Hoàn thiện thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây - Pdf 25

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, định hướng hoạt động của các Ngân hàng thương mại là đa
năng, đa lĩnh vực phục vụ đa khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế. Đây
cũng là xu hướng phát triển hoạt động kinh doanh của hầu hết các tổ chức tín
dụng và Ngân hàng thương mại trên thế giới. Tuy nhiên, tính chuyên môn hóa
trong hoạt động Ngân hàng vẫn là một vấn đề bức xúc ; ngay cả đối với hoạt
động tín dụng.
Rất ít các Ngân hàng hiện nay có sự phân tách rõ ràng giữa phòng thẩm
định và phòng tín dụng để phục vụ cho công tác thẩm định các dự án có quy mô
lớn, phức tạp. Mà tín dụng là mảng hoạt động mang lại cho ngân hàng nhiều thu
nhập nhất, nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Như ta đã biết, định hướng
của các Ngân hàng là thực hiện đa năng, đa lĩnh vực phục vụ mọi đối tượng
khách hàng, thành phần tín dụng được mở rộng, nên nghiệp vụ tín dụng cũng
trở nên phức tạp và ẩn chứa nhiều rủi ro hơn. Vì vậy, công tác thẩm định dự án
đầu tư trong hoạt động cho vay quan trọng và cần thiết. Trong các khâu của
thẩm định dự án đầu tư, có thẩm định hồ sơ pháp lý, thẩm định tài sản đảm bảo,
thẩm định tài chính dự án… thì thẩm định tài chính dự án là một trong những
khâu quan trọng và cần nhiều thời gian hơn cả.
Vì thế, em chọn đề tài « Hoàn thiện thẩm định tài chính dự án trong
hoạt động cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây » để
nghiên cứu.
Đề tài được chia làm 3 phần như sau :
Chương 1 : Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của
NHTM.
Chương 2 : Thực trạng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay
của Chi nhánh BIDV Hà Tây.
Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay của Chi nhánh BIDV Hà Tây.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

ngân hàng sử dụng mọi nỗ lực của mình để tăng quy mô tín dụng như mở rộng
mạng lưới, đa dạng hóa các loại hình tín dụng, phát triển công nghệ mới nhằm
gia tăng tiện ích cho khách, giảm lãi suất hoặc cung cấp các điều kiện ưu đãi…
các biện pháp này một mặt làm tăng quy mô, mặt khác cũng làm tăng chi phí.
Do vậy, thứ hai, ngân hàng phải nghiên cứu và xác lập mối quan hệ giữa các
biện pháp tăng quy mô với thu nhập ròng từ hoạt động tín dụng thông qua chênh
lệch lãi suất biên. Mối quan hệ này cho phép ngân hàng phân biệt lãi suất và các
điều kiện tài trợ khác với các khách hàng lớn, quan trọng và liên kết với các tổ
chức tín dụng khác trên thị trường. Thường khoản mục tín dụng chiếm khoảng
70% tổng tài sản. Vì thế, rủi ro từ hoạt động tín dụng cũng rất lớn. Tổn thất nếu
xảy ra sẽ làm giảm thu nhập dự tính và có thể gây thua lỗ hoặc phá sản cho ngân
hàng.
Hoạt động cho vay gồm các loại sau:
 Cho vay thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người
bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau
đó, là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực
tiếp đối với các khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn để mua
hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
 Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không
tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các
khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao . Sự gia tăng thu
nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các
ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm
năng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở
thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở
các nước có nền kinh tế phát triển.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Tài trợ cho dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn

dự án mãi mãi sẽ chỉ tồn tại ở trạng thái tiềm năng.
* Dự án không phải là nghiên cứu trừu tượng mà nó phải nhằm đáp ứng
một yêu cầu cụ thể được đặt ra, tạo nên một thực tế mới. Tức là khi xây dựng
nên dự án, cần phải có mục tiêu cụ thể nhằm phục vụ cho một nhu cầu, yêu cầu
nào đó.
* Dự án bị khống chế về thời gian. Một dự án khi triển khai phải có thời
hạn kết thúc. Mọi sự chậm trễ sẽ tạo nên một kết cục không tốt, có thể làm lỡ
mất cơ hội phát triển, kéo theo những bất lợi khác cho nhà đầu tư và có thể cho
nền kinh tế.
* Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực. Các dự án ít nhiều sẽ chịu ràng
buộc nhất định, có thể về vốn, lao động, vật tư. Dự án càng lớn thì mức độ ràng
buộc về nguồn lực càng cao và càng phức tạp ; mọi quyết định liên quan đến các
vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án đều bị chi phối bởi nhiều mối
quan hệ, có thể là Chủ đầu tư, Nhà tài trợ, nhân công ... Xử lý tốt các ràng buộc
này là yếu tố quan trọng góp phần đạt tới mục tiêu của dự án.
* Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn. Một môi trường
luôn biến động. Vì thế trong quá trình triển khai dự án chứa đựng nhiều yếu tố
bất định. Do đó, trong dự án rủi ro thường lớn và có thể xảy ra. Điều này ảnh
hưởng rất lớn đến sự thành công của dự án. Ví dụ, môi trường bất ổn định làm
cho giá cả nguyên vật liệu tăng rất mạnh, nằm ngoài dự kiến làm cho việc thực
hiện dự án khó khăn(do giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh). Hoặc khi thị
trường tài chính bất ổn định --> lãi suất ngân hàng thay đổi có thể theo chiều
hướng bất lợi --> Ngân hàng (nhà tài trợ) sẽ ngừng giải ngân --> ảnh hưởng đến
tiến độ thực hiện dự án -- > có thể dự án bị thất bại. Rất nhiều rủi ro có thể xảy
ra trong quá trình thực hiện dự án. Vì vậy, công tác thẩm định dự án đặc biệt
quan trọng ; thẩm định chính xác, kỹ lưỡng sâu sắc ---> hạn chế các tổn thất có
thể xảy ra.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM

1. Nhận hồ sơ xin vay.
2. Thẩm định đơn và hồ sơ xin vay
3. Phê duyệt món vay
4. Lập hồ sơ tín dụng, hạch toán món vay.
Các khoản vay ở NHTM thường bao gồm vay ngắn hạn và vay trung – dài
hạn. Việc cho vay các khoản ngắn hạn tương đối dễ và đơn giản. Thế mạnh của
NHTM là khai thác các khoản cho vay trung – dài hạn. Các khoản cho vay này
thường là các khỏan vay với khối lượng vốn lớn, thời gian vay lâu và độ rủi ro
tương đối cao, thường phục vụ cho vấn đề đầu tư mua sắm tài sản cố định, máy
móc thiết bị cho sản xuất, xây dựng nhà xưởng… Các dữ liệu của công cuộc đầu
tư đều được thể hiện trong dự án mà các đơn vị vay vốn nộp kèm đơn vay. Khi
xét duyệt món vay, cán bộ tín dụng luôn bám sát các thông tin trong dự án, kết
hợp so sánh với các yếu tố thông tin bên ngoài để đánh giá hợp lý, tính khả thi
và hiệu quả của dự án…
Ngân hàng đặc biệt quan tâm đến các dự án mang lợi nhuận cao. Nhưng
một nguyên tắc bất di bất dịch là “ Lợi nhuận cao, thì rủi ro cũng cao”. Do đó,
để hạn chế rủi ro, ngân hàng thường quan tâm đến công tác thẩm định dự án -
nhất là thẩm định về mặt tài chính dự án.
Thẩm định tài chính dự án giúp cán bộ tín dụng của ngân hàng nắm bắt
được các thông số thực sự về dự án và bản thân chủ thể vay vốn sau khi đã tiến
hành đối chứng, kiểm định và tính toán lại một số chỉ tiêu chưa hợp lý. Các số
liệu về thu – chi, lợi nhuận của một dự án chủ yếu là con số giả định, dự đoán
dựa trên tình hình sản xuất kinh doanh tương tự của doanh nghiệp hoặc của một
doanh nghiệp khác đã làm trước đây hoặc đang làm. Tuy nhiên, các con số này
không hoàn toàn chính xác do tác động của các yếu tố bên ngoài. Một dự án nếu
không được thẩm định cẩn thận trước khi cho vay thì rất dễ gây ra những tác
động không như dự kiến. Nếu thực tế diễn ra thuận lợi thì tốt. Nhưng nếu có
những tiêu cực xảy ra thì không chỉ bản thân ngân hàng khó thu hồi được vốn,
doanh nghiệp thua thiệt mà cón có thể gây ra những tác động tiêu cực đến hiệu
7

