Phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước khu vực phía tây thị xã Sơn Tây, Hà Nộ - Pdf 25


Hứa Thanh Hoa
PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG
CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG
HỢP LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ NƯỚC KHU VỰC
PHÍA TÂY THỊ XÃ SƠN TÂY, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội, 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3
5. CƠ SỞ TÀI LIỆU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 4
6. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU
TRÚC, CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP
LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ NƯỚC 5
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về cấu trúc và chức năng cảnh quan 5
1.1.2. Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu 9
1.2. LÝ LUẬN VỀ HƯỚNG PHÂN TÍCH QUAN HỆ CẤU TRÚC - CHỨC
NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ
NƯỚC 10
1.2.1. Lý luận về cấu trúc và chức năng cảnh quan 10
1.2.2. Lý luận về tài nguyên và sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước 15
1.2.3. Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước dựa trên phân tích
cấu trúc và chức năng cảnh quan 19
1.3. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU 20
1.3.1. Các quan điểm nghiên cứu 20
1.3.2. Các phương pháp nghiên cứu 21
1.3.3. Các bước nghiên cứu 25
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO VÀ CẤU TRÚC
CẢNH QUAN KHU VỰC PHÍA TÂY THỊ XÃ SƠN TÂY 29
2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN 29
2.1.1.Vị trí địa lý 29
2.1.2. Mẫu chất và địa hình 30
ii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả phân tích tính chất lý hóa học của đất Fp tại xã Xuân Sơn 35
Bảng 2.2. Kết quả phân tích tính chất lý hóa học của đất Pb tại khu vực nghiên cứu 36
Bảng 2.3. Lớp phủ sử dụng đất của khu vực nghiên cứu 37
Bảng 2.4. Diện tích, dân số, mật độ dân số khu vực nghiên cứu năm 2011 37
Bảng 2.5. Phân bố lao động trong các ngành kinh tế năm 2011 38
Bảng 2.6. Tỷ trọng các ngành khu vực nghiên cứu năm 2011 39
Bảng 2.7. Hệ thống phân loại cảnh quan khu vực nghiên cứu 40
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất của các xã trong khu vực năm 2011 47
Bảng 3.2. Diện tích, sản lượng một số cây trồng chính của khu vực 48
Bảng 3.3. Diện tích các loại đất nông nghiệp trong khu vực năm 2011 50
Bảng 3.4. Thực trạng phát triển lâm nghiệp của khu vực 50
Bảng 3.5. Thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản khu vực 51
Bảng 3.6. Diện tích các loại đất phi nông nghiệp trong khu vực năm 2011 52
Bảng 3.7. Diện tích các loại đất trong nhóm đất chưa sử dụng cụm xã năm 2011 52
Bảng 3.8. Diện tích, dân số, mật độ dân số khu vực nghiên cứu năm 2011 55
Bảng 3.9. Tỷ trọng các ngành khu vực nghiên cứu năm 2011 55
Bảng 3.10. Kết quả đo nhanh chất lượng nước mặt khu vực phía tây thị xã Sơn Tây
vào mùa mưa (tháng 8/2012) 58
Bảng 3.11. Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm khu vực phía tây thị xã Sơn
Tây vào mùa mưa (tháng 8/2012) 62
Bảng 3.12. Kết quả phân tích nước giếng khoa của nhà máy nước Sơn Tây 63
Bảng 3.13. Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt khu vực phía tây thị xã Sơn Tây
vào mùa khô (11/2012) 64
Bảng 3.14. Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm xã Thanh Mỹ năm 2012 65
Bảng 3.15. Phân hạng mức độ thích nghi sinh thái đối với cây vải 69
Bảng 3.16. Phân hạng mức độ thích nghi sinh thái đối với cây keo 69
Bảng 3.17. Đánh giá mức độ thích nghi của các cảnh quan cho cây vải 70

37
Bản đồ cảnh quan
43
Lát cắt cảnh quan khu vực nghiên cứu
43
Bản đồ phân hạng thích nghi sinh thái đối với cây vải
69
Bản đồ phân hạng thích nghi sinh thái đối với cây keo
64
Bản đồ giá trị đa chức năng cảnh quan bậc I
79
Bản đồ giá trị đa chức năng cảnh quan bậc II
79
Bản đồ giá trị đa chức năng cảnh quan bậc III
79

