng đang hoạt động phải nâng mức lãi
suất đối với tất cả các khoản tiền gửi của mình (cũ lẫn mới) để giữ khách.
Như vậy, các tổ chức trung gian tài chính này sẽ phải chịu mất thêm chi phí
do tăng lãi suất tính cho toàn bộ số tiền gửi của nó, trong khi các tổ chức mới
tham gia thị trường chỉ phải mất chi phí cho số ít tiền gửi mới thu hút được.
Kết quả là các ngân hàng “cũ” trên thị trường phải chịu lỗ về vốn đáng kể.
Gregorio và Guidotti (1992), King và Levine (1993), Levine và Zervos
(1996), Rangarajan (1997), Beck, Demirgiic Kunt và Levine (2000), đã đưa
ra rất nhiều loại thước đo (chỉ số) với tên gọi và cách tính toán khác nhau như
18
Tỷ lệ tài sản của Ngân hàng trung ương (NHTW) trên tổng thu nhập quốc nội
(GDP), Tỷ lệ tài sản lỏng trên GDP, Tỷ lệ tài sản của các ngân hàng thương
mại (NHTM) trên tổng tài sản tài chính của nền kinh tế, Nhìn chung, có thể
chia các loại chỉ số này thành 3 loại chỉ số chính như sau:
a. Loại chỉ số nghiên cứu về quy mô của khu vực tài chính có khả năng
sinh lợi trong nền kinh tế. Trên quan điểm phân chia hệ thống tài chính ra
thành 2 bộ phận lớn: khu vực có khả năng sinh lợi (profitable) và khu vực
không có khả năng sinh lợi (non-profitable), các nhà nghiên cứu tập trung
phân tích khu vực thứ nhất vì khu vực này phản ánh rõ nhất tính thị trường
của hệ thống tài chính. Chỉ số tiêu biểu cho loại này là chỉ số DEPTH.
Tài sản lỏng
DEPTH =
GDP
trong đó:
+ Tài sản lỏng: bao gồm toàn bộ lượng tiền mặt nằm ngoài hệ
thống ngân hàng cộng với tài sản có sinh lợi nằm trong hệ thống NHTM và
các trung gian tài chính phi ngân hàng khác (bảo hiểm, quỹ tín dụng, )
+ GDP: tổng thu nhập quốc nội của nền kinh tế
Trên thực tế, giá trị tài sản lỏng trong công thức trên lại chính bằng
khối lượng tiền rộng (M2, M3) của nền kinh tế. Vì vậy, để đơn giản hơn ta có
thể dùng công thức:
M2 (hoặc M3)
DEPTH =
GDP
trong đó:
tờ có giá (tài sản lỏng) do các NHTM phát hành nhằm cung cấp vốn cho khu
vực kinh tế tư nhân phát triển.
+ GDP: tổng thu nhập quốc nội
20
PRIV/Y tăng có nghĩa là vai trò của các trung gian tài chính (trừ
NHTW) trong việc phân bổ nguồn vốn cho khu vực kinh tế tư nhân và phi
chính phủ đang có sự gia tăng. Đây chính là dấu hiệu chứng tỏ hiệu quả hoạt
động của các trung gian tài chính đang được nâng cao, thị trường tài chính
đang tiến gần đến tự do hóa. Điều này cũng gợi ý rằng, nếu có sự cải tổ lại hệ
thống ngân hàng, thì việc cung cấp thêm các dịch vụ tài chính mới sẽ có hiệu
quả hơn cho khu vực tư nhân so với cho khu vực công cộng.
c. Loại chỉ số nghiên cứu về quy mô của các trung gian tài chính trong
mối quan hệ qua lại với nhau, cụ thể là giữa khu vực có khả năng sinh lợi và
khu vực phi sinh lợi, giữa khu vực tư nhân và khu vực công cộng, giữa
NHTW và các tổ chức tín dụng khác, Đây là loại chỉ số nhằm xác định tính
thị trường của hệ thống tài chính thông qua việc đo lường số lượng, quy mô,
giá trị tài sản của các trung gian tài chính sẵn sàng cung cấp các dịch vụ có
khả năng sinh lợi như quản trị rủi ro và công nghệ mới.
Đại diện cho loại chỉ số này là BANK. Chỉ số BANK là tỷ lệ giữa tài
sản của các NHTM trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng (bao gồm cả
NHTW và các NHTM).
Tài sản nội địa của NHTM
BANK =
Tài sản nội địa của hệ thống ngân hàng
trong đó:
+ Tài sản nội địa của NHTM: bao gồm toàn bộ tài sản của các
NHTM được phát hành cho thị trường nội địa.
+ Tài sản nội địa của hệ thống ngân hàng: bao gồm tài sản nội
địa của các NHTM cộng với tài sản nội địa của NHTW.
0,192
0,727
Nhật Bản
1,980
1,092
0,904
Malaysia
1,332
0,984
0,917
Phillippin
0,618
0,360
0,899
Thái Lan
1,144
0,786
0,967
Việt Nam
0,459
0,353
0,933
Nguồn: International Financial Statistics (IFS), IMF. ()
Ở phần trên chúng ta đã phân tích, việc phân loại các chỉ số phụ thuộc
vào mục đích sử dụng các chỉ số đó. Cụ thể:
- Chỉ số DEPTH nghiên cứu về quy mô của khu vực tài chính có khả
năng sinh lợi trong nền kinh tế.
- Chỉ số PRIV/Y nghiên cứu về khả năng phân bổ tín dụng cho các khu
vực của nền kinh tế.