8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Quyết định phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật
- Giấy phép đầu tư thuộc dự án.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất
- Giấy phép xây dựng, giấy phép sử dụng tài nguyên (nếu có)
- Hợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm
- Bản phê duyệt kết quả đấu thầu, hợp đồng mua bán máy móc thiết bị,
hợp đồng thi công xây lắp, tài liệu chứng minh về vấn đề đầu tư, các nguồn
tham gia của dự án...
 Thẩm định mục đích vay vốn và sự cần thiết của dự án.
- Mục đích vay vốn:
+ Kiểm tra xem nhu cầu vay vốn có thuộc đối tượng cho vay hay không
+ Kiểm tra tính hợp pháp của mục đích vay vốn
+ Đối với những dự án vay bằng ngoại tệ thì kiểm tra mục đích vay vốn
sao cho phù hợp với quy định quản lý ngoại hối.
- Sự cần thiết của dự án
Mỗi dự án là một mắt xích quan trọng trong chương trình phát triển trung,
dài hạn của ngành, vùng lãnh thổ. Một dự án đầu tư sẽ ảnh hưởng không nhỏ
đến con người, kinh tế xã hội, thị trường, môi trường tự nhiên... Do đó, khi tiến
hành thẩm định dự án cán bộ tín dụng cần phải xem xét các mục tiêu và định
hướng của dự án. Đánh giá xem dự án có cần thiết, có khả thi trong tình hình
nền kinh tế xã hội hiện nay hay không, có tuân thủ theo đúng kế hoạch, quy
hoạch đầu tư định hướng phát triển của ngành không. Đồng thời Ngân hàng
cũng xem xét dự án có mang lại lợi ích cho mình và chủ đầu tư hay không.
* Thẩm định về phương diện kỹ thuật.
Tức là kiểm tra, phân tích các yếu tố kỹ thuật và công nghệ của dự án để
đảm bảo tính khả thi về mặt thi công xây lắp dự án và việc vận hành dự án theo
đúng mục tiêu dự kiến. Các vấn đề chính sách nghiên cứu kiểm tra bao gồm:
- Thẩm định quy mô dự án: thẩm định xem quy mô, công suất dự án có phù hợp

+ Kiểm tra cung - cầu sản phẩm. Khi nghiên cứu quan hệ cung, cầu sản
phẩm cần xem xét trên các khía cạnh sau:
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, nhu cầu hiện tại của thị trường trên các địa bàn mà dự án thâm
nhập, chiếm lĩnh cũng như sự chấp thuận của sản phẩm đó trên thị trường hiện
nay, nhu cầu của người tiêu dùng đang ở mức độ nào. Sự chấp nhận và độ thỏa
mãn của người tiêu dùng đối với sản phẩm so với các loại sản phẩm cùng loại
trên thị trường và sản phẩm có thể thay thế.
Thứ hai, dự báo nhu cầu sản phẩm trong tương lai và mức độ đáp ứng sản
phẩm đó trên thị trường, các kênh đáp ứng các sản phẩm tương tự và sản phẩm
thay thế ra sao.
Thứ ba, tính hợp pháp, hợp lý và mức độ tin cậy của hợp đồng bao tiêu
sản phẩm, các văn bản giao dịch sản phẩm tránh sự giả mạo có thể xảy ra. Phân
tích hợp lý về giá cả và mức biến động về giá cả đầu vào, đầu ra của dự án.
Thứ tư, khả năng nắm bắt các thông tin về thị trường quản lý xuất nhập
khẩu của các nước có quan hệ.
- Phân tích ngành:
+ Phân tích tình hình phát triển trong tương lai trong mối quan hệ với tình
hình thị trường hiện tại. Cần phân tích những nội dung sau:
++) Xu hướng phát triển của ngành
++) Tốc độ tăng trưởng trong quá khứ, hiện tại và dự báo tương lai của
ngành.
++) Sự phát triển của các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp có cùng
quy mô trong ngành.
++) Các vấn đề liên quan đến cải tiến kỹ thuật.
++) Sản phẩm và khả năng cạnh tranh của nó trong thị trường trong và
ngoài nước
++) Những thay đổi về điều kiện lao động.
++) Chính sách của chính phủ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp.

