Phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM HỒNG LUYÊN

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN TỈNH
NAM ĐỊNH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Xã hội Khoa học

6 quyển – XB 16

HÀ NỘI – 2014

HÀ NỘI – 2014 Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn.
Các số liệu, và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
không trùng lặp với các đề tài khác.
Hà nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Luyên

Danh Mục chữ viết tắt

CNH : Công nghiệp hóa

1.2.2. Vai trò của đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 35
Chương 2: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÔNG
NHÂN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 42
2.1 Thực trạng phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 42
2.1.1. Thành tựu và nguyên nhân phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Nam
Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 42 2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân trong phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Nam
Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 52
2.2 Một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Nam
Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 63
2.2.1. Phát triển sản xuất theo hướng hiện đại nhằm tạo môi trường thuận
lợi cho sự phát triển và phát huy vai trò của đội ngũ công nhân 63
2.2.2. Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ
học vấn, nghề nghiệp, tư tưởng, chính trị, đạo đức và xây dựng lối sống văn hóa cho
đội ngũ công nhân, và không ngừng trí thức hóa công nhân 64
2.2.3. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng và năng lực hoạt động
của các tổ chức đoàn thể trong các cơ sở sản xuất công nghiệp 69
2.2.4. Thực hiện tốt một số chính sách xã hội liên quan trực tiếp tới đội ngũ
công nhân 73
C. KẾT LUẬN 87
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 1
A. MỞ ĐẦU

thấp; cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp
chưa cao; kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế. Đa số công nhân của tỉnh xuất
thân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống, khả năng ứng
dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện đại vào sản xuất còn hạn chế. Giác ngộ
giai cấp và bản lĩnh chính trị chưa đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp
luật còn nhiều hạn chế. Thực trạng đó đòi hỏi phải từng bước khắc phục nhằm
phát triển số lượng và nâng cao chất lượng của đội ngũ công nhân Nam Định
để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Chính vì những lý do đó, tác giả chọn vấn đề: “Phát triển đội ngũ công
nhân tỉnh Nam Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn.
Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam, giai cấp công nhân là vấn đề lý
luận ngày càng thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là sự soi xét của lý luận vào thực tiễn
phát triển mới của giai cấp công nhân. Kết quả là sự ra đời của nhiều các công
trình khoa học đã trình bày một cách cơ bản, hệ thống quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giai cấp công nhân,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam
hoặc trên địa bàn một số tỉnh cụ thể trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; trên cơ sở đó đề xuất mục tiêu và những giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển và phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp
đẩy mạnh công nghiệp hóa.
Thứ nhất, các công trình khoa học bàn chung về GCCN trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước
- Cao Văn Lượng (chủ biên), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát
triển giai cấp công nhân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001: Tác phẩm
khái quát một số vấn đề lý luận về GCCN, sự phát triển và biến đổi sâu sắc về

4
quốc tế. Do vậy, xây dựng GCCN Việt Nam lớn mạnh là một nhiệm vụ quan
trọng và cấp bách.
- Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Viết Thông, Bùi Đình Bôn (chủ biên), “Một
số vấn đề lý luận về GCCN Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, đẩy
mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2012. Cuốn
sách đề cập tới xu hướng phát triển của GCCN trong thời kỳ CNH, HĐH và
hội nhập quốc tế. Mối quan hệ giữa GCCN với các giai cấp, tầng lớp khác
trong xă hội, đặc biệt là trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức; Vai trò làm chủ của GCCN, quan hệ giữa người sử dụng lao
động và người lao động; Tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng, Công đoàn,
Đoàn Thanh niên trong các loại hình doanh nghiệp; những âm mưu thủ đoạn
“diễn biến hòa bình” và tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch đối
với GCCN; cuối cùng là giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy, nâng cao chất
lượng nghiên cứu, phát triển lý luận về GCCN Việt Nam trong thời gian tới.
Thứ hai, các công trình khoa học bàn về phát huy vai trò của GCCN
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
- Viện Công nhân và Công đoàn, “Một số vấn đề cơ bản về xây dựng và
phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2004. Cuốn sách đã đề cập tới những vấn
đề cơ bản trong việc xây dựng GCCN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Đồng thời, tác giả cũng đưa ra được một số biện pháp để phát huy vai trò của
GCCN thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
- Dương Văn Sao“Xây dựng, phát huy vai trò GCCN, nhân tố quyết
định thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH” (2007), Tạp chí Lao động và
Công đoàn số 376, tháng 3 (kỳ 2) - 2007. Tác giả đã khẳng định GCCN là
nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, từ đó
đề xuất một số chủ trương, chính sách nhằm phát huy vai trò GCCN trong
giai đoạn hiện nay.

