ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
***************
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG GIẢM HÀM LƯỢNG LIPID MÁU CỦA
MƯỚP ĐẮNG {MORMODICA CHARANTIA L.) TRÊN ĐỘNG VẬT
THựC NGHIỆM
MẲ SỐ: QT - 09 - 37
CHỦ TRÌ ĐÈ TÀI: ThS. Lưu Thị Thu Phương
CÁC CÁN Bộ THAM GIA: Ths. Phạm Trọng Khá
Ths. Nguyễn Thị Tú Linh
HÀ NỘI - 2010
Ị ĐAI HỌC QUỌC GIA HA NOI
I TRUNG TẨM THÒNG Tin thư Viẻ N
000600
ỌOAồS
MỤC LỤC
Đặt vấn đề 1
1. Tổng quan tài liệu 2
1.1. Lipid và lipoprotein máu 2
1.1.1. Lipid máu 2
1.1.2. Thành phần, cấu trúc và phân loại các lipoprotein 2
1.1.3. Chuyển hóa lipoprotein 4
1.1.4. Rối loạn chuyển hóa lipoprotein 5
1.2. Mướp đắng và tác dụng sinh học của mướp đắng 7
1.2.1. Vài nét về cây mướp đắng 7
1.2.2. Tác dụng sinh học của mướp đắng 8
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 9
2.1. Đối tượng nghiên cứu 9
2.2. Nguyên liệu nghiên cứu 9
2.3. Phương pháp nghiên cứu 9
này của mướp đắng vẫn còn hạn chế. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên
cứu này nhằm bổ sung bằng chứng khoa học cho tác dụng của quà mướp đắng ở
Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
1. Gây mô hình tăng lipid máu thực nghiệm trên chuột nhắt trắng bằng chế
độ ăn giàu cholesterol.
2. Xác định hàm lượng triglycerid và cholesterol máu chuột nhắt trắng sau
14 và 35 ngày uống dịch ép mướp đắng.
1
1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lipỉd và lipoprotein máu
1.1.1. Lipid máu
Các lipid chính có mặt trong máu là acid béo tự do, triglycerid, cholesterol
toàn phần trong đó có cholesterol tự do và cholesterol este, các phospholipid. Vì
không tan trong nước, lipid được vận chuyển trong máu dưới dạng kết hợp với
các protein đặc hiệu. Các acid béo tự do được vận chuyển chủ yếu bởi albumin,
các lipid khác được lưu hành ứong máu dưới dạng các phức hợp lipoprotein [2],
[10], [13].
Triglycerid có trong thành phần chất béo của thức ăn, có thể được tổng
hợp trong gan và mô mỡ để dự trữ năng lượng cho cơ thể. Phospholipid và
cholesterol là thành phần cấu trúc của màng tế bào. Ngoài ra, cholesterol còn là
tiền chất của các hormon steroid (hormon vỏ tuyến thượng thận, hormon sinh
dục) và các acid mật. Cholesterol có trong thức ăn (nguồn ngoại sinh) và có thể
được tổng hợp ở nhiều mô của cơ thể, đặc biệt là gan (nguồn nội sinh). Không
giống triglycerid và phospholipid, nhân sterol của cholesterol không thể thoái
hóa thêm nữa vì vậy cần phải có quá trình vận chuyển cholesterol từ các mô
ngoại vi ừở về gan. ở gan, cholesterol được bài tiết hoặc nguyên dạng trong mật
hoặc sau khi được chuyển hóa thành acid mật [10], [13].
