Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Các nghiệp vụ ngân hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc bởi những
đặc trưng của nền kinh tế nói chung và mục đích hoạt động của ngân hàng nói
riêng trong từng thời kỳ nhất định. Công tác thẩm định trong hoạt động cho vay
cũng không đứng ngoài nguyên tắc này.
Năm 2007, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với nhiều cơ hội từ
việc gia nhập WTO mang lại. Một số ngành đã xấp xỉ đạt chỉ tiêu kế hoạch phát
triển đến năm 2010 như thủy sản, dệt may, … Năm qua, GDP tăng trưởng 8,2%
cùng với sự tăng trưởng nhanh của lĩnh vực xuất nhập khẩu, công nghiệp, xây
dựng, điện lực, hàng không, đầu tư trực tiếp nước ngoài,… Việc gia nhập và
thực hiện các cam kết WTO sẽ mang lại những thay đổi theo hướng tạo ra một
thị trường mở hơn và có tính cạnh tranh cao hơn, thúc đẩy khu vực ngân hàng
tăng trưởng cả về qui mô và tính phức tạp.
Kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực rất nhạy cảm, hàm chứa nhiều rủi
ro, đặc biệt trong hoạt động cho vay. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những
tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng không trả nợ đúng hạn,
không trả được hoặc không trả đầy đủ cả vốn lẫn lãi. Hoạt động cho vay có quy
mô lớn nhất trong tất cả các hoạt động tại ngân hàng, mang lại lợi nhuận chủ yếu
cho ngân hàng, nên khi có rủi ro, thì rủi ro đó tác động đến tất cả các hoạt động
khác trong ngân hàng như huy động vốn, kinh doanh dịch vụ, kế toán thanh
toán,…Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng cần tìm kiếm những khách hàng
có khả năng vay và trả đúng hạn, tìm kiếm được những phương án sản xuất kinh
doanh khả thi, mang lại lợi nhuận để ra quyết định cho vay. Muốn vậy, ngân
hàng cần làm tốt công tác thẩm định trước khi cho vay để hạn chế mức thấp nhất
rủi ro có thể xảy ra, cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận có thể thu được.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp
nâng cao chất lượng thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay tại chi
nhánh Ngân hàng Ngoại thương Thành Công” làm chuyên đề thực tập tốt
nghiệp. Đề tài đã nêu ra một số kiến thức cơ bản về hoạt động cho vay của
NHTM và công tác thẩm định trong hoạt động cho vay. Đồng thời, đề tài này
hàng. Ngân hàng là một kênh quan trọng thu hút vốn nhàn rỗi và cung cấp
nguồn vốn đáp ứng nhu cầu nền kinh tế.
Xét theo phương diện các loại hình dịch vụ mà nó cung cấp, Peter Rose
cho rằng: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam 1997, Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và hoạt động
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Theo Nghị định 49-CP của Chính phủ ban hành năm 2000, Ngân hàng
thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay đều có định
hướng hoạt động khá giống nhau là kinh doanh đa năng, đa lĩnh vực, phục vụ đa
dạng các khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế. Đây cũng là xu hướng phát
triển hoạt động kinh doanh của hầu hết các tổ chức tài chính, NHTM trên thế
giới
Các chức năng cơ bản của một ngân hàng đa năng ngày nay:
1.1.1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM nói riêng và của các
trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo
thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng mang lại nhiều rủi ro nhất.
Theo Điều 4, NĐ 49/2000/NĐ-CP, Ngân hàng thương mại được cấp tín
dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu
và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Cho vay là một bộ phận của hoạt động tín dụng. Theo QĐ 1627/2001/ QĐ
- Cho vay trung hạn: từ 1 đến 5 năm, nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài
sản cố định;
- Cho vay dài hạn: trên 5 năm, thường là đầu tư vào các dự án.
Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ mang tính tương đối vì nhiều khoản
vay không xác định trước được chính xác thời hạn. Việc phân chia theo thời
gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết
đến tính an toàn và sinh lợi của tài sản.
