Nghiên cứu quy trình phân tích một số kháng sinh họ Floquinolon trong mẫu tôm - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
# $ # £ * * * *
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH PHÂN TÍCH
MỘT SỐ KHÁNG SINH HỌ
FLOQUINOLON TRONG MAU t ô m
M Ã SỐ : QT-07-57
CH Ủ TRÌ Đ Ề TÀI : TS. Dương Hồng Anh
CÁC C ÁN BỘ THAM GIA: ThS. Phạm Ngọc Hà
CN. Trần Thanh Tuấn
CN. Nguyễn H oàng Tùng
ĐA! HỌC QUỐC GIA HÀ NÔi
TRUNG TẨM THÒNG TIN THƯ VIÊN
H À N Ộ I-3 /2 0 0 8
IM TẮT KẾT QUẲ THỰC HIỆN
Đề tài cap DHQGHN năm 2007
1. Tên đề tài:
Nghiên cứu quy trình phân tích dư lượng một số kháng sinh họ Floquinolon trong
mẫu tôm
Mả số: QT - 07 - 57
2. Chủ trì đề tài: TS. Dương Hồng Anh
3. Các cán bộ tham gia: ThS. Phạm Ngọc Hà
CN. TrầnThanh Tuấn
CN. Nguyễn Hoàng Tùng
4. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu tối ưu hoá quy trình phân tích dư lượng một số kháng sinh họ
Floquinolon trong mẫu tôm trên cơ sở sử dụng kỹ thuật chiết pha rắn để xử lý
mẫu và phân tích định tính, định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng
cao.
Nội dung nghiên cứu:

HCOOH. Thực hiên quá trình chuyển đổi dung môi và phân tích định tính
định lượng báng HPLC-FLD. Qui trình có hiệu suất thu hồi với bốn loại
floquinolon 62 - 84%, giới hạn định lượng 4,9 - 6 , 6 |J.g/kg đáp ứng yêu cầu
phân tích mẫu tôm
> Quy trình 3: mẫu tôm được chiết bằng đệm phôtphát pH=7,4. Dịch chiết
được làm sạch và làm giàu bằng kỹ thuật chiết pha rắn sử dụng cột HLB gồm
các bước: nạp mẫu, rửa tạp chất lần 1 bằng 3 mL NH3 5%, rửa tạp chất lần 2
bằng 3mL NH3 /M e0H/H20 (lOMy 5VP), rửa giải bằng 3mL NH3/H20/M e0H
(lO/to/80). Thực hiện quá trình chuyển đổi dung môi và phân tích định tính
định lượng bằng HPLC-FLD. Qui trình có hiệu suất thu hồi với bốn loại
floquinolon 60- 85%, giới hạn định lượng 5,1 - 7,6 ng/kg đáp ứng yêu cầu
phân tích mẫu tôm
- Đã lấy 4 mẫu tôm tươi ở các chợ Hà Nội phân tích, phát hiộn dư lượng kháng
sinh Ciprofloxacin, Norfloxacin và Enrofloxacin trong 3 mẫu phân tích với cỡ độ
từng kháng sinh 5 -1 3 |ig/kg.
Tóm tắt kết quả nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của kết quả đạt được:
- Các quy trình phân tích dư lượng một số kháng sinh họ Floquinolon trong mẫu
tôm trên cơ sở sử dụng kỹ thuật chiết pha rắn (dùng cột MAX, MCX hoặc HLB)
để xử lý mẫu và phân tích định tính, định lượng bằng phương pháp HPLC/FLD
có giới hạn định lượng phù hợp với yêu cầu thực tế, nếu so sánh với phương pháp
HPLC/MS/MS đạt tương quan tốt thì có thể chuyển giao cho cơ sở sử dụng là
PTN của Cục Quản lý chất lượng an toàn vệ sinh, thú y thủy sản (NAFIQAVED)
6. Kinh phí của đề tài
6.1. Kinh phí được cấp: 20 triệu đổng
6.2. Giải trình các khoản chi:
- Thuê khoán chuyên môn:
- Hoá chất, nguyên liệu, dụng cụ:
- Hội nghị, hội thảo:
- Điện nước và quản lý phí:
9.000.000 đồng