1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nghiên cứu sinh thái cảnh quan, ba đặc trưng quan trọng nhất cần quan
tâm là cấu trúc, chức năng và biến đổi cảnh quan (Forman và Godron, 1986). Phân
tích cấu trúc cho thấy mối liên kết không gian liên quan đến sự phân bố vật chất và
năng lượng giữa các hợp phần thành tạo cảnh quan (cấu trúc đứng), quan hệ thứ bậc
giữa các cấp trong hệ thống phân loại cảnh quan, sự phân hóa không gian của các
đơn vị cảnh quan (cấu trúc ngang) và sự biến đổi cảnh quan (cấu trúc thời gian).
Phân tích chức năng thể hiện vai trò về mặt sinh thái, kinh tế, xã hội của cảnh quan
và mối liên hệ giữa chúng (De Groot, 1992; Costanza, 2008). Biến đổi cảnh quan
biểu thị sự biến đổi về cấu trúc và chức năng của cảnh quan theo thời gian.
Thị xã Sơn Tây nằm ở phía Tây và cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 40

Để hoàn thành được mục tiêu trên, các nhiệm vụ sau cần được thực hiện:
- Tổng quan các công trình đã nghiên cứu về cấu trúc và chức năng cảnh
quan trên thế giới và Việt Nam. Thu thập, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu liên
quan tới khu vực nghiên cứu.
- Xác lập cơ sở lý luận về hướng phân tích quan hệ cấu trúc - chức năng cảnh
quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước.
- Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan (xây dựng, biên tập các bản đồ
hợp phần là bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng
sử dụng đất), xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan, phân tích cấu trúc cảnh quan,
thành lập bản đồ cảnh quan cho khu vực phía tây thị xã Sơn Tây.
- Phân tích hiện trạng sử dụng tài nguyên đất và nước; các vấn đề kinh tế, xã
hội và môi trường nảy sinh trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên.
- Đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái. Ứng dụng một số
mô hình toán học xác định giá trị đa chức năng của các cảnh quan.
3

- Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước. Thành lập bản đồ định
hướng sử dụng hợp lý cảnh quan.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a) Phạm vi không gian
Đề tài giới hạn nghiên cứu tại các xã Thanh Mỹ - Xuân Sơn - Xuân Khanh
thuộc phía tây thị xã Sơn Tây, tổng diện tích tự nhiên là 27,65 km
2
, cách trung tâm
thị xã khoảng 4 km về phía tây.
b) Phạm vi khoa học
- Phân tích các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình
sử dụng tài nguyên đất và nước.
- Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái, bao gồm các khía cạnh
của phát triển bền vững: thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và

Quy hoạch môi trường thị xã Sơn Tây đến năm 2020.
6. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cấu trúc, chức năng
cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước
- Chương 2: Phân tích các nhân tố thành tạo và cấu trúc cảnh quan khu vực
phía tây thị xã Sơn Tây
- Chương 3: Phân tích chức năng cảnh quan và định hướng sử dụng hợp lý tài
nguyên đất và nước khu vực phía tây thị xã Sơn Tây.

5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ NƯỚC

1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về cấu trúc và chức năng cảnh quan
a) Trên thế giới
Đầu thế kỷ XIX, cảnh quan được nhà địa vật lý vĩ đại Alecxander von
Humboldt (1802) định nghĩa một cách khoa học là "Der Totalcharakter einer
Erdgegend" nghĩa là toàn bộ đặc tính của một vùng trên Trái Đất (dẫn theo Navel và
Lieberman, 1992; Antrop, 2000). Sau đó, cảnh quan học tiếp tục được phát triển với
những đóng góp của các nhà địa lý học Đức và Xô Viết. Nhà địa lý học Xô Viết
Docutraev đưa ra quan niệm về địa tổng thể, đề xuất các nghiên cứu định hướng tôn
trọng và nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên thống nhất toàn vẹn chứ không tách rời
chúng ra từng phần. Ông là người đầu tiên trình bày tính đới như một quy luật thế
giới và đã đưa ra học thuyết về các đới thiên nhiên. Tuy nhiên, người đưa thuật ngữ
“cảnh quan” lần đầu tiên vào trong khoa học địa lý Xô Viết năm 1913 là L.S. Becgơ
- một trong số các học trò của Docutraev. Ông đã nêu lên rằng chính cảnh quan là