• Căn cứ vào phương thức cho vay của ngân hàng:
- Thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay mà ngân hàng cho phép khách
hàng (người vay) được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một
giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được
gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng
không phù hợp về thời gian và quy mô. Hình thức cho vay này tạo điều kiện cho
khách hàng trong việc thanh toán: chủ động, nhanh chóng và kịp thời. Thấu chi
là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có
đảm bảo, có thể cấp cho doanh nghiệp lẫn cá nhân trong vài ngày trong tháng,
vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng,…
Do vậy hình thức này chỉ sử dụng cho đối tượng khách hàng có độ tin cậy cao,
thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
- Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa
thuận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng, là số dư tối đa tại thời điểm
tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu
cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kỳ khách hàng có thể vay –
trả nhiều lần nhưng số dư không được vượt quá hạn mức tín dụng.
- Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho khách
hàng vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Cho vay dựa
trên lưu chuyển của hàng hóa nên cả ngân hàng và khách hàng đều phải nghiên
cứu kỹ kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian
tới. Rất thuận tiện cho khách hàng vì chỉ cần làm thủ tục 1 lần cho nhiều khoản
tiếp cho ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua ( qua đó
đến người bán) nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hóa. Đây là hình thức cho vay
mang lại rủi ro cao do khách hàng thường dùng chính hàng hóa mua trả góp để
thế chấp, khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Vì rủi
ro cao nên cho vay trả góp thường có lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho
vay của ngân hàng.
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với những khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên,
không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Mỗi lần vay khách hàng phải
làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích
khách hàng, ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân,
thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Theo từng kì hạn nợ trong
hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền
vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả. Nếu thấy có dấu hiệu vi
phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi
suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi. Nghiệp vụ cho vay từng
lần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay cách biệt.
• Căn cứ theo đảm bảo hay dựa vào mức độ tín nhiệm khách hàng:
- Cho vay không có tài sản đảm bảo;
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố.
Về nguyên tắc mọi khoản cho vay của ngân hàng đều phải có đảm bảo. Tuy
nhiên ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng tín dụng loại đảm bảo mà ngân hàng có
thể bán đi để thu nợ nếu khách hàng không trả nợ. Do đó các khoản nợ có đảm
bảo thực chất là các khoản tài trợ có nguồn thu nợ thứ hai từ đảm bảo. Các
khoản nợ không gắn với hợp đồng đảm bảo được ngân hàng xếp vào tài trợ
không đảm bảo. Việc phân chia này không nói lên tính an toàn của khoản tài trợ
của ngân hàng mà chỉ giúp ngân hàng theo dõi các hợp đồng về đảm bảo, đưa ra
các biện pháp xử lý đảm bảo khi cần thiết.
• Căn cứ vào mục đích: Cho vay đầu tư theo dự án và cho vay tiêu
dùng.
cần lập dự phòng cho vay tiêu dùng để chuyên theo dõi. Bên cạnh đó ngân hàng
thường đòi hỏi lãi suất rất cao, yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất
nghiêp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa đã mua,…
Ngoài ra các ngân hàng cũng có thể cho vay bằng cách mua trái phiếu trung
và dài hạn của Chính phủ hoặc doanh nghiệp nhằm tài trợ cho quá trình hình
thành tài sản cố định. Kì hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi suất, tình
hình tài chính của doanh nghiệp, các kế hoạch tương lai… đều được ngân hàng
tính toán khi mud trái phiếu. Trái phiếu cũng có thể xem như là khoản đầu tư
của ngân hàng trung và dài hạn.
Ngân hàng thực hiện tài trợ theo nhiều nghiệp vụ và hình thức khác nhau,
nhằm đáp ứng nhu câù ngày càng cao và đa dạng của hàng triệu khách hàng, từ
quốc gia, tổ chức tài chính, tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ, các doanh
nghiệp, hộ gia đình,… Các loại hình cho vay không ngừng được mở rộng, đa
dạng và hoàn thiện theo hướng mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng, đồng
thời vẫn đảm bảo an toàn và lợi ích cho ngân hàng.