1.1.2. Thành phần, cấu trúc và phân loại các lipoprotein
Lipoprotein là những phân tử hình cầu, bao gồm phần nhân chứa những
LDL 1,020-1,063
22 Sản phâm
chuyển hóa
VLDL qua IDL
Vận chuyên
cholesterol từ gan đến
mô ngoại vi
HDL 1,064-1,210
8 Gan, ruột
Vận chuyên
cholesterol trở về gan
(Wiliam J.Marshall, Clinical chemistry, Fourth Edition, Mosby 2000)
Các apoprotein có vai trò quan trọng trong cấu trúc và chuyển hóa cùa
lipoprotein. Trong quá trình chuyển hóa lipid, các apoprotein có một số chức
năng như:
- Nhận biết các receptor đặc hiệu ừên màng tế bào
- Hoạt hóa hoặc ức chế một số enzym
- Giúp các lipoprotein được vận chuyển trong máu và bạch huyết
Khi tính hòa tan của các lipoprotein bị rối loạn hoặc sự vận chuyển chúng
trong máu bị chậm trễ sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng các phân tử có chứa nhiều
lipid, đó là một trong những yếu tố gây xơ vữa động mạch [9], [10].
3
1.1.3. Chuyển hóa lipoprotein
Chylomicron: được tạo thành từ Iipid thức ăn (chủ yếu là triglycerid)
trong tế bào niêm mạc ruột non, đi vào hệ bạch huyết rồi đổ vào hệ tuần hoàn
qua ống ngực. Chylomicron theo máu tới mô mỡ và cơ, tại đó trigycerid được
thủy phân nhờ enzym lipoprotein lipase khu trú trên bề mặt tế bào nội mạc mao
mạch. Các acid béo tự do được sử dụng làm nguồn cung cấp năng lượng hoặc
được este hóa thành triglycerid dự trữ. Trong trường hợp bình thường,
chylomicron không có trong huyết tương khi đói (>12 giờ sau ăn) [9], [10], [13].
hoạt hóa lipoprotein lipase.
- Vận chuyển cholesterol tự do từ các mô ngoại vi trở về gan giúp cho sự
thoái hóa và bài tiết cholesterol qua mật.
Vì vậy, lipoprotein tỷ trọng cao là yếu tố bảo vệ chống xơ vữa động mạch
[9], [10], [13].
1.1.4. Rổi loạn chuyển hóa lipoprotein
1.1.4.1. Phân loại rối loạn chuyển hóa lipìd
Năm 1965, Fredrickson đã phân loại hội chứng tăng lipid máu làm 5 týp
dựa trên những thay đổi của thành phần lipoprotein. Cách phân loại này nhanh
chóng được chấp nhận nhưng sau đó, người ta đề nghị tách týp II thành týp lia
có tăng LDL đơn thuần và týp Iib có tăng LDL, VLDL, Bảng phân loại này trở
thành phân loại quốc tế của tổ chức Y tế thế giới từ năm 1970.
r <7
Bảng 2. Phàn loại rôi loạn lipid máu theo Fredrickson có bô sung
Týp
I
na Ilb m IV
V
Cholesterol
t
TT n T
_L/T
t
Triglycerid
m
1
n
n
tTT
Lipoprotein
lipoprotein tỷ trọng rất thấp, giảm tạo thành và giảm sự oxy hóa lipoprotein tỷ
ứọngthấp
Các thuốc tổng hợp hóa học tuy có tác dụng điều trị tốt song còn nhiều tác
dụng phụ vì thế các loại thảo dược ít độc hại có tác dụng hạ lipid máu như nghệ,
chè xanh, mướp đắng ngày càng được quan tâm.
