ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THU HƢƠNG
NHẬN DIỆN NHỮNG YẾU TỐ CẢN TRỞ
VIỆC THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ,
TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN
THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2011
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
Tiểu kết chƣơng 1 41
CHƢƠNG 2. QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SANG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ
CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN THEO NGHỊ ĐỊNH
115/2005/NĐ-CP 42
2.1. Những quy định về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động KH&CN 42
2.1.1. Tiến trình cải cách chính sách KH&CN 42
2.1.2. Quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức
KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP 46
2.2. Khảo sát việc thực hiện Nghị định 115 của các tổ chức KH&CN 52
2.3. Những yếu tố cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của tổ chức R&D theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP 54
2.3.1. Khảo sát những khó khăn của các tổ chức KH&CN trong quá trình
chuyển đổi 54
2.3.2. Nguyên nhân thất bại của Nghị định 115 65
2.3.3. Dự báo kết quả chuyển đổi hệ thống KH&CN công lập 72
Tiểu kết chƣơng 2 75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 84
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. Định nghĩa và bản chất của tập trung hóa và tự chủ 38
Bảng 2. Danh mục các văn bản liên quan đến Nghị định 115/2005/NĐ-CP 50 4
DANH MỤC CÁC HÌNH
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Ngày nay, Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đóng vai trò rất quan trọng
trong phát triển. Bài học của các nƣớc phát triển đã chỉ rõ: KH&CN là chìa khóa
để phát triển kinh tế đất nƣớc. Là một nƣớc “đi sau”, Việt Nam cũng đang nhận
thức rõ vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế đất nƣớc.
Đảng và Nhà nƣớc luôn chú trọng phát triển KH&CN. Các chính sách của
Đảng và Nhà nƣớc luôn thể hiện mối quan tâm hàng đầu dành cho KH&CN. Đại
hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: Phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để phát triển
KH&CN, phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc.
Ngày 09.05.2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP (sau
đây gọi tắt là Nghị định 115) về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ
chức KH&CN công lập. Theo tinh thần của Nghị định, từ ngày 31.12.2009, các
tổ chức KH&CN công lập đƣợc hoàn toàn tự chủ và Nhà nƣớc sẽ không cung
cấp ngân sách theo kiểu bao cấp nhƣ trƣớc đây nữa.
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm đƣợc xem là chía khóa để phát triển KH&CN.
Nếu nhƣ trong lĩnh vực kinh tế, sự chuyển đổi từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị
trƣờng đang giải phóng và phát huy mọi tiềm năng của nền kinh tế của đất nƣớc,
thí cũng tƣơng tự nhƣ vậy, trong lĩnh vực KH&CN, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
đƣợc xem là chìa khóa giải phóng nguồn lực để phát triển KH&CN. Tuy nhiên,
sự chuyển đổi trong lĩnh vực này diễn ra chậm hơn so với các lĩnh vực khác của
nền kinh tế, và bƣớc đầu đang gặp phải rất nhiều vƣớng mắc.
Đến nay, Nghị định 115 về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa
học và công nghệ công lập đã ra đời đƣợc hơn 6 năm. Tuy nhiên, kết quả thực
chính là (i) giải pháp đối với nhà nƣớc; (ii) giải pháp đối với Viện KH&CN Việt
Nam và các viện chuyên ngành; và (iii) giải pháp đối với đơn vị 35.
8
Đối với nhà nước, tác giả đề xuất cần tổng kết, đánh giá đối với các tổ chức
này, trên cơ sở đó bổ sung, điều chỉnh các văn bản hƣớng dẫn thực hiện, và thúc
đẩy quá trình thực hiện quyền tự chủ.
Đối với Viện KH&CN Việt Nam và các Viện chuyên ngành, cần nghiên cứu
ứng dụng, triển khai công nghệ, nghiên cứu chế tạo các sản phẩm nhằm đẩy
mạnh thƣơng mại hoá kết quả nghiên cứu, tạo điều kiện để cán bộ khoa học
tham gia các đề tài, nhiệm vụ khoa học giữa các đơn vị, tạo sự gắn kết giữa bộ
phận nghiên cứu với các đơn vị triển khai, và từ đó, thực hiện tự chủ, tự chịu
trách nhiệm.
Đối với đơn vị 35: cần tự đánh giá hoạt động của mính để tím đƣợc hƣớng
đi phù hợp.