procedures including wash and elution stages were optimized for the best
extraction efficiency.
> Fluoroquinolnes were quantitated and qualificated by high performance
chromatography/ fluorensence method.
- Several shirmp shamples were collected from markets in Hanoi for analysis as a
practical examples for the developed methods
5. Summary of obtained investigation results
- Completing 03 analytical procedure for determination of Fluoroquinolone
Antibacteria agents (FQs) in shirmp sample.
> Procedure 1: Firstly, the homogenous shirmp sample was extracted by.
shaking with phosphate buffer (pH=7,4). The extract was cleanup by solid
phase extraction technique using MAX cartridge. The clean up includes
following stages: samples filling, r ‘ washing by 3 mL of NH3 5%, 2Gd
washing by 3 mL of MeOH, 3rd washing by 3 mL of 4% HCOOH in
Me0H/H20 (10:90), elution by 3mL 6 % HCOOH in Me0H/H20 (95:5).
The elute was analysed by HPLC-FLD. Average recoveries obtained for FQs
were in range of 62 - 84%. Quantitative determination limits were in range of
4,9- 6 , 6 ng/kg. The investigated procedures were suitable for analysis of
shữmp samples.
> Procedure 2: Firstly, the homogenous shirmp sample was extracted by
shaking with EtOH/axit axetic (99/1). The extract was cleanup by solid phase
--

0 MCX cartridge. The clean up includes following
stages: samples filling, 1“ washing by 3 mL of EtOH/axetic acid (99/1), 2nd
washing by 3 mL of MeOH, 3" 1 washing by 3 mL of NHj/MeOH/HjO
(10/5/85), elutíon by 3mL NH3/Me0 H/H2 0 (10/85/5). The elute was

mẫu tôm
1.6. Giới thiệu chung vể cấu tạo, cơ chế hoạt động của các cột chiết pha rắn
được sử dụng trongnghỉên cứu
1.6.1. Cột MAX 13
1.6.2. CộtM CX 13
1.6.3. CộtHLB 14
II. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 15
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 15
2.2. Phương pháp nghiên cứu 15
III. THỰC NGHIỆM 16
3.1. Hoá chất, dụng cụ, thiết bị 16
3.2. Điều kiện phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao 16
3.3. Thực nghiộm 17
3.3.1. Pha các dung dịch chuẩn và dung địch cần sử dụng 17
1
23
27
30
3.3.2. Xây dựng, đánh giá phương pháp chiết pha rắn/ kết hợp sắc ký
lỏng hiệu năng cao phân tích dư lượng FQs trong mẫu tôm 18
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1. Nghiên cứu các qui trình xử lí mẫu bằng kỹ thuật chiết pha rắn 23
4.1.1. Tối ưu hoá các bước trong qui trình chiết pha rắn sử dụng cột
MAX
4.1.2. Tối ưu hoá các bước trong qui trình chiết pha rắn sử dụng cột
MCX
4.1.3. Tối ưu hoá các bước trong qui trình chiết pha rắn sử dụng cột
HLB
4.2. Phép đo định tính và định lượng các FQs bằng phương pháp HPLC/FLD 33
4.2.1. Khảo sát khoảng tuyến tính của các đường chuẩn xác định FQs 33

: cột chiết pha rắn loại anion hỗn hợp
MCX
: cột chiết pha rắn loại cation hỗn hợp
NOR
: kháng sinh norfloxacin
SPE
: phương pháp chiết pha rắn
PLE
:phương pháp chiết lỏng dưới áp suất cao
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1. Một số kháng sinh thường được sử dụng ở Viột Nam trong
nuôi tôm 7
Bảng 2. Độ lặp của phép đo xác định NOR, CIP, LOM, ENR 36
Bảng 3. Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng của các phương
pháp xác định FQs trong mẫu tôm sử dụng các loại cột chiết
khác nhau 37
Bảng 4. Kết quả khảo sát hiệu suất thu hổi của phương pháp phân
tích sử dụng cột MAX 38
Bảng 5. Kết quả khảo sát hiệu suất thu hồi của phương pháp phân
tích sử đụng cột MCX 38
Bảng 6 . Kết quả khảo sát hiệu suất thu hổi của phương pháp phân
tích sử dụng cột HLB 39
Bảng 7. Dư lượng FQs trong mẫu tôm tươi tại chợ Phùng Khoang 40
Bảng 8 . Dư lượng FQs trong mẫu tôm tươi tại chợ Phùng Thanh
Xuân 40
Bảng 9. Dư lượng FQs trong mảu tôm tươi tại chợ Hàng Bè 40
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, Đ ổ THỊ
* 7 •