phí sản xuất bằng cách chuyển những công nghệ lạc hậu, gây ra sự ô nhiễm sang
các nước đang phát triển để đầu tư. Do vậy, khi thẩm định cần phải xem xét khả
năng tác động đến môi trường của dự án và phân tích các biện pháp xử lý chống
ô nhiễm môi trường, trong đó phải tính toán các chi phí cho lĩnh vực này. Tình
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hình kinh tế, môi trường, xã hội được đề cập trong dự án bao gồm các vấn đề
sau:
- Điều kiện và địa lý tự nhiên (địa hình, khí hậu, địa chất ...) có liên quan
đến việc chọn, thực hiện và phát huy hiệu quả của dự án sau này.
- Điều kiện dân số và lao động có liên quan đến nhu cầu và khuynh hướng
tiêu thu sản phẩm, đến nguồn lao động cung cấp cho dự án.
- Tình hình chính trị, chính sách có ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư.
- Tình hình phát triển kinh tế xã hội đất nước, địa phương, tình hình sản
xuất kinh doanh của ngành, địa phương (tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ đầu tư
với GDP, quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, GDP/ đầu người, tỷ suất lợi nhuận
kinh doanh...) có ảnh hưởng tới quá trình thực hiện và phát huy hiệư quả của dự
án.
- Tình hình ngoại hối (cán cân thanh toán quốc tế, dự trữ ngoại tệ, nợ
nước ngoài và tình hình thanh toán nợ ... ) đặc biệt đối với các dự án phải nhập
khẩu nguyên liệu, trang thiết bị.
* Thẩm định về mặt tài chính của dự án đầu tư.
Lợi nhuận là nhân tố quyết định hàng đầu đến hiệu quả của dự án. Khi
quyết định đầu tư, các doanh nghiệp và ngân hàng thường sử dụng phương pháp
phân tích tài chính để đánh giá tính khả thi của dự án. Thẩm định tài chính dự án
là việc rà soát, đánh giá một cách khao học và toàn diện về mọi khía cạnh tài
chính, kinh tế, kỹ thuật của dự án. Từ kết quả thẩm định, đánh giá hiệu quả tài
chính của dự án để đi đến kết luận có tài trợ cho dự án hay không.
2.2.2. Nội dung của công tác TĐTCDA
Do sự cần thiết và tính chất quan trọng của công việc này, TĐTCDA

tính khả thi và hiệu quả hoạt động của dự án.
Tổng mức vốn đầu tư của dự án là giá trị của toàn bộ số tiền và tài sản cần
thiết để lập và đưa dự án vào hoạt động, bao gồm các khoản mục:
o Vốn đầu tư vào TSCĐ, gồm:
− Chi phí điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án, chi
phí tư vấn, thiết kế dự án, chi phí đào tạo, huấn luyện, chuyển giao
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghệ, chi phí ban đầu về mặt đất, mặt nước, chi phí chuẩn bị
mặt bằng xây dựng.
− Giá trị nhà xưởng hoặc kết cầu hạ tầng sẵn có, chi phí
xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng.
− Giá trị máy móc thiết bị, phương tiện vận tải sẵn có,
chi phí mua máy móc thiết bị, phương tiện vận tải mới.
− Chi phí khác.
Khoản mục chi phí thường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng vốn đầu tư. Do
vậy, cần phải kiểm soát chặt chẽ bằng cách chi tiết hóa các khoản mục, tham
khảo cá dự án cùng loại đã từng được thực hiện, ý kiến cá chuyên gia tư vấn về
xây dựng và công nghệ, giá cả trên thị trường,…
* Vốn đầu tư vào TSLĐ ban đầu: là giá trị các tài sản lưu động ban đầu
cần thiết để đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các
điều kiện kinh tế - kỹ thuật dự tính, bao gồm:
− Dự trữ tiền mặt, các khoản phải thu và trả trước.
− Dự trữ hàng hóa: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,
thành phẩm tồn kho.
Lượng vốn đầu tư vào vốn lưu động ban đầu thường không lớn song nếu
không dự tính huy động nguồn vốn dài hạn để tài trợ, các dự án sẽ phải huy
động nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ và như vậy rất bị động khi đến hạn trả. Để
xác định lượng vốn lưu động ban đầu cần dự trữ có thể dùng một trong ba công
thức sau:

bán thường được giả định là không đổi trong suốt thời gian vận hành. Tuy nhiên,
nếu sản phẩm rất nhạy cảm với các biến động của thị trường trong và ngoài
nước hoặc chịu áp lực cạnh tranh lớn cần có sự thay đổi giá bán qua các năm,
hoặc xếp hạng mức độ rủi ro cao hơn khi lựa chọn dự án.
Sản lượng sản xuất, tính theo % của cống suất thiết kế, tăng dần trong các
năm đầu và đạt mức 100% khi sản xuất đi vào ổn định. Vì vậy, nhiệm vụ của
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhà phân tích là phải kiểm tra lại các thông tin để điều chỉnh tỷ lệ % cho phù
hợp.
Vào năm cuối cùng, dự án có thể có khoản thu hồi từ tài sản (TSCĐ và
TSLĐ). Khi đó giá bán tài sản cần được trừ đi giá trị còn lại của tài sản theo sổ
sách (= nguyên giá - khấu hao lũy kế) để tính lợi nhuận (hoặc lỗ).
2.2.2.3. Phân tích các khoản chi phí
Việc lựa chọn công suất thiết kế không chỉ tác động đến doanh thu mà
còn ảnh hưởng đến chi phí hoạt động hàng năm của dự án. Căn cứ vào kế hoạch
sản xuất, kế hoạch khấu hao, kế hoạch trả nợ, chi phí hoạt động bao gồm các
khoản mục sau:
- Nguyên vật liệu gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu bao bì, bán
thành phẩm và dịch vụ mua ngoài, nhiên liệu, năng lượng, nước.
− Tiền lương, bảo hiểm xã hội, chi phí bảo dưỡng máy
móc thiết bị, nhà xưởng.
− Khấu hao gồm: Chi phí chuẩn bị, máy móc thiết bị,
dụng cụ, phương tiện vận tải, nhà xưởng và cấu trúc hạ tầng, chi
phí ban đầu về quyền sử dụng đất.
− Chi phí quản lý phân xưởng, quản lý doanh nghiệp.
− Chi phí bảo hiểm tài sản, chi phí tiêu thụ sản phẩm lãi
vay, chi phí khác…
Các chi phí biến đổi như nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng,… được
tính theo sản lượng sản phẩm định mức tiêu hao. Nhà phân tích cần kiểm tra lại

là giá trị còn lại năm thứ t -1 .
P là tỷ lệ khấu hao không đổi.
P = (1 / n) x H với H = 1,5 nếu n = 3 ; 4
H = 2 nếu n = 5 ; 7
H = 2,5 nếu n >= 8
Hoặc phương pháp khấu hao theo tổng số các thứ tự năm
M
KH (t)
= (( n +1 – t) / (1+2+…+n) ) x NG.
Chi phí lãi vay được tính dựa trên kế hoạch vay và trả nợ đối với các
nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Thời kỳ tính lãi là hàng năm mặc dù các chủ
nợ có thể yêu cầu sự án trả theo tháng hoặc quý. Cần kiểm tra lại cách tính trả
lãi và gốc cho phù hợp với thông lệ của ngân hàng.
2.2.2.4. Lập báo cáo tài chính dự kiến cho từng năm hoặc từng giai đoạn
của đời dự án
18
M
KH (t)
= P x GTCL
(t – 1)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cần lập bảng chi phí sản xuất hoặc dịch vụ, doanh thu, bảng dự tính mức
lỗ lãi, bảng dự trù cần đối kế toán, bảng dự tính cân đối thu chi. Các báo cáo tài
chính giúp cho chủ đầu tư thấy được tình hình hoạt động tài chính của dự án và
nó là nguồn số liệu giúp cho việc tính toán phân tích các chỉ tiêu phản ánh mặt
tài chính của dự án.
Dự tính doanh thu từ hoạt động của dự án: gồm doanh thu bán sản phẩm
chính, sản phẩm phụ ... và từ dịch vụ cung cấp cho bên ngoài. Doanh thu này
được tính cho từng năm hoạt động và dựa vào kế hoạch sản xuất và tiêu thụ
hàng năm của dự án để xác định.