1.1.2. Vai trò của hoạt động cho vay
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là tìm kiếm các khoản vốn
(huy động vốn) để sử dụng nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá
trình tạo nên các tài sản khác nhau của ngân hàng, trong đó cho vay và đầu tư là
hai loại tài sản lớn nhất và quan trọng nhất. Cho vay là tài sản lớn nhất trong các
khoản mục tín dụng, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Đối với nền kinh tế
- Cho vay là một kênh cung cấp vốn quy mô lớn và quan trọng nhất trong
nền kinh tế. Có rất nhiều cách để huy động vốn như: góp vốn, đi vay, phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, vốn từ tài trợ, huy động từ các nguồn khác,…tuy nhiên đi
vay vẫn là kênh vốn phổ biến nhất với chi phí vừa phải, và tiết kiệm thời gian..
Mặc dù nếu doanh nghiệp huy động vốn bằng các hình thức khác, lãi suất sẽ
thấp hơn nhưng những chi phí khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra không phải là
nhỏ, lại mất nhiều thời gian. Ngoài ra đi vay còn giúp doanh nghiệp có một
khoản tiết kiệm từ thuế không phải nộp cho Nhà nước.
hàng phân biệt lãi suất và các điều kiện tài trợ khác với các khách hàng lớn,
quan trọng và liên kết với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường.
Cho vay cũng là hoạt động mang lại rủi ro lớn nhất cho NHTM.
Rủi ro này, có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất và làm
giảm thu nhập của ngân hàng. Có nhiều khoản cho vay mà tổn thất có thể chiếm
phần lớn vốn chủ sở hữu, đẩy ngân hàng đến tình trạng phá sản. Do vậy, an toàn
tín dụng là nội dung chính trong quản lý rủi ro của mọi ngân hàng thương mại.
Có hai mối quan hệ giữa rủi ro và sinh lời trong hoạt động cho vay. Trước khi
cho vay, mối quan hệ có thể là: rủi ro càng cao, sinh lợi kỳ vọng càng lớn; cho
vay trung và dài hạn, cho vay tiêu dùng,… rủi ro cao hơn thì lãi suất danh nghĩa
sẽ cao hơn so với lãi suất cho vay ngắn hạn hoặc cho vay đối với doanh nghiệp,
… Tuy nhiên sau khi cho vay rồi thì mối quan hệ sẽ là: tổn thất càng cao thì sinh
lời càng thấp. Ngân hàng có thể theo đuổi chiến lược tài trợ rủi ro cao hoặc thấp
trong ngắn hạn, song đều phải xác lập mối quan hệ rủi ro và sinh lời nhằm đảm
bảo gia tăng thu nhập cho chủ sở hữu trong dài hạn.
Nếu phân chia theo thời gian có cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài
hạn. Tỷ trọng cho vay ngắn hạn trong ngân hàng thường cao hơn so với cho vay
trung và dài hạn: các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động của khách
hàng. Cho vay trung và dài hạn thường có tỷ trọng thấp hơn do rủi ro cao hơn,
nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như:
kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn, khả năng quản lý thanh khoản của ngân
hàng, khả năng dự báo và dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn,…
Tín dụng là hoạt động có quy mô rất lớn, khoản mục này thường chiếm
khoảng 70% tổng tài sản của ngân hàng, mà trong đó phần lớn là cho vay.
Với quy mô như vậy, cho vay ảnh hưởng tới rất nhiều chiến lược hoạt động
của ngân hàng như dự trữ, huy động vốn, đầu tư,… Khi chứng khoán thanh
khoản chưa có hoặc khan hiếm, hoặc khi khả năng gia tăng huy động vốn bị hạn
chế, nhiều ngân hàng đã phải sử dụng co vay như một tài sản đảm bảo thanh
khoản. Vì vậy ngân hàng thường nghiêng về việc nắm giữ các khoản cho vay
ngắn hạn, hoặc các khoản tín dụng có khả năng chuyển đổi nhanh. Các khoản
Đầu tiên, Ngân hàng phải thẩm định các chỉ tiêu nêu trên Báo cáo tài chính
mà doanh nghiệp cung cấp, có đầy đủ và đúng không, độ tin cậy có cao không.
Quan trọng hơn, Ngân hàng cần xem xét, phân tích các chỉ tiêu tài chính của
khách hàng thể hiện trên các Báo cáo tài chính, đánh giá tình hình hoạt động
kinh doanh của khách hàng, hiệu quả và mức độ rủi ro của phương án sản xuất
kinh doanh, từ đó đưa ra kết luận về khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng,
bao gồm cả gốc và lãi.