HLB 33
Hình 20. Khoảng tuyến tính của NOR; G P; LOM; ENR 34
Hình 21. Đường chuẩn xác định NOR, CIP, LOM, ENR ưong khoảng
nổng độ 3,3-201ppb 35 .
Hình 22. Sắc đổ phân tích mẫu tôm tươi lấy tại chợ Phùng Khoang 40
Hình 23. Sắc đồ phân tích mảu tôm tươi lấy tại chợ Thanh Xuân 40
Hình 24. Sắc đổ phân tích mẫu tôm tươi lấy tại chợ Hàng Bè 41
5
MỞ ĐẨU
Nghề nuôi tôm Việt Nam thực sự phát triển từ sau năm 1987 và nuôi tôm
thương phẩm phát triển mạnh vào những năm đầu thập kỷ 90. Nuôi tôm đã trỏ thành
ngành kỉnh tế quan trọng, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân và tạo
nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước thông qua xuất khẩu. Diện tích nuôi tôm đã
tăng từ 250.000 ha (năm 2000) lên đến 478.000 ha (năm 2001) và 540.000 ha (nãm
2003) [1]. Sản lượng nuôi tôm cũng tăng mạnh, đặc biệt từ sau năm 2000, Việt Nam
trở thành một trong năm nước có sản lượng tôm nuôi cao nhất trên thế giới. Năm 2001
xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 1,76 tỷ đô la, riêng xuất khẩu tôm đã thu về 780
triệu đô la. Sang các năm 2002, 2003 giá trị xuất khẩu tôm tiếp tục tăng và đến năm
2004, giá trị xuất khẩu tôm đã tăng gấp 1,6 lần so với năm 2001 [1,2].
Tuy nhiên, nghề nuôi tôm ở Việt Nam đang phải đối mặt với một thách thức
nghiêm trọng, đó là sự bùng nổ của các loại bệnh dịch làm ảnh hưởng nặng nề tới sản
lượng tôm. Để phòng bệnh cũng như trị bệnh, người ta phải sử dụng nhiẻu các loại
thuổc và hóa chất như oxytetracylin, sulfonamid, amoxicilin , trong đó có kháng sinh
nhóm floquinolon (FQs). Chính việc sử dụng kháng sinh trong môi trường thủy sản sẽ
làm ảnh hưởng đến chất lượng xuất khẩu của tôm và môi trường nuôi tôm. Làm cho
các vật nuôi và con người kháng lại thuốc khi sử dụng thực phẩm cố nhiễm thuổc, làm
vi khuẩn gây bệnh bị nhờn thuốc. Từ đó, dẫn đến giảm hiệu quả chữa trị của thuốc
kháng sinh. Kiểm soát dư lượng kháng sinh FQs là một yêu cầu nghiêm ngặt đối với
thuỷ sản xuất khẩu vì trong thời gian qua, thuỷ sản Việt nam như tôm và cá da trơn
xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ và Nhật đã bị một số lần trả lại do phát hiện dư lượng

STT
Tên thuốc
Thành phần thuốc Công dụng
1
Anti- Vibrio f/s
Sulfamethosazole
AmpiciUine
Trimethoprim
chữa và ngăn ngừa
bệnh đốm đen cho tôm
2
Biosultrim for shrimp
Ampicillin,
Furaltadone,
Sulfachlorpyridazine
Chữa các bộnh truyền
nhiễm gây nên bởi vi
khuẩn
3
Bioxde for shrimp/ biotech
for shrimp
Ampicilline,
Furaltadone,
Sulfachlorpyridazine
Ngăn chặn và chữa các
bệnh phân trắng, cháy
đuôi, khử trùng ao nuôi
7
4
Coli- Flumycin

đốm đen, đốm nâu, và
bênh chết hoai
9
Norfloxacin 300 for shrimp
Norfloxacin
Hydrochloride 30%
ngăn và chữa bộnh
cháy đuôi, các bệnh
gây nên bải vi khuẩn
phẩy
1 0
Neotetracol- strep for
shrimp
Flumequine,
Neomecine sulfate
Phòng và chữa bệnh
cháy đuôi, bệnh trương
mang
1 1
Norfloxacin 300 for shrimp Norfloxacin,
Trimethoprim,
Sulfamethoxazole
Phòng, chữa bệnh lây
nhiễm gây nên bởi
vikhuẩn phẩy và bệnh
cháy đuôi
1 2
Oxolinic 30% for shrimp Oxolinic acid
Phòng và chữa bệnh
lây nhiễm gây nên bởi