2. Luận văn “Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với
quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu – triển khai thuộc Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Nghị định 35/HĐBT và Nghị
định 115/2005/NĐ-CP)” của tác giả Phạm Tuấn Huy:
Luận văn đã nghiên cứu tác động của chình sách khoa học và công nghệ
đối với quá trính tự chủ của các viện nghiên cứu – triển khai thuộc Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam.
Các viện NC-TK thuộc VKH&CNVN đã chuyển hƣớng từ nghiên cứu cơ
bản thuần tuý sang nghiên cứu cơ bản định hƣớng, nghiên cứu ứng dụng và triển
khai công nghệ. Môi trƣờng hoạt động của các viện NC-TK thuộc
VKH&CNVN đƣợc dân chủ hoá và xã hội hoá.
Lao động hợp đồng trong các viện NC-TK thuộc VKH&CNVN, đặc biệt
trong nhóm viện triển khai công nghệ ngày càng tăng.
Các viện NC-TK thuộc VKH&CNVN đã đƣợc phân cấp triệt để (Nghị định
115/2005/NĐ-CP), đƣợc giao quyền tự chủ cao về các mặt tổ chức, biên chế, tài
chƣa hính thành trong cuộc sống.
10
Khả năng ứng dụng trong thực tiễn của luận văn: Việc đánh giá tác động
của chình sách KH&CN đã ban hành cụ thể là Nghị định 35/HĐBT và Nghị
định 115/2005/NĐ-CP đối với các viện NC-TK thuộc VKH&CNVN cho thấy để
tạo lập các điều kiện cho các viện NC-TK thuộc VKH&CNVN thực hiện tự chủ,
tự chịu trách nhiệm là tạo ra những giải pháp khắc phục những tác động âm tình
của những chình sách trên đối với các viện NC-TK thuộc VKH&CNVN trong
quá trính: tự chủ xác định nhiệm vụ và mở rộng chức năng hoạt động; tự chủ về
tổ chức, liên doanh, liên kết; tự chủ về tài chình; tự chủ nguồn tìn dụng ngân
hàng; tự chủ lao động; tự chủ về hợp tác quốc tế; tự chủ trong xây dựng quyền
đánh giá.
Nhƣ vậy, giải pháp chình sách thúc đẩy quá trính tự chủ của các viện NC-
TK thuộc VKH&CNVN cần tập trung xây dựng năng lực tự chủ và tinh thần tự
chủ chủ, từ đó tạo quyền tự chủ cho các viện này. Mặt khác, các giải pháp chình
sách để tăng quyền, năng lực và tinh thần tự chủ cho các viện NC-TK thuộc
VKH&CNVN không thể tiến hành riêng rẽ, độc lập mà phải tiến hành đồng bộ.
Những hƣớng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề xuất hƣớng nghiên cứu cần
tiếp tục trong thời gian tới là: Tiếp tục nghiên cứu luận chứng cho việc xây dựng
những chình sách mới tạo cân bằng giữa tự chủ và tự chịu trách nhiệm, tập trung
xây dựng năng lực tự chủ cho các viện NC-TK thuộc VKH&CNVN kết hợp với
tạo lập quyền tự chủ, và tinh thần tự chủ, để xây dựng các viện này trở thành
thực thể tự chủ thực sự.
3. Luận văn “Tái cấu trúc hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai ở
Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)”
của tác giả Phạm Thị Bìch Ngọc:
Luận văn đã thu thập các thông tin, nghiên cứu kĩ về thực trạng hiện nay
của các viện nghiên cứu và triển khai, thấy đƣợc khó khăn các viện đang gặp
phải cũng các thế mạnh và tiềm năng của các viện trong công tác đào tạo. Luận
số nét chung về tiềm lực KHCN Việt Nam để thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của
12
hệ thống này khi thực thi tự chủ.