1.2.2. Vai trò của Thẩm định tài chính
Cho vay là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất và đóng vai trò quan trọng
trong hoạt động của NHTM. Tuy nhiên hoạt động cho vay lại chứa đựng nhiều
rủi ro nhất đối với ngân hàng, có khả năng làm giảm thu nhập của ngân hàng và
nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng. Vì vậy, việc thẩm định trước khi cho vay là
khâu vô cùng quan trọng trong việc dự kiến rủi ro có thể xảy ra và lợi nhuận có
thể thu được, xem xét mối quan hệ giữa chúng, từ đó hạn chế đến mức tối thiểu
rủi ro cho ngân hàng.
Khi đi vay, khách hàng nào cũng muốn vay được tiền, nên thường cung cấp
một hồ sơ “đẹp” cho ngân hàng. Thông tin khách hàng đưa ra thường được phản
ánh không đúng với thực tế, khai tăng số liệu theo chiều hướng có lợi cho khách
hàng. Vì vậy khâu thẩm định là vô cùng quan trọng và cũng rất khó khăn nhằm
xác định đâu là thông tin chính xác, thông tin nào là khai man, có bao nhiêu %
đúng sự thật, thông tin nào là cần thiết đối với ngân hàng,…
Trong thực tế, công tác phân công quản lý khách hàng của các NHTM Việt
Nam hiện nay đều rất ít có sự phân công cán bộ tín dụng theo ngành nghề kinh
tế. Cán bộ tín dụng làm việc chủ yếu theo kiểu đa năng, tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm song không đi chuyên sâu vào một ngành cụ thể nào nên không có nhiều
kiến thức chuyên ngành hẹp. Thực tế là nhiều doanh nghiệp, khi nộp hồ sơ xin
vay kèm báo cáo nghiên cứu khả thi, có nhiều thông số kỹ thuật máy móc
chuyên ngành hoàn toàn xa lạ với cán bộ tín dụng. Thuê chuyên gia đánh giá
thường đòi hỏi chi phí cao, các ngân hàng đa phần không thực hiện. Biện pháp
chủ yếu mà các ngân hàng thường làm trong những trường hợp này là tìm hiểu
định cho vay đúng đắn, hạn chế tối thiểu khả năng có thể xảy ra rủi ro tín dụng,
tổn thất cho ngân hàng.
1.2.3. Nội dung Thẩm định tài chính
Thẩm định cho vay là bước quan trọng nhất trong việc xét duyệt hồ sơ vay
vốn của khách hàng. Thẩm định thường được thực hiện sau khi nhận đầy đủ hồ
sơ, tài liệu do khách hàng cung cấp, cộng thêm quá trình thu thập thông tin bên
ngoài của cán bộ thẩm định. Công tác thẩm định bao gồm hai phần: Thẩm định
phi tài chính, được thực hiện trước, và Thẩm định tài chính. Nếu như Thẩm định
phi tài chính với mục đích kiểm tra xem khoản vay có đáp ứng đủ các điều kện
theo quy định cho vay của pháp luật hay không thì Thẩm định tài chính đánh giá
khoản vay có mang tính khả thi và hiệu quả hay không, khách hàng có đủ khả
năng trả nợ cả gốc lẫn lãi theo kì hạn đã định hay không, và trong trường hợp
xấu nhất có thể xảy ra thì rủi ro dự kiến là ở mức nào,...
Nội dung thẩm định tài chính:
a, Đánh giá tài sản của khách hàng:
Các doanh nghiệp đều có bảng cân đối kế toán (Bảng cân đối tài sản), trong
đó phần tài sản phản ánh số kết dư giá trị tài sản tại một thời điểm, hoặc số kết
dư trung bình trong kì. Đối với hộ gia đình, hoặc người tiêu dùng, ngân hàng
yêu cầu các thông tin về tình hình kinh doanh, tài sản cá nhân, lương và các
khoản thu nhập khác. Các thông tin về tái sản cho thấy qui mô, khả năng quản
lý của khách hàng, rất quan trọng đối với quyết định cho vay của ngân hàng.
Quan trọng hơn, tài sản (tất cả hoặc một phần) của khách hàng luôn được coi là
vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ khi khách hàng mất khả
năng sinh lời.