bậc 2) và cấp chức năng phụ (các chức năng bậc 3). Một hệ thống phân chia chức
năng cảnh quan khác được de Groot (1992), sau đó Costanza (1997) và de Groot
(2002) bổ sung, áp dụng chủ yếu cho các cảnh quan tự nhiên và bán tự nhiên. Trong
hệ thống này, chức năng cảnh quan được chia thành 5 nhóm, bao gồm chức năng
điều tiết, chức năng nơi sống, chức năng sản xuất, chức năng thông tin và chức năng
giá thể. Các khái niệm, quan điểm và hệ thống phân loại chức năng cảnh quan này
gần đây được áp dụng trong một số công trình nghiên cứu thực tiễn ở châu Âu.
Bastian (1998) đã xác định cơ sở khoa học và mục tiêu quản lý lãnh thổ dựa trên
đánh giá chức năng cảnh quan ở nước Đức. Andrea Weber và cộng sự (2001) thực
hiện một nghiên cứu tác động của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tới sự biến
7

đổi sử dụng đất lâu dài trong lưu vực, ảnh hưởng tới cấu trúc và chức năng cảnh
quan. Bastian và Lütz (2006) nghiên cứu chức năng cảnh quan với vai trò là các chỉ
thị cho phát triển các thước đo môi trường nông nghiệp ở một số khu vực nông thôn
tại châu Âu.
Đầu thế kỷ XXI đánh dấu sự phát triển của một hướng nghiên cứu mới về đa
chức năng (multifunctionanity) và cảnh quan đa chức năng (multifunctionanity
landscape) (Barkmann, 2004). Đa chức năng sau đó sử dụng phổ biến trong thiết kế
và quy hoạch cảnh quan, đặc biệt phổ biến ở châu Âu dựa trên Công ước Cảnh quan
châu Âu (European Landscape Convention) của Hội đồng châu Âu (2000, 2007).
Pinto-Correia và Jongman (2004) trên cơ sở sử dụng các tư liệu trong quá khứ và
hiện tại đã tiến hành phân tích biến đổi và dự báo giá trị đa chức năng của các cảnh
quan Địa Trung Hải. Naveh (2001) đề xuất 10 giả thiết về hướng nghiên cứu tổng
hợp các cảnh quan đa chức năng. de Groot (2006) thực hiện một nghiên cứu về cách
tiếp cận phân tích đa chức năng trong đánh giá xung đột sử dụng đất phục vụ quy
hoạch phát triển bền vững cảnh quan.
b. Tại Việt Nam
Khoa học về cảnh quan và những công trình phân tích, đánh giá tổng hợp
cảnh quan tại Việt Nam đã được phát triển từ rất sớm (khoảng giữa những năm 50)

nhiên và bảo vệ môi trường. Những nhu cầu thực tiễn làm nảy sinh xu thế tất yếu là
cảnh quan học phải tiếp cận với các bộ môn khoa học khác có liên quan, quan trọng
nhất là hướng tiếp cận sinh thái và kinh tế trong nghiên cứu cảnh quan.
Hướng phân tích chức năng cảnh quan và đa chức năng hiện không được đề
cập nhiều trong các công trình công bố ở Việt Nam. Trương Quang Hải và cộng sự
(2008) ứng dụng chỉ số đa chức năng để phân tích khả năng phát triển kinh tế liên
ngành cho khu vực có núi đá vôi thuộc tỉnh Ninh Bình. Nguyễn An Thịnh và
Trương Quang Hải (2009) tiến hành phân loại chức năng cho các hệ thống công
trình thủy lợi vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, sau đó thực hiện phân tích hiệu ích
tổng hợp dựa trên các công cụ phân tích chi phí - lợi ích. Quy trình này áp dụng
phân tích hiệu ích tổng hợp của hệ thống các công trình thủy lợi vùng kinh tế trọng
9