6
1.2. Mướp đắng và tác đụng sinh học của mướp đắng
• 1.2.1. Vài nét về cây mướp đắng
Mướp đắng có tên khoa học là Momordica charantia L. thuộc họ Bầu bí -
Cucurbitaceae. Mướp đắng còn được gọi là khổ qua, cẩm lệ chi, lại bồ đào, hồng
cô nương, lương qua, chua hao. Cây mướp đắng thuộc loại dây leo, thân có góc
cạnh, ờ ngọn hơi có lông tơ. Lá mọc so le, dài 5-7 thùy hình trứng, mép có răng
cưa đều. Hoa đực và hoa cái mọc riêng lẻ ở nách lá, có cuống dài. Cánh hoa màu
vàng nhạt, đường kính của hoa chừng 2 cm. Quả hình thon dài, mặt ngoài có
nhiều u lồi. Quả chưa chín có màu xanh, khi chín có màu vàng hồng, trong quả
có hạt dẹt gần giống như hạt bí ngô, quanh hạt có màng màu đỏ máu như hạt gấc
[1]. ~
Mướp đắng mọc ở vùng sông Amazon, Đông Phi, Caribe. Ở khu vực
Đông Nam Á, mướp đắng được trồng như một loại rau ăn và dược liệu. Ở Việt
Nam, mướp đắng là cây ữồng có cả ở ba miền Bắc, Trung, Nam từ đồng bằng
đến miền núi. Ở miền bắc, quả được thu hoạch vào tháng 5, 6, 7; thân thường
được thu hoạch vào mùa hạ, thu. Ở miền Nam, mướp đắng có thể thu hoạch
quanh năm. Theo Y học cổ truyền, toàn bộ thân, lá, hoa quả và hạt mướp đắng
đều là những vị thuốc chữa được nhiều bệnh. Quả có vị đắng, tính hàn, không
độc. Quả còn xanh có tính giải nhiệt, tiêu đờm, sáng mắt, mát tim, nhuận tràng,
bớt mệt mỏi, lợi tiểu, bớt đau nhức khớp xương. Quả chín có tính bổ thận, kiện
tỳ, dưỡng huyết. Quả và lá còn có tác dụng diệt giun [1 ], [18].
1.2.2. Tác dụng sinh học của mướp đắng
Quả mướp đẳng', quả được sử dụng để làm thuốc bổ máu, giảm sốt, giảm
ho, trị giun, tiểu đường, xát ngoài da cho ừẻ em bị rôm sảy. Ở Trung Quốc, có
phòng thí nghiệm cho ổn định trong 3 ngày, sau đó được chia thành 2 nhóm A và
B một cách ngẫu nhiên.
2.2. Nguyên liệu nghiên cứu
Dịch ép mướp đắng tươi được chế biến như sau: mướp đắng tươi bỏ ruột,
thái mỏng, nghiền nát thu lấy nước ép (IOOg lấy 30ml).
Chuột được uống dịch ép mướp đắng tươi với liều 30g/kg thể trọng [4],
tương ứng 0,36ml dịch ép /con/ngày, liên tục trong 14 và 35 ngày.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Tạo mô hình chuột tăng lipid máu thực nghiệm.
+ 80 chuột nhắt trắng được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Nhỏm A: 30
con, ăn thức ăn bình thường (do Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cung cấp).
Nhóm B: 50 con, ăn thức ăn giàu lipid (mỡ lợn 10%, lòng đỏ trứng 20% khối
lượng thức ăn)
+ Sau 28 ngày nuôi, kiểm tra cân nặng, hàm lượng triglyceride và
cholesterol máu chuột (mỗi nhóm lấy ngẫu nhiên 10 con).
- Mô hình nghiên cứu tác dụng làm giảm hàm lượng lipid máu chuột
của mướp đắng
+ Lô 1: lô đối chứng sinh học (ĐCSH), gồm 20 chuột còn lại của nhóm A.
Chuột được nuôi bằng thức ăn bình thường do Viện Vệ sinh dịch tễ Trung
ương cung cấp
+ Lô 2: lô thí nghiệm (TN), gồm 20 chuột lấy ngẫu nhiên từ nhóm B.
Chuột được nuôi bằng thức ăn giàu lipid, uống dịch ép mướp đắng tươi liều
30g/kg thể trọng, 1 lần/ngày vào buổi sáng.
+ Lô 3: lô đối chứng thí nghiệm (ĐCTN), gồm 20 chuột lấy ngẫu nhiên từ
nhóm B. Chuột được nuôi bằng thức ăn giàu lipid, không uống dịch ép mướp
đắng tươi.
Hàm lượng triglycerid và cholesterol máu chuột được xác định tại 2 thời
(ỉiểm: sau 14 ngày và sau 35 ngày uống dịch ép mướp đắng tươi (mỗi nhóm lấy
ngẫu nhiên 10 con tại mỗi thời điểm).