t
của doanh
nghiệp nếu không có dự án.
Theo cách này, dòng tiền dự án là dòng tiền tăng thêm sẽ xảy ra nếu dự án
được thực hiện. Dòng tiền bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra.
Theo quan điểm của Ngân hàng, Ngân hàng và chủ sở hữu cùng đầu tư, nên
không có chuyện trả lãi hay trả nợ gốc.
Cách tính dòng tiền sau: OCF = LNST + KHTSCĐ +Lãi vay.
(Cộng lãi vay vào dòng tiền chứ không phải là: Lãi vay * (1 - T) vì Lãi vay mà
Ngân hàng nhận được là Lãi vay trước thuế).
- Dòng tiền và thu nhập kế toán.
Báo cáo kết quả kinh doanh là phần tổng hợp của doanh thu và chi phí của
dự án. Chúng còn được gọi là doanh thu và chi phí kế toán của dự án. Trong khi
đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ ghi nhận số tiền thực tế thu vào chi ra khỏi ngân
quỹ. Đây được coi là dòng tiền vào ra của dự án. Phần chênh lệch giữa dòng tiền
vào và ra gọi chung là dòng tiền thuần. Trên hai báo cáo có thể có một số khoản
mục giống nhau về tên gọi nhưng khác nhau về con số. Ví dụ, tiền lương được
hạch toán vào chi phí lao động cũng là khoản chi tiền ra, còn doanh thu có thể
chỉ được đưa một phần vào dòng tiền do không thu vào ngay toàn bộ (một số
nằm ở khoản phải thu). Do giá trị thời gian của tiền, để so sánh được những
khoản thu, chi tại các thời điểm khác nhau trong quãng đời hoạt động của dự án,
cần phải biết được thời điểm xuất hiện các khoản tiền này. Chính vì vậy, trong
việc lập dự toán vốn đầu tư, các quyết định chỉ dựa trên dòng tiền thu vào và chi
ra trong từng giai đoạn hoạt động của dự án.
- Thời điểm xuất hiện dòng tiền.
Do tiền có giá trị thời gian, nên cần biết chính xác thời điểm xuất hiện
dòng tiền. Báo cáo kết quả kinh doanh thường được lập theo thời kỳ là tháng,
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quý hay năm, không phản ánh chính xác khi nào dòng tiền vào, ra. Theo lý

còn lãi suất chiết khấu sau thuế xét đến tác động thứ (3).
 Khấu hao.
Khoản tiền đầu tư vào TSCĐ của dự án thường được phân bổ trong các
năm hoạt động của dự án, gọi là chi phí khấu hao và sau đó tài sản có thể được
thanh lý. Tuy nhiên, khấu hao không phải là khỏan chi tiền, nên mức khấu hao
cao không làm giảm dòng tiền, mà ngược lại, còn làm tăng vì số thuế phải nộp
giảm xuống.
Trong hoặc vào cuối đời hoạt động, TSCĐ có thể được thanh lý. Khi đó,
dự án có thể có thêm một khoản thu nhập (hoặc lỗ) ròng bằng giá bán trừ chi phí
thanh lý(bằng giá trị còn lại theo sổ sách cộng với chi phí bán). Khoản thu nhập
(hoặc lỗ) từ thanh lý cũng làm tăng (hoặc làm giảm) thuế phải nộp tương ứng
với mức thuế suất của doanh nghiệp.
 Thay đổi vốn lưu động ròng
Khi sản xuất mở rộng thì những khoản phải trả cũng tăng lên, làm giảm
nhu cầu tài trợ cho dự án. Phần chênh lệch giữa lượng tăng thêm về tài sản lưu
động và về nợ ngắn hạn thường là dương và do vậy đòi hỏi phải có thêm tiền
đầu tư vào phần này, ngoài tiền đầu tư vào TSCĐ, Phần chênh lệch này gọi là
vốn lưu động ròng.
Khi dự án kết thúc, lượng tài sản lưu động dự trữ này cũng được thanh lý
để thu tiền về. Do tính chất của tài sản lưu động là tương đối dễ bán, nên để
thuận tiện trong quá trình phân tích, giá trị thu hồi thường được giả thiết là bằng
đúng số tiền đã chi ra.
- Lãi suất chiết khấu.
Thuật ngữ giá trị thời gian của tiền có nghĩa là một khoản tiền sẽ có giá trị
khác nhau nếu xuất hiện tại các thời điểm khác nhau.
Nhà đầu tư bỏ ra một khoản chi phí để hy vọng đem lại những khỏan thu
nhập trong tương lai. Nhưng thường thì các khoản thu nhập và chi phí không
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuất hiện tại cùng một thời điểm. Do giá trị thời gian của tiền, nên phải quy