điểm Bắc Bộ đến năm 2020, bao gồm hệ thống công trình chia sẻ và phân bổ tài
nguyên nước, hệ thống công trình bảo vệ tài nguyên nước và hệ sinh thái thủy sinh,
hệ thống công trình phòng chống lũ và giảm thiểu thiên tai, cho thấy hiệu quả cao
về kinh tế và môi trường của các công trình này.
Một trong những hướng nghiên cứu cảnh quan học ứng dụng hiện nay chú
trọng vào khu vực ven biển. Đây là khu vực tập trung các đô thị lớn nhất, chiếm
phần lớn dân số của Việt Nam, nhưng tương đối nhạy cảm. Với đường bờ biển dài
3260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên đã tạo nên những cảnh quan ven biển tương đối
đa dạng. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cảnh quan vùng ven
biển với các mục đích khác nhau bởi tính đa dạng sinh học và sự nhạy cảm của khu
vực này. Tại Việt Nam, đã có nhiều công trình về vấn đề này do khu vực ven biển
không chỉ cung cấp điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, đây còn là
có các hệ sinh thái quan trọng với sự đa dạng sinh học cao và năng suất sinh học
lớn. Đồng thời đây cũng là khu vực dễ bị tổn thương bởi các tai biến thiên nhiên và
hoạt động phát triển kinh tế xã hội gây ô nhiễm do con người. Bởi vậy, nghiên cứu
cảnh quan khu vực ven biển là thực sự rất cần thiết nhằm định hướng phát triển bền
vững lãnh thổ. Hướng nghiên cứu này được đề cập tới trong một số công trình.

NƯỚC
1.2.1. Lý luận về cấu trúc và chức năng cảnh quan
a) Cấu trúc cảnh quan
Tương tác có tính hệ thống giữa các hợp phần cảnh quan tạo ra cấu trúc cảnh
quan. Hiện nay có nhiều định nghĩa về cấu trúc cảnh quan: ”cấu trúc cảnh quan là
tính tổ chức của các bộ phận cấu thành trong không gian và tính điều chỉnh trạng
thái theo thời gian (được xem như là cấu trúc không gian và thời gian của địa hệ)”
(Kalexnik, 1978); ” đặc điểm tổ chức không gian ba chiều trên bề mặt của cảnh
quan” (Bastian và Steinhardt, 2002). Trong cấu trúc cảnh quan xét đến cả các hợp
phần cảnh quan, đặc điểm kết hợp của các yếu tố cấu trúc cảnh quan cơ bản
11

(Forman và Godron, 1986) và các đặc trưng biến đổi có tính nhịp điệu của cảnh
quan (Ixatrenko, 1965).
Theo Ixatrenko (1965), cấu trúc cảnh quan bao gồm:
- Cấu trúc đứng: sự phân bố theo tầng của các hợp phần tạo nên cấu trúc
đứng của cảnh quan. Cấu trúc này thể hiện đặc điểm kết hợp giữa các hợp phần
cảnh quan, thông qua mối liên hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần cấu tạo
riêng biệt. Cấu trúc đứng được thể hiện từ dưới lên trên bao gồm tập hợp có quy
luật của các hợp phần cảnh quan, bao gồm mẫu chất (hay nền địa chất), địa hình,
thuỷ văn địa phương (nước mặt và nước ngầm), khí hậu địa phương (phần dưới
cùng của tầng đối lưu), lớp phủ thổ nhưỡng và thảm thực vật. Sự thay đổi cấu trúc
đứng do các nguyên nhân khác nhau sẽ tạo ra các chức năng khác nhau của cảnh
quan khác so với chức năng nguyên thuỷ của nó. Phân tích cấu trúc đứng thực chất
là phân tích đặc điểm và mối quan hệ phát sinh giữa các hợp phần của cảnh quan.
- Cấu trúc ngang: còn gọi là cấu trúc hình thái của cảnh quan, là đặc điểm kết
hợp các yếu tố cấu trúc cảnh quan cơ bản. Cấu trúc này thể hiện quy luật sắp xếp và
mối quan hệ giữa các yếu tố cảnh quan cơ bản trong không gian địa lý.
- Cấu trúc thời gian: thể hiện những nét quan trọng nhất của nhịp điệu theo
mùa, biến đổi trạng thái cảnh quan. Phân tích cấu trúc thời gian thực chất là phân