Đề ra một số giải pháp một số giải pháp để hoàn thiện thiết chế tự chủ đối
với tổ chức KHCN, tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nƣớc, tập trung vào 2
nhóm giải pháp chình và 5 nội dung lớn đƣợc đề cập. Cụ thể: - Về giải pháp vĩ
mô: đề cập tới xây dựng và ban hành khung chình sách cho KHCN bao gồm hệ
thống đổi mới quốc gia (NIS), Chiến lƣợc KHCN đến 2020; hoàn thiện hệ thống
pháp luật về thiết chế tự chủ của tổ chức KHCN, tổ chức R-D có sử dụng ngân
sách nhà nƣớc theo hƣớng đồng bộ. Về giải pháp vi mô: tập trung vào 5 nhóm
vấn đề: Xây dựng hệ thống tiêu chì phân loại các tổ chức R-D để trên cơ sở đó
quy định quyền tự chủ của các tổ chức này; tiêu chì đánh giá hiệu quả hoạt động
của tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nƣớc theo chuẩn khu vực và quốc tế.
Về mặt luật pháp: Tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền tự chủ trong hoạt
động KHCN theo hƣớng cụ thể hoá, bảo đảm tình khả thi. Về nguồn nhân lực:
Nâng cao trính độ, kiến thức kinh tế của cán bộ làm nghiên cứu công nghệ; lãnh
đạo các cơ quan nghiên cứu. Về cơ chế chình sách: Hoàn thiện cơ chế tài chình
tạo động lực cho hoạt động KHCN, đổi mới cơ chế, chình sách đầu tƣ tài chình
cho hoạt động KHCN, khuyến khìch các doanh nghiệp đầu tƣ đổi mới công
nghệ. Về tổ chức: Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lì nhà nƣớc về
KHCN d) Rút ra đƣợc một số kết luận và khuyến nghị
5. Luận văn “Điều kiện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
theo Nghị định 115/CP của Chính phủ đối với các tổ chức khoa học và công
nghệ công lập hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp các Trung tâm Ứng dụng
Tiến bộ KH&CN các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long)” của tác giả Đỗ Mạnh
Thƣờng:
Việc thực hiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo tinh
thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP của các tổ chức KH&CN công lập đã mở ra
nhiều cơ hội, song cũng gặp không ìt những thách thức và trở ngại. Nhiều tổ
còn thiếu nhiều điều kiện, trong đó điều kiện quan trọng không thể thiếu nhƣ đã
14
trính bày ở trên. Những điều kiện này phải là những điều kiện mà chình Nhà
nƣớc phải mở ra cho các tổ chức KH&CN.
6. Luận văn “Điều kiện để các tổ chức nghiên cứu và triển khai của Nhà
nước có năng lực tự chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ” của tác giả
Đinh Việt Bách:
Luận văn đánh giá thực tế các điều kiện và năng lực tự chủ của các tổ chức
nghiên cứu và triển khai (NC&TK) của Nhà nƣớc, qua đó đề xuất một số giải
pháp tạo điều kiện cho các tổ chức nghiên cứu và triển khai của Nhà nƣớc có
năng lực tự chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN).
Đối với nhà nước, sáu giải pháp khuyến nghị bao gồm: (i) Tăng cƣờng
nguồn tài chình để đầu tƣ cho KH&CN, phấn đấu dành 2%GDP để đầu tƣ cho
KH&CN hằng năm; (ii) Hoàn thiện khung khổ pháp lì, nhằm bảo đảm cho mọi
hoạt động kinh tế – xã hội phù hợp với quy luật vận hành của nền kinh tế thị
trƣờng; (iii) Ban hành các chình sách khuyến khìch các tổ chức, cá nhân tự đề
xuất các nhiệm vụ KHC&CN để Nhà nƣớc cấp kinh phì thực hiện; (iv) Thay đổi
mới cơ chế quản lì các tổ chức NC&TK của Nhà nƣớc theo hƣớng: Nhà nƣớc
không nên quản lì các tổ chức NC&TK nhƣ đối với các tổ chức sự nghiệp của
nhà nƣớc và không nên quản lì cán bộ KH&CN nhƣ đối với quản lì viên chức
nhà nƣớc; (v) Thay đổi cơ chế cấp phát tài chình trong hoạt động KH&CN theo
biên chế nhƣ hiện này bằng việc cấp kinh phì theo nhiệm vụ KH&CN; (vi) Hoàn
thiện hành lang pháp lì để thúc đẩy phát triển các quỹ đầu tƣ mạo hiểm, thu hút
sự tham gia của các tổng công ti, tập đoàn lớn vào hoạt động đầu tƣ mạo hiểm.
Đối với các tổ chức nghiên cứu và triển khai, tác giả luận văn khuyến nghị
cần xây dựng và thực hiện các chình sách ƣu đãi, trọng dụng, sử dụng cán bộ
KH&CN và huy động thêm nhiều nguồn tài chình (ngoài nguồn ngân sách nhà
nƣớc) để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN.