Ngân quỹ: Ngân quỹ luôn được xem xét đầu tiên, cho thấy khả năng thanh
toán của doanh nghiệp. Đây chính là nguồn tiền để trả cho chủ nợ, trả nợ cho
Ngân hàng, trả lương công nhân, mua sắm trang thiết bị, hàng hoá, nguyên vật
liệu,… Bao gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phải thu. Tiền
gửi và tiền mặt là tài sản có thể dùng để chi trả ngay, song thường chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng tài sản của khách hàng. Các khoản phải thu ( chủ yếu là
phải trả trong năm thì các khoản nợ đến hạn và ngân quỹ trong năm của khách
hàng là 2 yếu tố chính tạo nên quyết định của ngân hàng.
Ngân hàng cũng quan tâm tới nợ quá hạn và các nguyên nhân.
Ngân hàng quan tâm tới tất cả chủ nợ của khách hàng: có thể là các khoản
nợ cũ, các khoản nợ của ngân hàng khác, nợ người cung cấp, nợ người lao
động,... Vị trí của ngân hàng trong danh sách chủ nợ luôn được nghiên cứu kỹ
lưỡng. Nếu ngân hàng giành vị trí quan trọng nhất, nó dễ dàng thu nợ hơn là ở
các vị trí khác.
Ngân hàng cũng xem xét đến các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo, và các
nợ khác. Các tài sản đã và đang làm tài sản đảm bảo cho khoản vay cũ cần phải
được tính lại theo giá trị trị trường và bị loại trừ; nếu chúng được lấy làm tài sản
đảm bảo cho khoản vay mới thì cần tính toán giá trị dôi thừa so với tiền vay cũ.
c, Phân tích luồng tiền:
Nhiều khách hàng tạo ra lợi nhuận trong quá khứ, thậm chí có khả năng tạo
ra lợi nhuận trong tương lai, Tuy nhiên, việc trả nợ ngân hàng lại liên quan chặt
chẽ tới ngân quỹ của người vay (ví dụ, cho vay tiêu dùng, nguồn trả nợ là các
khoản thu nhập của người vay, kì hạn thu nợ có thể lệch pha với khoản thu của
người vay,...). Trong khi lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng đối
với các vấn đề tín dụng trong tương lai. Và nhiều khoản mục liên quan đén dòng
tiền lại không được chỉ dẫn đầy đủ trong Bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp
như: phần lớn luồng tiền sau tháng 12 đều không được ghi vào bảng cân đối,
phần lớn trách nhiệm thanh toán không được chỉ ra trong cân đối khi mà vào
thời điểm đó nó không tồn tại. Bán hàng là nguồn tiền quan trọng để trả nợ song
trong bảng cân đối lại đề cập rất ít đến bán hàng.
Để hỗ trợ cho ngân hàng và khách hàng, các luồng tiền trong tương lai -
phụ thuộc vào kế hoạch chi tiêu trong tương lai - cần phải được dự kiến. Kế
hoạch này ghi lại vận động hàng tháng của các khoản mục tiền mặt, tiền gửi
ngân hàng, các khoản thanh toán hàng tháng. Người vay có lợi nhuận trong hiện
tại có thể có dự án chi trong tương lai cao và với thu bán hàng không đổi, sẽ có
thể có luồng tiền âm (không có khả năng chi trả).
7 Nợ phải trả /Nguồn vốn chủ sở
hữu
Nợ phải trả /Nguồn vốn chủ sở hữu
8 Nợ phải trả /Tổng dư nợ ngân
hàng
Nợ phải trả /Tổng dư nợ ngân hàng
Chỉ tiêu sinh lời
9 Tổng thu nhập trước thuế /Doanh
thu thuần
Tổng thu nhập trước thuế /Doanh thu
thuần
10 Tổng thu nhập trước thuế /Tổng tài
sản
Tổng thu nhập trước thuế /Tổng tài sản
bình quân
11 Tổng thu nhập trước thuế /Nguồn
vốn chủ sở hữu
Tổng thu nhập trước thuế /Nguồn vốn chủ
sở hữu bình quân
Các loại tỷ lệ
• Nhóm tỷ lệ thanh khoản: Đo khả năng của người vay vốn trong việc đáp ứng
trách nhiệm tài chính ngắn hạn. Dựa vào đó, ngân hàng tìm kiếm khả năng thanh
toán các trái phiếu khi đến hạn của người vay. Nhìn chung các tỷ lệ này càng
cao thì khả năng thanh toán của người vay càng tốt.