23
mới có cơ hội đạt đến thị trường cạnh tranh hoàn hảo, ở đó các quy luật của
thị trường sẽ phát huy tối đa vai trò của chúng để giữ cho thị trường đạt hiệu
quả cao nhất về phân bổ nguồn lực, xác lập giá cả, cung-cầu, Một thị trường
tài chính được tự do hóa sẽ đem lại lợi ích cho quốc gia đó trên các mặt sau:
* Góp phần huy động được nguồn vốn lớn hơn và phân bổ vốn có hiệu
quả hơn. Trước hết, xét về nguồn vốn trong nước, tự do hoá tài chính có thể
nâng cao tỷ lệ tiết kiệm của tư nhân so với thu nhập và mở ra cách thức phân
bổ vốn tốt hơn thông qua việc mở rộng và đa dạng hoá thị trường tài chính mà
ở đó các cơ hội đầu tư cạnh tranh nhau để thu hút các dòng tiết kiệm và thị
trường có khuynh hướng làm bình đẳng phân phối thu nhập. Quá trình này
không chỉ làm tăng tiết kiệm và những nguồn vốn có thể cho vay mà còn làm
cho việc phân bổ những nguồn vốn đó có hiệu quả hơn và do đó góp phần dẫn
đến một mức tăng trưởng kinh tế cao hơn.
Về phía nước ngoài, tự do hoá tài khoản vốn tạo cơ hội cho các nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư vào trong nước qua các kênh FDI và PFI, đóng góp một
nguồn vốn vô cùng quan trọng cho nền kinh tế. Mặt khác, các nhà đầu tư vì
động cơ lợi nhuận nên luôn tính toán xem sẽ đầu tư vốn vào đâu cho có hiệu
quả nhất. Chính vì vậy mà nguồn vốn càng được phân bổ hiệu quả hơn.
Những người ủng hộ sự lưu chuyển tự do của vốn còn chỉ ra các lợi ích
vượt ra ngoài lợi ích tĩnh do quá trình phân bổ lại nguồn vốn vay giữa các
nước như sau: do vốn cổ phần trong nước bây giờ có thể được kết hợp trong
một danh mục đầu tư rộng lớn hơn nhiều nên chúng ít rủi ro hơn. Điều này
làm tăng giá của chúng và giảm chi phí vốn cho các công ty trong nước. Đến
lượt mình, điều này lại làm cho các cơ hội đầu tư trước đây được coi là quá
mạo hiểm trở nên khả thi và tổng hợp lại, những cơ hội này có thể đóng góp
đáng kể cho tăng trưởng.
* Nâng cao tính cạnh tranh của hệ thống tài chính trong nước. Ngành
dịch vụ tài chính tại bất cứ quốc gia nào cũng sẽ phải chịu tổn thất do việc xoá
25
“Thời gian trước đây, khi chúng ta cho phép cạnh tranh mạnh hơn trong
lĩnh vực dịch vụ tài chính, người tiêu dùng đã được hưởng những lợi ích đáng
kể Năm 1995, giới tiêu dùng Mỹ chi phí vào khoảng 300 tỷ đô la vào các
hoạt động bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và môi giới chứng khoán. Giả sử
rằng, do kết quả cạnh tranh của kế hoạch hiện đại hóa hoạt động dịch vụ tài
chính mà chi phí dịch vụ đối với người tiêu dùng có thể giảm đi 1% thì cũng
đã tiết kiệm được khoảng 3 tỷ đô la một năm. Tuy nhiên dựa trên những cơ sở
thực tế, tỷ lệ tiết kiệm chi phí hoàn toàn có thể đạt đến mức 5% - tức là vào
khoảng 15 tỷ đô la mỗi năm - một con số hoàn toàn không nhỏ đối với nền
kinh tế”. [Robin, 1997].
b) Hội nhập vào tiến trình phát triển chung của thế giới cũng tức là
tham gia vào toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một trong những
bước đi đầu tiên để hội nhập vào tiến trình này chính là hội nhập trên lĩnh vực
tài chính, và do vậy đòi hỏi quốc gia đó phải thực hiện tự do hóa tài chính.
Bởi vì, một khi thực hiện tốt tự do hóa tài chính thì quốc gia đó mới có thể
khai thác được những mặt tích cực của toàn cầu hóa và hội nhập phục vụ cho
sự nghiệp phát triển đất nước. Những mặt tích cực đó là:
* Thúc đẩy thương mại quốc tế. Thương mại giữa các quốc gia thực
chất là trao đổi ngang giá, do vậy một giao dịch thương mại luôn có hai mặt:
chuyển giao hàng hoá dịch vụ và thanh toán. Ở đây, tự do hoá tài chính thúc
đẩy thương mại quốc tế bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho mặt thứ hai
thông qua tự do chuyển tiền, tự do mua các tài sản ngoại tệ từ các nguồn thu
xuất khẩu, chủ động bảo hiểm tỷ giá
* Phân tán rủi ro. Rủi ro là hiện tượng phổ biến trong mọi hoạt dộng
kinh tế. Do vậy, phân tán rủi ro là một nhu cầu khách quan. Việc phân tán đầu
tư ở nhiều nơi khác nhau dưới nhiều hình thức sẽ cho phép bảo toàn được vốn
trong mọi trường hợp (đa dạng hóa danh mục đầu tư để đảm bảo “không bỏ
trứng vào chung một rổ”). Dưới tự do hoá tài chính, việc tự do hoá tài khoản