W
s
:là tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn
vốn.
T :thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngân hàng tài trợ cho dự án thì phân tích dự án dựa trên dòng tiền của
tổng vốn đâu tư. Quan điểm nhà cho vay còn gọi là quan điểm tổng đầu tư. Mục
đích của nhà cho vay khi phân tích dự án là đánh giá sự an toàn của số vốn cho
vay, mà sự an toàn đó phải xem xét dựa trên hiệu quả hoạt động của toàn bộ
dưựán chứ không chỉ của số vốn chủ sở hữu. Theo đó, các tổ chức tín dụng sẽ
xác định được tính khả thi về mặt tài chính của dự án, nhu cầu vay vốn cũng như
khả năng trả nợ gốc và lãi vay của dự án. Do vậy, dòng tiền dự án bao gồm cả
23
NPV : là Σ lợi nhuận DA
mang lại = Thu từ DA –
Chi từ DA.
= +- luồng tiền kỳ vọng
tương lại với GTHT của
VĐT
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phần của các chủ sở hữu và nhà cho vay. Dòng tiền của dự án được tạo ra từ
tổng vốn đầu tư bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, thì lãi suất chiết khấu
không chỉ là chi phí vốn vay(lãi vay) hay chi phí vốn chủ sở hữu, phải là chi phí
vốn trung bình của vốn.
2.2.2.6. Một số chỉ tiêu trong TĐTCDA
Chỉ tiêu NPV:
Chỉ tiêu IRR:
24
Đặc điểm : - Liên quan
GTHT, LSCK

- Không
tính đến sự
khác biệt về
thời gian
hoạt động
DA.
- Chỉ cho
biết Σ LN
không cho
biết LN / 1
đồng vốn.
NPV càng lớn
càng tốt, nếu
>= 2 DA,
chọn DA có
NPV> 0 và
NPVmax.
Chọn DA : + Có 1 DA duy nhất
 chọn DA có IRR > LSCK.
+ Có nhiều DA, phụ thuộc nhau
thì IRR > 0, max và IRR > LSCK
Người ta có thể sử dụng 2 phương pháp để tính IRR :
+ Phương pháp thử và điều chỉnh : lần lượt thử các giá trị của lãi suất chiết khấu để
tính NPV, sau đó chọn LSCK nào làm cho giá trị NPV gần 0 nhất thì đó chính là
IRR. Tuy nhiên việc làm này mất nhiều thời gian và công sức, nên người ta sử dụng
phần mềm máy tính chuyên biệt để tiết kiệm thời gian, chi phí cho kết quả chính xác
hơn.
+ Phương pháp nội suy : Dựa trên nguyên tắc tam giác đồng dạng.
• Bước 1 : chọn 1 LSCK tùy ý i
1

thời điểm thứ t.
i : lãi suất chiết khấu.
NPV : là Σ lợi nhuận DA
mang lại = Thu từ DA –
Chi từ DA.
= +- luồng tiền kỳ vọng
tương lại với GTHT của
VĐT
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu PP:
25
PP : Khoảng thời gian
cần thiết để các khoản
thu nhập gia tăng từ DA
đủ bù đắp các khoản chi
ban đầu thực hiện DA.
Ý nghĩa : -Phản ánh thời
gian thu hồi VĐT vào
DA. ( Cho biết sau bao
lâu thì thu hồi đủ VĐT
ban đầu vào DA. )
- Cho biết khả năng tạo
thu nhập của DN từ khi
thực hiện DA cho đến khi
thu hồi đủ VĐT.
Công thức:
Số VĐT còn lại cần thu hồi
PP = n +
Dòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn
Lựa chọn DA : - Đây là chỉ

đến sự
khác biệt
của CF
trước khi
hoàn vốn.
- Ko tuân
theo
nguyên tắc
G.Trị thời
gian của
tiền.

Trích đoạn KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN ĐẦU TƯ Đánh giá thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại BIDV Hà Tây TỔNG ĐIỂM CỦA THÔNG Những hạn chế Định hướng phát triển của chi nhánh BIDV Hà Tây
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status