- Tỷ lệ thanh toán nhanh: được đo bằng ngân quỹ của người vay trên các
khoản nợ hiện hành (các khoản nợ ngắn hạn, trung và dài hạn đến hạn trong kỳ).
Mẫu số phản ánh nợ đến hạn sắp phải trả, trong khi đó tử số gồm tiền mặt trong
két và tiền gửi ngân hàng, hiện có, các khoản đang trong quá trình thu (sắp thu).
Điều đáng chú ý là tiền mặt và tiền gửi ngân hàng có thể giảm nhanh chóng do
người vay cần thanh toán tiền mua hàng hoặc ttả lương, các khoản đang trong
- Tài chính: Sức chịu đựng của doanh nghiệp với thay đổi của lãi suất? Có
bao nhiêu cách huy động tiền? Sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào một dự án?
Việc đa dạng các nguồn thu?
- Chính sách của chính phủ: Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thể tác
động tới khách hàng như thế nào? Chính sách kinh tế? Bảo vệ nhập khẩu? Trợ
cấp xuất khẩu? Hợp đồng với Nhà nước? Giấy phép đối với sản phẩm mới?
• Nhóm tỷ lệ đo khả năng tài trợ bằng vốn chủ sở hữu:
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thông thường một doanh nghiệp phải có vốn chủ sở hữu đủ để tài trợ một
phần cho TSLĐ và TSCĐ.
- Tỷ lệ tài trợ bằng vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản
- Tỷ lệ này cho thấy sức mạnh tài chính của người vay. Nhiều doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay, tỷ lệ này vào khoảng 0.3 – 0.4 hoặc thấp hơn, buộc
ngân hàng phải thận trọng và kiểm soát chặt chẽ các khoản cho vay.
- Tùy theo yêu cầu vay ngắn hạn hay trung và dài hạn mà ngân hàng tập
trung chú ý vào tỷ lệ tài trợ vào tài sản lưu động hay tài sản cố định. Khi cho vay
ngắn hạn, ngân hàng xem xét vốn lưu động tự có của doanh nghiệp. Một khoản
xin vay ngắn hạn có thể được ngân hàng chấp nhận nếu không làm xấu đi tình
trạng tài trợ của doanh nghiệp (ngân hàng sẽ cộng thêm khoản vay mới để xác
định lại tỷ lệ này). Nếu doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn, thì khấu hao và
thu nhập sau thuế cùng với giá trị còn lại của tài sản là những yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định cho vay của ngân hàng.
1.2.4. Nguồn thông tin cho thẩm định
Vấn đề quan trọng đầu tiên khi thực hiện thẩm định là thu thập thông tin có
chất lượng. Chất lượng thông tin đưa vào thẩm định có ảnh hưởng rất lớn đến
kết quả phân tích, qua đó ảnh hưởng lớn đến quyết định cho vay của ngân hàng.
Chất lượng thông tin được thể hiện ở 3 thuộc tính: đầy đủ, kịp thời và chính xác.
Chỉ khi nào thông tin thu thập được đầy đủ 3 yếu tố trên thì mới được xem là
thông tin có chất lượng và hữu ích cho quá trình thẩm định.
- Thông tin qua phỏng vấn và điều tra khách hàng:
Thông tin lấy từ hồ sơ của khách hàng có nhược điểm là mức độ tin cậy
không cao vì thông tin này do chính khách hàng cung cấp, chưa qua kiểm chứng
và xử lý. Thông tin lưu trữ thì đã qua kiểm chứng nhưng lại có nhược điểm là số
liệu cũ, không được cập nhật thường xuyên, lại rất ít, rất hạn chế. Để khắc phục
những nhược điểm trên, cán bộ tín dụng có thể lấy thông tin qua phỏng vấn và
điều tra khách hàng. Việc phỏng vấn và điều tra khách hàng bao gồm việc gặp
gỡ trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng, tham quan nhà xưởng, nói chuyện
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
với giám đốc và người lao động, xem xét vật thế chấp... Thông tin qua phỏng
vấn và điều tra khách hàng có ưu điểm là thông tin mới nhất, đồng thời nghệ
thuật phỏng vấn còn có thể lọc bỏ được một số thông tin gây nhiễu, để từ đó
chắt lọc thông tin chính xác hơn phục vụ cho việc thẩm định. Ngoài ra, thông tin
qua phỏng vấn có thể bổ sung thêm cho thông tin về khách hàng mà qua hồ sơ
chưa thể thu thập đầy đủ.