Máu được lấy bằng cách cắt nhanh đầu chuột, đảm bảo thể tích l,5ml
Nhóm chuột
n
Hàm lượng cholesterol (mmol/1)
p
Nhóm A 10
4,73 ± 0,33
<0,05
Nhóm B
10
5,44 ± 0,49
Kết quả ưên bảng 4 cho thấy các chuột được nuôi với chế độ ăn giàu lipid có
hàm lượng cholesterol trung binh là 5,44 ± 0,49 mmol/1, cao hơn so với nhóm
chuột được nuôi bằng chế độ ăn bình thường khoảng 0,7 mmol/1. Sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3.2. Tác dụng giảm hàm tượng lipỉd máu của mướp đắng
Kết quả nghiên cứu hàm lượng triglycerid và cholesterol máu chuột nhẳt
trắng sau 14 và 35 ngày uống dịch ép mướp đắng tươi được trình bày trên các
bảng 5, 6, 7 và 8.
12
Bảng 5. Hàm lượng trigỉycerid máu chuột nhắt trắng sau 14 ngày uổng dịch ép
mướp đắng tươi.
Phân lô
n
Hàm lượng ừiglycerid (mmol/1)
p
ĐCSH (1)
10
0,84 ±0,21
Pi-2< 0,05
Pi-3<0,05
13
Bảng 7. Hàm lượng triglyceride máu chuột nhắt trắng sau 35 ngày uống dịch ép
mướp đẳng tươi.
Phân lô
n
Hàm lượng ữiglycerid (mmol/1)
p
ĐCSH (1)
10
0,81 ±0,17
Pi-2< 0,05
p 1-3 < 0,05
P2-3 < 0»05
TN (2)
10
1,12 ±0,20
ĐCTN (3)
10
1,38 ±0,28
Kết quả trên bảng 7 cho thấy với chế độ ăn giàu lipid, các chuột lô thí
nghiệm và đối chứng thí nghiệm có hàm lượng triglycerid máu cao hơn so với lô
đối chứng sinh học lần lượt là 1,38 và 1,70 lần. Mặt khác, dịch ép mướp đắng
tươi còn có tác dụng làm hạ nồng độ triglycerid máu sau thời gian uống 35 ngày.
Cụ thể là lô thí nghiệm có hàm lượng triglycerid trung bình là 1,12 ± 0,20
mmol/1 thấp hơn có ý nghĩa so với lô đối chứng thí nghiệm (P < 0,05)
Bảng 8. Hàm lượng cholesterol máu chuột nhắt trắng sau 35 ngày uổng dịch ép
mướp đẳng tươi
Phân lô n Hàm lượng cholesterol (mmol/1) p
ĐCSH (1) 10
3,13 ±0,41
đối chứng lần lượt là 59% và 15%. Các chi số này đều cao hơn nghiên cứu của
Nguyễn Thị Thúy Quỳnh [5], tuy tác giả này đã gây béo phì cho chuột song
nồng độ triglycerid và cholesterol máu chi tăng lần lượt là 37,6% và 11,3% so
với chuột đối chứng. Như vậy, xét về chỉ số trọng lượng cơ thể, các chuột của
chúng tôi chưa đạt tiêu chuẩn của chuột gây béo phì, tuy nhiên các chi sổ về
nồng độ triglycerid và cholesterol máu đều đạt mục tiêu đề ra. Vì vậy, chúng tôi
tiếp tục sử dụng mô hình này cũng như các chuột ở hai nhóm A và B cho các
nghiên cứu tiếp theo.