Đặng Ngọc Tùng, Hà Nội, 2010. Đây là một đề tài nghiên cứu công phu, toàn 6
diện và có những kết luận mang tính khái quát cao về GCCN Việt Nam, nhất
là trong giai đoạn hiện nay. Đề tài đã tập trung phân tích, luận giải những vấn
đề cơ bản, cốt lõi của GCCN từ khái niệm, vị trí, vai trò, thực trạng và xu
hướng biến đổi của GCCN Việt Nam giai đoạn 2010- 2020. Đề tài cũng
khẳng định cùng với thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập quốc tế, GCCN Việt Nam sẽ ngày càng trí thức hóa. Từ đó, đề tài
đã đề xuất những quan điểm, giải pháp toàn diện và có tính khả thi để Đảng
và Nhà nước xây dựng và phát huy vai trò của GCCN Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
- Nguyễn Mạnh Thắng, “Xây dựng, phát huy vai trò GCCN Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” (2011), Tạp chí Cộng sản,
tháng 9/2011. Bài viết đã chỉ ra một số những đặc điểm cũng như hạn chế của
GCCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải
pháp cơ bản trước mắt để xây dựng, phát triển GCCN Việt Nam đáp ứng yêu
cầu CNH, HĐH đất nước.
Thứ ba, các công trình khoa học bàn về xu hướng biến đổi của GCCN
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
- Viện công nhân và công đoàn – Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam, “Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm
đầu thế kỷ XXI”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001. Đây là kỷ yếu hội thảo khoa
học tập hợp các bài viết phân tích các điều kiện quy định và các yếu tố tác
động đến GCCN; từ đó dự báo những xu hướng biến động (hay biến đổi có
tính không thường xuyên) của GCCN Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI.
- Phan Thanh Khôi, “Trí thức hóa công nhân một số vấn đề lý luận và
thực tiễn; và Nội dung và chủ thể, quan điểm và giải pháp trí thức hóa công
nhân ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 323 + 324 +

công nghiệp và dịch vụ; là giai cấp góp phần rất quan trọng và không thể
thiếu vào quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN; là Lực lượng sản xuất trực tiếp và hàng đầu trong quá trình 8
đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH gắn với phát
triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế; là cơ sở xã hội- giai cấp nòng cốt
của khối đại đoàn kết toàn dân và của hệ thống chính trị. Tác giả cũng đã
phân tích những tác động của kinh tế thị trường, của quá trình CNH, HĐH
gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế theo cả hai chiều hướng
tiến bộ và thoái bộ đến việc thực hiện vai trò của GCCN. Trên cơ sở đó tác
giả dự báo về xu hướng biến đổi của GCCN trong thời gian tới để từ đó có
những quan điểm và giải pháp thúc đẩy vai trò của GCCN theo chiều hướng
tiến bộ.
- Văn Tạo,“Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân- kinh tế tri thức và
công nhân tri thức”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Đây là một công
trình nghiên cứu khá sâu sắc về GCCN và đội ngũ công nhân tri thức. Tác giả
đã hệ thống hóa những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, của các chuyên gia đầu ngành về GCCN.
Tác giả chỉ ra rằng cùng với sự nghiệp đổi mới cần phải đổi mới tư duy về
GCCN, cần đặt vấn đề công nhân trong phạm trù dân tộc và nhìn nhận theo
quan điểm lịch sử; cần coi trọng vị trí và vai trò của GCCN với tư cách là Lực
lượng sản xuất của xã hội; cần khẳng định những yếu tố bất biến trong định
nghĩa về giai GCCN, đồng thời coi trọng tìm ra những yếu tố khả biến cần thay
đổi, bổ sung… từ đó tác giả đi tới một định nghĩa mới về GCCN Việt Nam.
Tác giả đã dành một phần rất quan trọng của cuốn sách để phân tích, làm
rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế tri thức và công nhân tri thức. Tác giả
chỉ ra rằng kinh tế tri thức đã bắt đầu hình thành ở Bắc Mỹ, Nhật Bản và một
số nước Tây Âu. Ở Việt Nam cũng đã xuất hiện một số yếu tố ban đầu của

quan điểm và giải pháp để phát triển công nhân trí thức ở thành phố Hồ Chí
Minh thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Tất cả các công trình khoa học trên làm tiền đề để tác giả kế thừa. Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu vào nghiên cứu về
việc phát triển đội ngũ công nhân ở Nam Định trong sự nghiệp đẩy mạnh 10
CNH, HĐH đất nước trên phương diện chính trị, xã hội để từ đó đưa ra những
giải pháp thích hợp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của GCCN trong việc thúc
đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội theo hướng đẩy mạnh CNH,HĐH trên địa bàn
tỉnh Nam Định.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận - thực tiễn về giai cấp công nhân với sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luận văn đánh giá thực trạng
và đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ công nhân
tỉnh Nam Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận - thực tiễn về giai cấp công nhân với sự nghiệp đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm tiếp tục phát
triển đội ngũ công nhân tỉnh Nam Định trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng về giai cấp công nhân,
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