- Các nguồn thông tin khác:
Thông tin từ các ngân hàng khác, thông tin từ các đối tác, bạn hàng của
khách hàng, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh của khách hàng, thông tin từ các
tổ chức chuyên môn thu thập thông tin, thông tin từ các phương tiện truyền
thông đại chúng (báo chí, internet,...) thông tin từ các ấn phẩm của Chính phủ và
các cơ quan liên quan khác. Các nguồn thông tin này sẽ giúp cho ngân hàng có
một cái nhìn tổng quan hơn, đầy đủ hơn về khách hàng của mình, phục vụ tốt
hơn cho công tác thẩm định.
1.3. Chất lượng Thẩm định tài chính
1.3.1. Chất lượng Thẩm định tài chính là gì
Từ trước tới nay, chưa có một khái niệm cụ thể nào về Chất lượng thẩm
định tài chính của khoản tín dụng. Chất lượng công tác thẩm định là hiệu quả
của công việc các cán bộ thẩm định nhằm phục vụ cho những quyết định cho
vay của ngân hàng, thu lại lợi nhuận với mức độ rủi ro chấp nhận được là nhỏ
thời. Nếu thông tin đưa ra sau khi thẩm định là chính xác, đầy đủ, Ngân hàng đã
ra quyết định cho vay hay không nhưng lại không mang tính kịp thời thì sẽ ảnh
hưởng không nhỏ tới hoạt động của ngân hàng, làm nản lòng khách hàng đến
vay. Việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời sẽ giúp các lãnh đạo của ngân
hàng có quyết định đúng đắn, thể hiện tinh tần hợp tác của ngân hàng đối với
khách hàng, cho thấy chất lượng làm việc của các cán bộ tín dụng nói riêng,
cũng như cả ngân hàng nói chung, đồng thời lại tiết kiệm được thời gian cũng
như chi phí cho cả ngân hàng cũng như khách hàng.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đây là yếu tố rất quan trọng phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng,
cũng là yếu tố quan trọng nhằm giữ chân những khách hàng tốt ở lại với ngân
hàng. Hiện nay có những ngân hàng đã đưa ra rất nhiều quảng cáo như: “Cho
vay trong 3 phút”, hay “cho vay trong vòng 10 phút”,… những thông tin này đã
hấp dẫn khách hàng rất nhiều. Trên thực tế, ở các ngân hàng nước ngoài, với hệ
thống cung cấp thông tin ưu việt, công nghệ hiện đại, với đội ngũ cán bộ có trình
độ chuyên môn cao, việc phân tích và thẩm định được diễn ra trong thời gian rất
nhanh, chứ không phải là ngân hàng thẩm định qua loa, hay chấp nhận rủi ro, dễ
dãi trong việc cho vay. Điều này cho thấy chất lượng thẩm định của các ngân
hàng đó rất tốt. Bên cạnh đó là các ngân hàng thương mại của Việt Nam, hiện
công nghệ còn chưa cao, phương pháp thẩm định còn chưa khoa học, thủ tục
hành chính còn rườm rà,… dẫn đến thời gian thẩm định còn dài. Đây cũng chính
là một nhược điểm của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.
Quy trình thẩm định
Quy trình thẩm định tài chính của Ngân hàng có phức tạp hay không, nội
dung trong quy trình có phản ánh được đầy đủ được tình hình tài chính của
khách hàng hay chưa, các bước quy trình đã khoa học hay chưa, có gây khó
khăn cho công việc của cán bộ thẩm định hay không,… Tất cả các yếu tố trên
đều ảnh hưởng trực tiếp tới công tác thẩm định. Đây cũng là một chỉ tiêu phản
ánh chất lượng công tác thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay của Ngân