ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
QUẢN TR TÀI CHÍNH
(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN ĐI HC
NGÀNH QUẢN TR KINH DOANH - HỆ CHÍNH QUY)
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1 ii
Tổng quan về quản trị tài chính doanh nghiệp ii
6.5.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng 127
CHƯƠNG 8 148
9.2.2.1. Phương pháp lợi nhuận 173
9.2.2.2. Phương pháp hiện tại hóa ròng thu nhập của doanh nghiệp trong tương lai 174
9.2.2.3. Phương pháp hiện tại hóa lợi tức cổ phần 174
10.3.2. Những giải pháp tài chính khi doanh nghiệp bị phá sản 185
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng Nội dung Trang
2.1 Hệ số điều chỉnh 23
Hình
3.1 Chi phí lưu kho trong kỳ 50
3.2 Tồng chi phí tồn kho dự trữ 51
3.3 Mô hình Baumol 53
3.4 Mô hình Miller - Orr 54
7.1 Chi phí sử dụng vốn cận biên 140
8.1
Tính toán diễn biến nguồn vốn và sử
dụng vốn
158
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP Chi phí
1.1. Khai niêm và vai trò quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính DN là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một
phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất cứ một DN nào cũng phải có một
lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết. Quá trình hoạt động kinh
doanh của DN cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp. Trong quá trình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt
động đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng
tiền tệ đó bao hàm các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh
nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp.
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các vốn tiền tệ của DN là
các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là các quan hệ tài chính trong
doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp, có những quan hệ tài chính sau:
- Quan hệ giữa DN với nhà nước, được thể hiện qua việc nhà nước cấp vốn
cho DN hoạt động (đối với các DN nhà nước) và DN thực hiện các nghĩa vụ tài chính
đối với nhà nước như nộp các khoản thuế và lệ phí v.v
- Quan hệ giữa các DN đối với các chủ thể kinh tế khác như quan hệ về mặt
thanh toán trong việc vay và cho vay vốn, đầu tư vốn, mua hoặc bán tài sản, vật tư,
hàng hoá và các dịch
vụ khác.
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, được thể hiện trong DN thanh toán tiền
lương, tiền công và thực hiện các khoản tiền thưởng, tiền phạt với công nhân viên của
doanh nghiệp; quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, trong việc
phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp; việc phân chia lợi tức cho các cổ
đông, việc hình thành các quỹ của doanh nghiệp
iv
Từ những vấn đề trên có thể rút ra:
“Tài chính DN là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát
Về mặt chiến thuật, phải xác định công việc trong thời hạn ngắn những tác
nghiệp thể để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp. Ví dụ việc đưa ra
những quyết định thay thế một tài sản cố định mới, việc lựa chọn địa điểm thuê cửa
hàng, việc xem xét giữa đi thuê hay mua một căn nhà, xem xét giá cả của hàng hoá
lúc mới bán ra ở thời điểm đầu vụ, việc hạ giá theo mùa đều là những quyết định
về mặt chiến thuật.
Các quyết định về mặt chiến lược và chiến thuật được lựa chọn chủ yếu dựa trên
cơ sở phân tích, cân nhắc về mặt tài chính.
Từ những vấn đề trên có thể rút ra
- Quản trị tài chính DN là một bộ phận của quản trị DN thực hiện những nội
dung cơ bản của quản trị tài chính đối với các quan hệ tài chính nảy sinh trong hoạt
động sản xuất - kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
Quản trị tài chính DN được hình thành để nghiên cứu, phân tích và sử lý các mối
quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, hình thành những công cụ quản lý tài chính và
đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và có hiệu quả.
1.1.3. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính DN có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính DN giữ những vai trò
chủ yếu
sau:
- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong quá trình hoạt động của DN thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn
và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của DN cũng như cho đầu tư phát
triển. Vai trò của tài chính DN trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu
cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của DN trong thời kỳ và tiếp đó phải lựa
vi
chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên trong và
bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngày
nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép
Việc xây dựng và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong DN cùng
hợp tác thực hiện. Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cần phải xem xét là hiệu quả
chủ yếu của tài chính tức là xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, những rủi ro có thể
gặp phải và khả năng có thể thu lợi nhuận, khả năng thực hiện dự án. Trong việc phân
tích lựa chọn, đánh giá các dự án tối ưu, các dự án có mức sinh lời cao, người quản
trị tài chính là người xem xét việc sử dụng vốn đầu tư như thế nào; trên cơ sở tham
gia đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư, cần tìm ra định hướng phát triển doanh nghiệp,
khi xem xét việc bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư, cần chú ý tới việc tăng cường tính
khả năng cạnh tranh của DN để đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế trước mắt cũng
như lâu dài.
- Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho
hoạt động của doanh nghiệp
Mọi hoạt động của DN đòi hỏi phải có vốn. Bước vào hoạt động kinh doanh,
quản trị tài chính DN cần phải xác định các nhu cầu vốn cấp thiết cho các hoạt động
của DN ở trong kỳ. Vốn hoạt động gồm có vốn dài hạn và vốn ngắn hạn, và điều
quan trọng là phải tổ chức huy động nguồn vốn đảm bảo đầy đủ cho các nhu cầu hoạt
động của doanh nghiệp. Việc tổ chức huy động các nguồn vốn ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp. Để đi đến việc quyết định lựa chọn hình
thức và phương pháp huy động vốn thích hợp DN cần xem xét, cân nhắc trên nhiều
mặt như: kết cấu vốn, chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn, những điểm lợi và
bất lợi của các hình thức huy động vốn.
- Tổ chức sử dụng tốt các số vố hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi,
đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Quản trị tài chính DN phải tìm ra các biện pháp góp phần huy động tối đa các
viii
số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng các nguồn vốn bị ứ đọng. Theo
dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi bán hàng và các khoản thu khác, quản lý
chặt chẽ các khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền để đảm bảo cho DN
luôn có khả năng thanh toán. Mặt khác, cũng cần xác định rõ các khoản chi phí
- Thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính
Các hoạt động tài chính của DN cần được dự kiến trước thông qua việc lập
kế hoạch tài chính. Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công cụ giúp cho
DN có thể chủ động đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường.
Thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình ra quyết định tài chính thích hợp
nhằm đạt tới các mục tiêu của DN.
1.2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính ở những DN khác nhau đều có những điểm khác nhau. sự
khác nhau đó ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: Sự khác biệt về hình thức pháp lý tổ
chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và môi trường kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2.2.1. Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp
Theo tổ chức pháp lý của DN hiện hành, ở nước ta hiện có các loại hình thức
DN chủ yếu sau:
- DN nhà nước
- Công ty cổ phần.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn.
- DN tư nhân.
- DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Những đặc điểm riêng về hình thức pháp lý tổ chức DN giữa các DN trên có
ảnh hưởng đến quản trị tài chính DN như việc tổ chức, huy động vốn, sản xuất kinh
doanh, việc phân phối lợi nhuận.
x
1.2.2.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh
Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới
quản trị tài chính doanh nghiệp. Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt
kinh tế và kỹ thuật khác nhau. Những ảnh hưởng đó thể hiện:
- Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh
Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh
nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng
- Ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế
Giá cả thị trường, giá cả sản phẩm mà DN tiêu thụ có ảnh hưởng lớn tới
doanh thu, do đó cũng có ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận. Cơ cấu
tài chính của DN cũng được phản ảnh nếu có sự thay đổi về giá cả. Sự tăng, giảm
lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các
hình thức tài trợ khác nhau. Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy
đông vốn vay. Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh
doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư.
Tất cả các yếu tố trên có thể được các nhà quản trị tài chính sử dụng để phân
tích các hình thức tài trợ và xác định thời gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị trường
tài chính.
- Sự cạnh tranh trên thị trường và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
Sự cạnh tranh sản phẩm đang sản suất và các sản phẩm tương lai giữa các DN
có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của DN và có liên quan chặt chẽ đến khả
năng tài trợ để DN tồn tại và tăng trưởng trong một nền kinh tế luôn luôn biến đổi và
người giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về việc cho DN hoạt động khi cần
thiết.
Cũng tương tự như vậy, sự tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi DN phải ra
sức cải tiến kỹ thuật, quản lý, xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình tài chính, khả
năng thích ứng với thị trường, từ đó đề ra những chính sách thích hợp cho doanh
xii
nghiệp.
- Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp.
- Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tài chính trung
gian.
xiii
C) TÀI LIỆU HC TẬP
1. PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, (2006), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất tài
chính, Hà Nội.
2. PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều, (2006), Tài chính Doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống
Sinh viên yêu thích bài học, chủ động tìm tòi, sưu tầm các tài liệu liên quan đến
bài học.
Hăng hái tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, thảo luận một cách sôi nổi, đưa
ra được các ý kiến chủ quan mình và phát huy tính sáng tạo của sinh viên.
xv
B) NỘI DUNG:
Tiết 3
2.1. Tài sản cố định và vốn cố định của doanh nghiệp
2.1.1. Khái niệm tài sản cố định của doanh nghiệp
Tài sản đượ coi là tài sản cố định khi thỏa mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
- Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách đáng tin cậy.
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường từ một năm trở lên.
- Phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định.
Tuy nhiên trong thực tế việc nhận biết TSCĐ của DN là phức tạp hơn.
Một là: Việc phân biệt giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động mang tính
chất tương đối. Để nhận biết TSCĐ của DN không chỉ đơn thuần dựa vào tính hiện
vật mà còn phải dựa vào tính chất và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Vì vậy, cùng một tài sản ở trường hợp này được coi là TSCĐ song ở
trường hợp khác chỉ được coi là đối tượng lao động.
Ví dụ máy móc thiết bị, nhà xưởng dùng trong sản xuất là các TSCĐ nhưng
nếu nó là các sản phẩm trong kho hoặc là công trình xây dựng cơ bản chưa bàn giao,
thì được coi là đối tượng lao động. Tương tự như vậy trong sản xuất nông nghiệp,
những gia súc được sử dụng làm sức kéo, làm giống hoặc cho sản phẩm thì được coi
là các TSCĐ, nhưng nếu vật nuôi để lấy thịt thì gọi là đối tượng lao
động.
Hai là: Một số các tư liệu lao động nếu xét riêng lẻ, từng bộ phận thì không
đủ bốn tiêu chuẩn trên nhưng được tập hợp sử dụng đồng bộ như một hệ thống thì cả
hệ thống đó được coi như một TSCĐ.
Ví dụ như trang thiết bị cho một phòng thí nghiệm, một văn phòng, một phòng
quyền tác giả
xvii
2.1.2.2. Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng
Theo tiêu thức này toàn bộ TSCĐ của DN được chia thành 3 loại:
a. Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh
Là TSCĐ do DN quản lý, sử dụng cho các mục đích kinh doanh của DN:
- Đối với tài sản cố định hữu hình, DN phân loại như sau:
Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của DN được hình thành sau
quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân
bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng
sân bay, cầu tầu, cầu cảng
Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt
động kinh doanh của DN như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, giàn khoan
trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ.
Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải
gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống
và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước,
băng tải.
Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác
quản lý hoạt động kinh doanh của DN như máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện
tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm,
Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây
lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm
cây xanh ; súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn
bò…
Loại 6: Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác chưa
liệt kê vào năm loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật,
- Tài sản cố định vô hình như quyền sử dụng đất, quyền phát hành, bằng sáng
chế phát minh, tác phẩm văn học, kết quả của cuộc biểu diễn nghệ thuật, bản ghi âm,
ghi hình, chương trình phát sóng, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, nhãn
như thế nào, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng chúng.
Mỗi cách phân loại trên đây cho phép đánh giá, xem xét kết cấu TSCĐ của DN
theo các tiêu thức khác nhau. Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của một loại
TSCĐ nào đó so với tổng nguyên giá các loại TSCĐ của DN tại một thời điểm nhất
định.
2.1.3. Khái niệm và đặc điểm của vốn cố định
2.1.3.1. Khái niệm
Vốn cố định của DN là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành
TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản
xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
2.1.3.2. Đặc điểm
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, điều này do đặc
điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định.
- VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
- VCĐ hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ sản xuất.
xx
Tiết 4
2.2. Khấu hao tài sản cố định
2.2.1. Hao mòn TSCĐ
2.2.1.1. Hao mòn tài sản cố định hữu hình
Hao mòn tài sản cố định là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài sản cố
định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến
bộ kỹ thuật trong quá trình hoạt động của tài sản cố định.