Mỹ, Nhật, EU, Nga và mục tiêu phát triển kim ngạch xuất khẩu ở mức 3,5- 4 tỉ đô la
sẽ trở thành vô vọng nếu như không khắc phục kịp thời.
1.3. Đổi tượng nghiên cứu - các kháng sinh floquinolon trong tom
Trước đây oxytetracyclin được sử dụng rộng rãi trong nhiều năm nhưng gần đây
nhóm kháng sinh FQs và sự kết hợp giữa sulfadiazine và trimethoprim được sử dụng
phổ biến hơn do có phổ kháng khuẩn rộng. Chúng được dùng để chống lại vi khuẩn
Gram (-). Vì vậy được dùng để trị các bệnh phát sáng, đốm đen, cháy đuôi, phân
trắng. Các kháng sinh nhóm quinolone được sử dụng rất phổ biến ở Thái Lan đặc biệt
là oxolinic axit, norfloxacin (NOR) và enrofloxacin (ENR). Khi phỏng vấn 100 người
sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm ở Thái Lan thì có tới 46 người có sử dụng kháng
sinh FQs (46%) trong đó có 29 người sử dụng NOR (29%), 9 người sử dụng ENR
(9%) [1 1]. Họ thường dùng NOR và ENR để trị bệnh với liều lượng 0,5- 0,6 g/kg thức
9
ăn, 3 lần một ngày và kéo dài một tuần [3, 4]. ở Việt Nam kỹ thuật nuôi và chãm sóc
tồm cũng tương tự như Thái Lan vì vậy nhóm FQs cũng được sử dụng rất phổ biến.
Khi phân tích mẫu nước tại các đầm nuôi tôm tại Nam Định, Thái Bình, Cần Giờ, Cà
Mau thì có tổi hơn nửa số mảu tại các địa phương này chứa NOR với hàm lượng cao
(cao nhất là 2,605 M-g/g) [13]. Chính việc sử dụng phổ biến nhóm FQs đã dẫn đến tồn
tại dư lượng kháng sinh trong tôm. Điều này đã gây tổn thất lớn cho nước ta khi các lô
hàng xuất khẩu đều bị trả về do phát hiện có dư lượng kháng sinh FQs.
Năm 2005, 19/21 lô hàng xuất khẩu sang Mỹ bị phát hiện cố dư lượng kháng sinh
dẫn đến 3 bang của hoa kì cấm nhập khẩu thuỷ sản Viột Nam. Đến năm 2007 Nhật
Bản và Nga cũng phát hiện có dư lượng FQs trong tôm xuất khẩu của Việt Nam. Điều
này không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế mà nguy hại hơn là mất thị trường ở các
nước này. Bên cạnh đố do lo ngại tác hại của dư lượng kháng sinh nên các nước EU,
Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đểu hạ thấp giới hạn cho phép của các kháng sinh này. Vì
vậy vấn đẻ phân tích dư lượng kháng sinh ngày càng trở nên cấp thiết nhất là đối với
ngành thuỷ sản của Viột Nam.Vì những lí do trên chúng tôi chọn đối tượng nghiên
cứu là xây dựng quy trình phân tích dư lượng kháng sinh FQs trong tôm.
Các FQs được lựa chọn để nghiên cứu là norfloxacin (NOR), cipprofloxacin (CIP),