Niemann (1977) đưa ra hệ thống phân loại chức năng cảnh quan gồm 3 cấp:
- Chức năng bậc 1 (nhóm chức năng): gồm các nhóm chức năng tổng hợp là
chức năng sản xuất (chức năng kinh tế), chức năng sinh thái và chức năng xã hội.
- Chức năng bậc 2 (chức năng chính): gồm các chức năng cơ bản là cung cấp
các tài nguyên tái tạo, cung cấp các tài nguyên không tái tạo, điều chỉnh các dòng
vật chất và năng lượng, điều chỉnh và phục hồi các quần thể và quần xã (thực vật và
động vật), chức năng tâm lý, chức năng thông tin và chức năng sinh thái nhân văn.
13

- Chức năng bậc 3 (chức năng phụ): gồm các chức năng cụ thể như cung cấp
sản phẩm từ sinh khối (thích hợp với canh tác), cung cấp chất dinh dưỡng và vật
liệu xây dựng, bảo tồn nguồn gen, hoặc chức năng lọc và đệm (các ảnh hưởng hóa
học-đất/nước/không khí),
Một hệ thống phân chia chức năng cảnh quan được de Groot (1992), sau đó
Costanza (1997) và de Groot (2002) bổ sung, áp dụng chủ yếu cho các cảnh quan tự
nhiên và bán tự nhiên. Trong hệ thống này, chức năng cảnh quan được chia thành 5
nhóm:
- Chức năng điều tiết: bao gồm điều hòa không khí, điều hòa khí hậu, ngăn
ngừa xáo động, điều hòa môi trường nước, cung cấp nước, bảo vệ đất, hình thành
đất, điều tiết chất dinh dưỡng, xử lý chất thải, thụ phấn, điều khiển sinh học. nhóm
chức năng này liên quan tới khả năng điều chỉnh các quá trình của hệ sinh thái thiết
yếu và các hệ thống phục vụ đời sống thông qua chu trình sinh địa hóa và dòng
năng lượng. Đồng thời, nó cho phép duy trì năng lực của cảnh quan ở các quy mô
khác nhau. Ở quy mô toàn cầu, chức năng này cho phép cung cấp và duy trì các
điều kiện cần thiết cho sự sống trên Trái Đất. Trong nhiều trường hợp, chức năng
điều tiết cung cấp các điều kiện tiên quyết cho tất cả các chức năng khác. Về mặt lý
thuyết, số lượng chức năng điều tiết không giới hạn. Tuy nhiên, trong một số trường
hợp cụ thể, ví dụ quy hoạch cảnh quan, chỉ có một số chức năng cung cấp dịch vụ
mới được quan tâm.
- Chức năng nơi sống: chức năng này cho phép các cảnh quan tự nhiên và

dựa trên Công ước Cảnh quan châu Âu (European Landscape Convention) của Hội
đồng châu Âu (2000, 2007).
Do cảnh quan là một đơn vị cấu trúc đặc thù, nên tính đa chức năng của cảnh
quan phải được xác định gián tiếp dựa trên tính đa chức năng của các đơn vị chức
năng cơ bản trong cảnh quan. Hiện nay, ở Châu Âu có 2 hướng tiếp cận xác định
tính đa chức năng của cảnh quan:
- Tính tổng đa chức năng của hệ sinh thái
- Tính tổng đa chức năng của đơn vị đất đai.
15

Có nhiều chức năng cảnh quan cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Các chức năng
có thể cùng tồn tại trong một cảnh quan và các hệ sinh thái trong cảnh quan đó, hình
thành đặc tính ”đa chức năng”. Do đó, cảnh quan có thể cung cấp các hàng hóa và
dịch vụ cho nhiều mục đích kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường khác nhau, thông
qua tích hợp không gian trong sử dụng đất và các hoạt động phát triển của con
người. Nhìn chung, đa chức năng là đặc tính mong muốn, cho phép sử dụng hiệu
quả cảnh quan. Ví dụ, tại châu Âu, diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 80%
tổng diện tích đất tự nhiên. Do các cảnh quan nông thôn chứa đựng các chức năng
cảnh quan khác nhau, chẳng hạn như chức năng sản xuất nông nghiệp và văn hóa,
không gian của chúng vẫn có thể được sử dụng cho nhiều mục đích hơn là chỉ cho
mục đích sản xuất nông nghiệp (Công ước Cảnh quan châu Âu, 2007).
1.2.2. Lý luận về tài nguyên và sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước
a) Tài nguyên đất và cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý tài nguyên nước
Đất trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bề mặt Trái Đất, có khả
năng hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và là nơi sống của động vật. Cho tới nay đã
có nhiều định nghĩa về đất nhưng định nghĩa của nhà thổ nhưỡng học người Nga,
V.V. Dokutraev, là được sửa dụng rộng rãi nhất. Dokutraev cho rằng ”Đất là một
thực thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động của 5
yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian”. Đất được coi là khác
biệt với đá. Theo ông, đất có thể được gọi là các tầng trên nhất của đá không phụ