Hao mòn hữu hình của TSCĐ là sự hao mòn về vật chất, về giá trị sử dụng
và giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng.
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức hao mòn hữu hình
TSCĐ sẽ giúp các DN có biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn chế nó.
Phương pháp tính hao mòn tài sản cố định hữu hình:
Mức hao mòn hàng năm của từng tài sản cố định được tính như sau:
Mức hao mòn hàng năm
là 10.000.000 đồng, chiết khấu (khuyến mãi) mua hàng là 1.000.000 đồng, chi phí vận
chuyển là 300.000 đồng, chi phí lắp đặt, chạy thử tới khi dưa vào sử dụng là
2.000.000 đồng. Thời gian sử dụng của tài sản cố định là 10 năm (phù hợp với qui
định tại phụ lục số 1) tài sản được đưa vào sử dụng vào ngày 01-01-2000.
xxi
Nguyên giá tài sản cố định = 10.000.000 đ - 1.000.000 đ + 300.000đ +
2.000.000 đ = 11.300.000 đ
Mức tính hao mòn trung bình hàng năm = 11.300.000 đ x 10% = 1.130.000
đồng/năm
Hàng năm đơn vị tính hao mòn 1.130.000 đồng ghi giảm kinh phí đã hình thành
tài sản cố định.
Trong năm sử dụng thứ 5, đơn vị nâng cấp tài sản cố định với tổng chi phí là
5.000.000 đồng, thời gian sử dụng được đánh giá lại là 7 năm (tăng 2 năm so với thời
gian sử dụng đã đăng ký ban đầu), ngày hoàn thành đưa vào sử dụng là 01/01/2005.
Nguyên giá tài sản cố định = 11.300.000 đ + 5.000.000 đ = 16.300.000 đ
Số hao mòn luỹ kế đã tính = 1.130.000 đ x 5 năm = 5.650.000 đồng
Giá trị còn lại trên sổ kế toán = 16.300.000 đ - 5.650.000 đ = 10.650.000 đ
Mức hao mòn năm = 10.650.000 đồng: 7 năm = 1.521.000 đ
Từ năm 2005 trở đi, đơn vị tính hao mòn mỗi năm 1.521.000 đồng đối với tài
sản cố định vừa được nâng cấp (Riêng năm cuối cùng sẽ tính hao mòn toàn bộ giá trị
còn lại).
2.2.1.2. Hao mòn tài sản cố định vô hình
Hao mòn vô hình là sự hao mòn về giá trị trao đổi của TSCĐ do tiến bộ của khoa
học kỹ thuật. Có thể phân chia hao mòn vô hình thành các loại sau.
- Hao mòn vô hình loại 1: TSCĐ bị giảm giá trị trao đổi do đã có những TSCĐ
như cũ song giá mua lại rẻ hơn. Do đó trên thị trường các TSCĐ cũ bị mất đi một
phần giá trị của mình.
V
1
=
TSCĐ mới tốt hơn mà TSCĐ cũ bị mất đi một phần giá trị của mình.
V
2
=
G
k
x100% (2.2)
G
h
Trong đó:
V
2
: tỷ lệ hao mòn vô hình loại 2
G
k
: giá trị của TSCĐ cũ không chuyển dịch được vào giá trị sản phẩm
Ví dụ: Một chiếc xe vận tải chuyên dụng có giá 1 tỷ đồng vào ngày 12/12/2010
đến ngày 2/12/12012 có báo giá 1 tỷ đồng. Biết rằng chiếc xe hoàn thiện hơn về mặt
kỹ thuật và chiếc xe cũ của công ty khấu hao hết 60% giá.
Vậy tỷ lệ hao mòn vô hình loại 2 của chiếc xe là:
V
2
=
0,4
.100 % = 40%
1
- Hao mòn vô hình loại 3: TSCĐ bị mất giá hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ sống
của sản phẩm, do đó TSCĐ dùng để chế tạo ra sản phẩm đó cũng bị lạc hậu, mất tác
dụng.
2.2.2. Khấu hao và các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định