15
xuyên theo chức năng; (3) Khó khăn do không phải mọi kết quả R&D trong lĩnh
vực NLNT đều có thể thƣơng mại hoá, đặc biệt là ở Việt Nam.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu lì luận và khảo sát, quan sát thực tiễn,
luận văn đã đề xuất những giải pháp thúc đẩy tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các tổ chức R&D ngành NLNT, gồm: 1) Phân tìch và đề xuất biện pháp áp dụng
khoản 1 Điều 7 sửa đổi, bổ sung có tình đến đặc thù của KH&CN hạt nhân; 2)
Thúc đẩy thƣơng mại hoá các sản phẩm KH&CN; 3) Tăng cƣờng đầu tƣ cơ sở
vật chất – kĩ thuật; 4) Hính thành vốn lƣu động; 5) Đổi mới tổ chức và quản lì;
6) Xây dựng lộ trính chuyển đổi phù hợp và 7) Đa dạng hoá hính thức chuyển
đổi.
Tác giả cũng đánh giá các giải pháp đề xuất trong luận văn, mặc dù đã nhận
đƣợc các ý kiến đánh giá của lãnh đạo các đơn vị R&D thuộc ngành NLNT Việt
Nam, song chắc chắn còn mang ý kiến chủ quan của ngƣời viết, hi vọng sẽ là
những tham khảo tốt trong quá trính thúc đẩy tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các tổ chức R&D ngành NLNT. Nét mới nổi bật của luận văn là đã đề xuất giải
pháp đa dạng hoá hính thức chuyển đổi. Tác giả cũng khuyến nghị rằng xây
dựng tự chủ, tự chịu trách nhiệm là một quá trính, có tình chất động thái, nên
cần tiếp tục có những nhận biết và tác động cho tới khi tạo ra đƣợc những biến
đổi xã hội của các tổ chức R&D ngành NLNT nói riêng và hệ thống các tổ chức
KH&CN nói chung.
Nhƣ vậy, sau khi xem xét lịch sử nghiên cứu về chủ đề Nghị định 115, có
thể đƣa ra một số nhận xét nhƣ sau:
Thứ nhất, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN nói chung, Nghị
định 115 nói riêng, là những nội dung đang đƣợc quan tâm, xuất hiện thƣờng
xuyên trên các diễn đàn về khoa học và công nghệ của Việt Nam. Tuy nhiên, sự
quan tâm nói trên mới chỉ dừng lại ở mức độ các bài tin tức, sự kiện, trao đổi,
thảo luận… Xét về các công trình nghiên cứu, có thể nói, cho đến hiện nay, có
rất ít nội dung trong các công trình nghiên cứu có liên quan bàn về bản chất của
17
Cơ chế hoạt động của tổ chức KH&CN
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các tổ chức KH&CN
Các quy định của nhà nƣớc về quản lý hoạt động của tổ chức KH&CN
5. Phạm vi nghiên cứu và mẫu khảo sát
5.1. Phạm vi nghiên cứu
· Phạm vi thời gian: diễn biến sự kiện đƣợc giới hạn từ năm 1986 đến nay
(tháng 3/2011)
· Phạm vi nội dung: nghiên cứu về việc chuyển đổi hình thức hoạt động của
các tổ chức KH&CN
5.2. Mẫu khảo sát
Khảo sát một số Viện nghiên cứu và Trung tâm KH&CN ở Việt Nam nhƣ:
Viện KH&CN Mỏ, Viện KH&CN GTVT, Viện Công nghệ, Viện Công nghệ
sinh học, Viện Công nghiệp thực phẩm, Viện Khoa học Đo đạc Bản đồ, Trung
tâm Giống gia cầm Thụy Phƣơng, Trung tâm Thông tin KH&CN…
6. Vấn đề nghiên cứu
1. Bản chất của tính "tự chủ tự chịu trách nhiệm" của tổ chức KH&CN?
2. Những yếu tố nào cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115?
7. Giả thuyết nghiên cứu
1. Bản chất của tính "tự chủ tự chịu trách nhiệm" của tổ chức KH&CN?
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực chất là “autonomy” trong tổ chức
KH&CN ở các nƣớc có nền khoa học phát triển. Nghĩa là, tổ chức KH&CN
đƣợc toàn quyền quyết định các hoạt động của mình (chọn đề tài nghiên cứu,
19
chính sách nhân lực, chình sách tài chình…)
2. Những yếu tố nào cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115?
Nghị định 115 đƣa ra một thiết chế không đồng bộ, là nguyên nhân khiến
Việc thực hiện Nghị định 115 của các tổ chức KH&CN
Thái độ, phản ứng của nhà nghiên cứu trong các tổ chức KH&CN đối
với việc chuyển đổi hình thức hoạt động của tổ chức KH&CN
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng
chính có kết cấu nhƣ sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ
chức KH&CN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2. Cơ sở lý luận nghiên cứu cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của tổ chức
KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Chương 2. Quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP
2.1. Những quy định về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động KH&CN
2.2. Khảo sát việc thực hiện Nghị định 115 của các tổ chức KH&CN
2.3. Những yếu tố cản trở việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của tổ chức R&D theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP
21
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ TỰ
CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KH&CN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Mặc dù tự chủ không thƣờng xuyên đƣợc coi là một biến cấu trúc trong
các nghiên cứu về tổ chức nhƣng dần dần các nghiên cứu trong một vài thập
niên trở lại đây đã phần nào phản ánh yếu tố này.
Năm 1958, William R. Dill công bố một nghiên cứu về hai doanh nghiệp
của Na Uy trên Tạp chí Quản trị Khoa học. Bài viết có tên “Môi trƣờng với
vai trò một tác nhân đối với tự chủ quản lý”. Trong nghiên cứu của ông, mức
Năm 1980, ba tác giả Osborn, R. N., J. Hunt, và L. Jauch công bố ấn
phẩm “Lý thuyết tổ chức: Một cách tiếp cận tích hợp”. Trong nghiên cứu của
mình, các tác giả đã kết luận rằng mức độ tự chủ thấp thƣờng gắn với đời
sống lao động chất lƣợng thấp, mặc dù điều này còn phụ thuộc vào từng cá
nhân khác nhau.
Năm 1991, trong cuốn Các tổ chức: Cấu trúc, Quy trình, và Đầu ra,
Hall, R. H. đã bàn về tự chủ của tổ chức. Tƣơng tự nhƣ đối với cá nhân, cũng
có thể xem xét tính tự chủ đối với một tổ chức. Ý tƣởng này đặc biệt phù hợp
với các tổ chức mà trong đó bao gồm các bộ phận nhỏ, là thành viên của tổ
chức lớn hơn, vì dụ nhƣ các công ty thuộc một tập đoàn kinh tế, hay một bộ
phân quốc gia của các tổ chức đa quốc gia.
Năm 1991, Datta, D. K., J. Grant, và N. Rajagopalan, trong nghiên cứu
“Xung khắc trong quản lý và lợi ích của tự chủ: Các tác động đến kết quả hoạt
23
động”, đăng trên Tạp chí Quản trị chiến lƣợc, định nghĩa tự chủ của tổ chức là
tự do hàng ngày trong quản lý.
Hai tác giả Harris và Holden (trong nghiên cứu về tự chủ và kiểm soát
năm 2001), cũng nhƣ Darr (trong nghiên cứu Kiểm soát và tự chủ đối với
nhân viên kinh doanh, năm 2003), đều xem xét tự chủ và kiểm soát cùng với
nhau, coi hai yếu tố này là những lực đối cực của tổ chức.
Trong nghiên cứu “Những yếu tố quyết định đến xung đột của các tổ
chức quốc tế trong việc thƣơng thuyết hợp tác trong khu vực công”, đăng trên
Tạp chí Quản trị Khoa học, năm 1975, Kochan và các nhà nghiên cứu khác đã
phát hiện ra rằng các tổ chức trong khu vực công có mức độ tự chủ thấp đƣợc
đặc trƣng bởi mức độ phụ thuộc lẫn nhau cao giữa các bộ phận. Nhóm tác giả
cũng nhận thấy các nhà quản lý có xu hƣớng tập trung hóa việc ra quyết định
trong những bối cảnh nhƣ thế.
Những nghiên cứu về tự chủ trong các bộ phận khác nhau của các tập
đoàn đa quốc gia cũng đem lại nhiều kết quả, thƣờng đƣợc tiếp cận bằng câu