dạng tín hiộu. Do vậy chúng tôi quyết định lựa chọn việc chiết chất cần phân tích từ
mảu đã đồng thể hoá bằng cách lắc với dung môi thích hợp sau đó li tâm gạn lấy dịch
trong.
11
Trong bước tiếp theo dịch chiết được làm sạch và làm giàu bằng phương pháp
chiết pha rắn [23]. Các hợp chất FQs có chứa cả nhóm COOH và NH2 trong phân tử
với pKa cỡ 5 - 9, do vậy tuỳ theo pH các hợp chất này có thể mang điện tích dương
hoặc điện tích âm do vậy có thể sử dụng các cột chiết trao đổi anion và cation để xử lí
dịch chiết. Mặt khác trong phân tử các FQs cũng có các cấu trúc vòng thơm do vậy
cũng có thể sử dụng các cột chiết theo cơ chế hấp phụ pha ngược. Sau khi tham khảo
tài liộu, chứng tôi quyết dịnh lựa chọn 3 loại cột chiết pha rắn để khảo sát là cột trao
đổi cation hỗn hợp (MCX), cột trao đổi anion hỗn hợp (MAX) và cột cân bằng ưa
nước - kỵ nước (HLB). Với từng loại cột chiết các bước rửa chất bẩn, rửa giải sẽ được
khảo sát tối ưu hoá.
Để phân tính định tính và định lượng các FQs, người ta thường sử dụng sắc kí
lỏng. Việc tách các FQs được thực hiện dễ dàng với cột tách pha ngược sử dụng nước
và Acetonitrìl làm pha động. Bên cạnh đó ta có thể sử dụng rất nhiéu loại đetectơ để
định lượng.
Bailac và các đồng nghiệp [7] đã công bố phương pháp xác định CIP, DAN, ENR,
FLO, SAR, DIF, oxolinic axit và FLU, sử dụng chiết pha rắn kết hợp LC-UV, kết quả
cho giới hạn phát hiện (LOD) là 16-30 Ug/Kg. Do các FQ có khả năng phát huỳnh
quang nên người ta thường sử dụng detecto FLD bởi vì nó nhạy hơn và chọn lọc hơn
ƯV. Ramos và các cộng sự [14] sử dụng LC-FLD xác định 5 FLQ (CIP,ENR, oxolinic
axit, FLU và SAR) trong thịt lợn và cá hồi LOD 5ug/Kg riêng SAR là 10 Ug/Kg. Sử
dụng LC-MS xác định FQ cho LOD tương đối thấp. Trong nghiên cứu của Hermo [9]
đã chỉ ra rằng LOD thấp hơn 10-30 lần khi sử dụng LC-UV và khi sử dụng LC-
MS/MS thì LOD thấp hơn 35 lần khi dùng LC-UV.
Trên cơ sở trang thiết bị và kinh nhiệm đã có, trong nghiên cứu này chúng tôi lựa
chọn phương pháp HPLC-FLD sửdụng cột tách Amit C16 đã được tác giả Eva Golet
phát triển làm phương pháp định lượng [8 ]

Mẫu tôm được đổng thể hoá. Cân một lượng nhất định cho vào cốc, thêm dung
môi chiết thích hợp, rung lắc để chiết FQs ra khỏi nền mẫu tôm, sau đó lỉ tâm gạn lấy
dịch trong. Làm sạch và làm giàu dịch chiết bằng kỹ thuật chiết phã rắn sử dụng các
loại cột chiết khác nhau: cột trao đổi cation hỗn hợp (MCX), cột trao đổi anion hỗn
hợp (MAX), cột HLB. Sau đó, FQ được phân tích định tính và định lượng bằng sắc ký
lỏng hiệu năng cao với detectơ huỳnh quang sư dụng phương pháp ngoại chuẩn. Với
mỗi cột chiết pha rắn các giai đoạn rửa chất bẩn, rửa giải được tối ưu hoá nhằm dem
lại hiệu quả chiết tốt nhất.
Các thông số như hiệu suất thu hổi, độ lặp ỉại, giới hạn phát hiện được xác định
để đánh giá phương pháp phân tích. Một số mẫu tôm tươi được lấy tại các chợ Hà Nội
và phân tích để minh hoạ khả nâng sử dụng của phương pháp.
15
ra. THỰC NGHIỆM:
3.1. Hoá chất, dụng cụ, thiết bị
- Chất chuẩn dạng bột: ciprofloxacin (Bio Fluka -17850), norfloxacin
(SIGMA:0-8757), lomefloxacin (SIGMA: L-2906), enrofloxacin (Fluka)
- Dung dịch axit photphoric 85%, axetonitril, amoniac 25%, axit clohydric 37%,
metanol tinh khiết (Merck, Darmstadt, Đức)
- Cột chiết pha rắn HLB 6 mL 150 mg, MAX 6 ml 150 mg, MCX 6 ml 150 mg
(Oasis, Mỹ)
- Giấy pH, giấy lọc kích thước 0,45^im, 0 ,2 |im
- Bình định mức 1, 2, 5, 50, 2000 ml, lọ đựng mẫu thể tích 1,5ml, micropipet 10,
100, 1000, 5000 ịú.
- Bộ chiết pha rắn Supelco, máy lắc Vortex (Bohemia, Mỹ), máy ly tâm Rotina
35R (Hettich, Đức).
- Cân phân tích độ chính xác 0,000 lg Mettler (Thuỵ sỹ)
- Thiết bị sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC -
LC10AB), sử dụng detectơ huỳnh quang (FLD) của hãng Shimadzu - Nhật Bản.
3.2. Điều kiện phán tích sắc ký lỏng hiệu năng cao:
Các điều kiện phân tích sắc kí lỏng hiệu năng cao được sử dụng như sau:

trên thiết bị HPLC
3.3.2. Xây dựng, đánh giá phương pháp chiết pha rắn! kết hợp sắc ký lỏng hiệu
năng cao phân tích dư lượng FQs trong mẫu tôm
3.3.2.I. Chiết và tách các FQs ra khỏi mẫu tôm mẫu
Cân chính xác 5 g mẫu tôm cho vào cốc, thêm 30 ml dung môi chiết (dung môi
chiết là đêm photphat (pH= 7,4) nếu sử đụng cột HLB, cột MAX, dung môi chiết là
EtOH/axit axetic (99 :1) nếu sử dụng cột MCX). Quy trình chiết tách được chỉ ra
trong hình sau.
17
Hình 5: Qui trình chiết tách các FQs từ mẫu tôm
Mẫu được đồng hóa bằng dụng cụ chuyên dụng trong 5 phút, đem rung lắc
trong 30 phút trên máy lắc tự động, sau đó li tâm trong vòng 10 phút với tốc độ 4000
vòng/ phút. Gạn lấy lớp dịch trong phía trên vào bình tam giác. Sau đó lấy 10 ml dịch
chiết thu được cho qua cột chiết để loại tạp chất và làm giàu.
3.3.2.2. Nghiên cứu các qui trình xử lí mẫu bằng kỹ thuật chiết pha rắn
Các FQs sau khi được chiết ra khỏi mẫu tôm có hàm lượng nhỏ và dịch chiết có
chứa rất nhiều chất gây ảnh hưởng vì vậy cần phải được làm sạch và làm giàu bằng kỹ
thuật chiết pha rắn sử dụng các loại cột chiết khác nhau. Hãng Water- Oasis Mỹ,
hãng sản xuất các cột chiết pha rắn đã có nghiên cứu về FQs và đưa ra các quy trình
cơ bản sử dụng cột MAX và MCX để xử lí các mẫu dịch chiết từ thận bò [12,24]. Trên
cơ sở các bước cơ bản này, chúng tôi đã khảo sát lại từng bước rửa chất bẩn và rửa giải
để sử dụng cho dịch chiết mẫu tôm.
18
* Cột MAX:
Hình 6 : Các bước cơ bản trong qui trình sử dụng cột MAX
Trên cơ sở các bước bản mà hãng Water-Oasis đưa ra trong hình 6 , sau bước
rửa lần 1 bằng NH3 5% và bước rửa lần 2 bằng MeOH, chúng tôi đưa thêm một bước
rửa lần 3 bằng hỗn hợp M e0H/H20 (chứa 4% axit focmic) để loại bỏ các chất ảnh
hưởng có độ phân cực lớn hơn độ phân cực của FQs. Phần trăm MeOH trong hỗn hợp
thay đổi từ 10 tới 80%. Sau khi thêm bước rửa lần 3, chúng tôi tiếp tục khảo sát dung

dung tích hấp thu cao, giá thành thấp hơn so với cột trao đổi cation nên trong nghiên
cứu này chúng tôi cũng khảo sát việc sử dụng cột HLB trên cơ sở quy trình xử lí cơ
bản đối với mẫu dịch chiết của nước thải và bùn trước đây. Đối với quy trình này, sau
bước rủa lần 1 bằng NH3 5%, chúng tôi đưa thêm một bước rửa lần 2 bằng hỗn hợp
NHj/MeOH/ H20 (tỷ lệ dung dịch NH3 theo thể tích cố định là 10%), % MeOH theo
thể tích thay đổi từ 10 tới 70% để khảo sát việc rửa các chất ảnh hưởng có độ phân cực
20

Trích đoạn Khảo sát bổ sung bước rửa lần 3 bằng axit focmic/MeOH/HjO Khảo sát, tìm điều kiện tối ưu của dung mói rửa giả Quyết định công nhận đề tài luận văn thạc sỹ và người hướng dản học viên cao học Trần Thanh Tuấn Thiết bị sắc ký lỏng hiệu nãng cao (HPL C LC10AB) sử dụng detectơ huỳnh quang (FLD) của hãng Shimadzu Nhật Bản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status