4.2. v ề sự giảm hàm lượng lipid máu của mướp đắng
Theo kinh nghiệm dân gian mướp đắng có thể giúp giảm cân. Một số
nghiên cứu trước đây chúng tôi thấy sau 14 ngày uống dịch ép mướp đắng trọng
lượng chuột giảm đáng kể so vói đối chứng [4], [15]. Vì vậy, trong nghiên cửu
15
này chúng tôi tiến hành xác định hàm lượng lipid máu chuột sau 14 ngày uống
dịch ép mướp tươi. Tuy nhiên, kết quả trên bảng 3 và 4 cho thấy chưa thấy có sự
khác biệt về nồng độ triglycerid và cholesterol máu giữa lô chuột thí nghiệm và
lô đối chứng thí nghiệm. Kết quả này có thể do nguyên liệu chúng tôi sử dụng
trong nghiên cứu là dịch ép thô, chưa được tách chiết thành các phân đoạn khác
nhau nên hoạt tính sinh học thấp, đòi hỏi thời gian sử dụng kéo dài mới mang lại
hiệu quả. Bằng chứng cho nhận định này là sau 35 ngày liên tục uống dịch ép
mướp đắng tươi, nồng độ lipid máu chuột thí nghiệm đã giảm đáng kể. Cụ thể là
hàm lượng ừiglycerid và cholesterol máu chuột thí nghiệm chỉ còn tương ứng là
81% và 91% so với các chuột ở lô đối chứng thí nghiệm. Tuy nhiên, các chỉ số
này vẫn cao hơn so với các chỉ số của các chuột thuộc lô đối chứng sinh học.
Điều này là đo lô đối chứng sinh học được nuôi bàng thức ăn bình thường, còn lô
thí nghiệm được nuôi bằng chế độ ăn giàu lipid. Mặc dù vậy đây cũng là một tín
hiệu đáng mừng, chứng tỏ quả mướp đắng đang được trồng và sử dụng rộng rãi
ở Việt Nam có tác dụng làm giảm nồng độ triglycerid và cholesterol máu ở chuột
bị gây tăng lipid máu thực nghiệm. Tác dụng này của mướp đắng có thể do các
hợp chất polypeptid-p, charantin, vicin, glycosid và các karavilosid có trong loại
Nội.
2. Nguyễn Thị Hà (2000), “Chuyển hỏa lipid”, Hóa sinh, Nhà xuất bản Y
học, tr. 318-376.
3. Trân Thị Chi Mai (2007), Nghiên cứu tác dụng của polyphenol chè xanh
(Camellia sinensis) trên các chỉ sổ lipid và trạng thái chổng oxy hóa trong
máu chuột công trăng đái tháo đường thực nghiêm, Luận án tiến sĩ Y học,
Đại học Dược Hà Nội.
4. Lưu Thị Thu Phương, Nguyễn Văn An, Nguyễn Thanh Huyền (2008),
Nghiên cứu tác dụng của mướp đắng đến trọng lượng và thể lực chuột
nhắt trắng, Tạp chí Sinh lý học, 12(1), 13-19.
5. Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (2008), Nghiên cứu tách chiết một số hợp chất
tự nhiên từ cây bưởi (Citrus grandis L.) có tác dụng chống béo phì và rối
loạn trao đổi ỉipid - gỉucid, Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Đại học Khoa học
Tự nhiên, Hả Nội.
6. Aekplakom w., Chaỉyapong Y. et al. (2004), Prevalence and determinants
of overweight and obesity in Thai adults: results of the Second National
Health Examination Survey. J.Med. Assoc. Thai, 87(6): 685-693
7. Chan L., et al. (2005), “Reduced adiposity in bitter melon (Momordica
charantia) fed rats is associated with increased lipid oxidative enzym
activities and uncoupling protein expression”. J. Nutr., 135 (11): 2517-
2523
8. Chen Q., et al. (2005), “Reduced adiposity in bitter melon (Momordica
charantia) fed rats is associated with lower tissue triglycerid and higher
plasma catecholamines”. Br. J. Nutr., 93(5):747-754.
9. Mahley R.W., Weirgaber K.H. et al. (1998), “Disorder of lipid
metabolism”, William Text book of endocrinology, pp. 1099-1153.
18
10. Mary J.M., John P.K. (2001), “Disorder of lipoprotein metabolism”,
Basic & Clinical Endocrinology, International Edition, 6th edition, pp.716-
744.