- Sử dụng đất đảm bảo vấn đề môi trường: Đất đai là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống. Mọi hoạt động của con người đều tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp đến môi trường sống. Vì vậy khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng,
phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng phải tính toán đầy đủ đến các yếu tố kinh
tế - xã hội có liên quan đến môi trường và nơi sống.

17

b) Tài nguyên nước và cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý tài nguyên nước
Tài nguyên nước là lượng nước trên một vùng đã cho hoặc lưu vực, biểu diễn
ở dạng nước trên một vùng đã cho hoặc lưu vực, biểu diễn ở dạng nước có thể khai
thác(nước mặt và nước ngầm). Nước là tài nguyên tái tạo được sau một thời gian
nhất định được dùng lại. Trong cơ thể sống nước chiếm tỷ lệ lớn, 70% khối lượng
cơ thể con người trưởng thành. Nước tác động trực tiếp đến thạch quyển. Nước có
một vai trò rất quan trọng là yếu tố chủ yếu trong hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của
mọi sự sống trên Trái Đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế của con người. Tài
nguyên nước là một trong bốn nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế xã hội, là đối
tượng lao động và một yếu tố cấu thành trong lực lượng sản xuất. Con người mỗi
ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và
2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống
trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người. Ðể sản xuất 1 tấn giấy
cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng
lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực
hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của con
người và mọi sinh vật trên Trái Đất phụ thuộc vào nước.Tài nguyên nước ở trên thế
giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km
3
, tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35
tỷ km

phân phối, đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước. Tăng cường công tác
hướng dẫn, tuyên truyền luật tài nguyên nước. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm
tra, xử lý kịp thời các nguồn gây ô nhiễm tài nguyên nước.
Hiện nay đã có hàng loạt những điều kiện thuận lợi khi Nhà nước đã ban
hành các chính sách, pháp chế và quản lý nước thích hợp: Đây là biện pháp mang
tính chất pháp lý, thiết chế và hành chính để áp dụng cho việc sử dụng và phân phối
tài nguyên nước, đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước, cụ thể:
1) Nhà nước sớm ban hành đầy đủ đồng bộ những văn bản dưới Luật hướng
dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường và các Luật có liên quan đến Tài nguyên
nước.
2) Nhà nước sớm sửa đổi Luật Tài nguyên nước cho phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế xã hội hiện nay (đã bộc lộ một số điều bất cập) và các văn bản
dưới Luật.
3) Nhà nước sớm tập trung thống nhất cơ quan quản lý Tài nguyên nước
thông suốt từ Trung ương đến Địa phương và sớm thành lập các Tổ chức quản lý
19

lưu vực sông thích hợp với nhiệm vụ chức năng rõ ràng, hoạt động có hiệu quả thực
sự do “người trong lưu vực sông” tự quản lý có sự hỗ trợ của Trung ương.
4) Nhà nước nên có cơ chế, chính sách để người dân, các tổ chức cộng động
tham gia thực sự bảo vệ Tài nguyên nước, bảo vệ môi trường nước, tạo điều kiện
cho người dân tham gia ngay từ khi lập quy hoạch xây dựng đến khai thác sử dụng
và bảo vệ.
5) Nhà nước sớm ban hành văn bản quy định từng bước đảm bảo đủ dòng
chảy môi trường cho các con sông để con sông thực sự được sống, khoẻ và lành
mạnh làm cơ sở cho phát triển bền vững tài nguyên nước.
1.2.3. Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước dựa trên phân tích
cấu trúc và chức năng cảnh quan
Cấu trúc cảnh quan là kết quả của mối quan hệ tương tác phức tạp do các tác
nhân tự nhiên và kinh tế, chính trị, xã hội. Hầu hết các cảnh quan trên Trái Đất đều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status