cứu, giảng dạy những chuyên đề lý luận chính trị có liên quan tại trường
chính trị và các cơ sở đào tạo của tỉnh Nam Định.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu giảng dạy, học tập tại trường chính trị và các cơ sở đào tạo, các cơ quan,
tổ chức làm công tác tuyên giáo, công đoàn, dân vận trong tỉnh Nam Định. Nó 12
cũng là cơ sở góp phần đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng đội ngũ công
nhân trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH ở tỉnh Nam Định
8. Kết cấu nội dung
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết
cấu gồm 2 chương 4 tiết.
13
B. NỘI DUNG
Chương 1: ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Khái quát về giai cấp công nhân và công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Quan niệm về giai cấp công nhân .
Một là, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân
Khái niệm giai cấp công nhân:
Khái niệm giai cấp công nhân đã được đề cập và luận bàn ngay khi giai
cấp công nhân xuất hiện trên vũ đài chính trị. Tuy vậy, quan niệm về giai cấp
công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn hàm chứa tính khách quan và khoa
học hơn cả bởi dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận biện chứng
duy vật. Trong nhiều tác phẩm của mình, C.Mác (1818-1883) và Ph.Ăngghen

trong những văn cảnh cụ thể của một khái niệm: “Giai cấp công nhân” với sự
thống nhất về bản chất: lực lượng lao động trong nền sản xuất công nghiệp
hiện đại.C.Mác, Ph.Ăngghen phân biệt giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử
thế giới và bản chất cách mạng với bộ phận công nhân đã bị tha hóa, đánh mất
mình bằng những thuật ngữ đối ngược nhau: giữa một bên là “giai cấp vô sản
cách mạng” với một bên là “tầng lớp vô sản lưu manh” mất gốc, những phần
tử cặn bã của xã hội; đồng thời để phân biệt giai cấp công nhân cách mạng
với bộ phận công nhân đã khuất phục, trở thành công cụ từ bên trong, mưu
toan kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật tự
của “chủ nghĩa tư bản” vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư
tưởng tư sản và tiểu tư sản thao túng, các ông đã sử dụng thuật ngữ: “công
nhân quý tộc”.
Như vậy, tầng lớp vô sản lưu manh và "công nhân quý tộc" không còn
là bộ phận của giai cấp công nhân nữa mà đã trở thành một bộ phận của giai
cấp tư sản hoặc đã là tầng lớp cặn bã của xã hội. Tuy có khác nhau trong cách
gọi, cách diễn đạt, do khác nhau nhưng những thuật ngữ không giống nhau
nêu trên về khái niệm giai cấp công nhân đều được các nhà kinh điển mác xít 15
sử dụng như một khái niệm đồng nhất dựa trên hai tiêu chí cơ bản để phân
định giai cấp công nhân với các giai tầng xã hội khác là:
Vị trí của giai cấp công nhân trong lực lượng sản xuất:
Giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp
hay gián tiếp vận hành công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng
hiện đại và xã hội hóa, quốc tế hóa cao. Đây cũng là tiêu chí cơ bản để phân
biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ hay người
thợ trong công trường thủ công. Trong công trường thủ công và trong nghề
thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng
thì người công nhân phải phục tùng máy móc. Điều đó cho thấy, hai ông luôn

bất cứ một món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của
cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường [31, tr.605].Vì tiêu chí thứ hai
này nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới
chế độ tư bản chủ nghĩa, nên C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp công
nhân là giai cấp vô sản.
Từ hai tiêu chí trên, trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa
cộng sản” (1847), Ph.Ăngghen đã đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân:
Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán
sức lao động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư
bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết toàn bộ sự
sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình
cải biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc
cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp
của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX… Giai cấp vô
sản do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra [2, tr.456 - 457]. Như vậy,
mặc dù C.Mác và Ph.Ăngghen chưa nêu lên thành một định nghĩa hoàn chỉnh
về giai cấp công nhân, nhưng qua một số tác phẩm, với các cách tiếp cận khác
nhau, các ông đều đưa ra một cách khái quát nhất những đặc trưng cơ bản, 17
những thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân. Nhờ đó, chúng ta có thể dễ
dàng nhận diện được giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
Trên cơ sở kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen V.I.Lênin
(1870-1924) bổ sung thêm những thuộc tính mới của giai cấp công nhân.
Theo V.I.Lênin, sự phân chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị và sự
khác nhau của các tập đoàn người trong quan hệ đối với chế độ sở hữu tư liệu
sản xuất, trong quan hệ đối với quản lý sản xuất và trong quan hệ đối với sản phẩm.
Trong tác phẩm: “Sáng kiến vĩ đại”, V.I.Lênin đã đưa ra một định
nghĩa nổi tiếng về giai cấp, làm tiêu chuẩn để phân chia cơ cấu giai cấp - xã

nhân hiện đại trong điều kiện hiện nay.
Hai là, quan điểm của Hồ chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về giai cấp
công nhân Việt Nam
Quán triệt sâu sắc học thuyết Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước
ta chủ tịch Hồ Chí Minh tuy không đưa ra định nghĩa cụ thể về giai cấp công
nhân, song trong những bài viết, nhiều cuộc nói chuyện quan trọng, Người đã
chỉ ra những ai là công nhân, lực lượng nòng cốt trong giai cấp công nhân.
Ở Việt Nam, cùng với con đường ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh vĩ đại đã tiếp cận, tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận về giai
cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó từ chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn
cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến muốn vươn tới độc lập, tự do và
phát triển đất nước.
Theo Người, tất cả những người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức
lao động mà sống là công nhân mà chủ chốt của giai cấp ấy là những công
nhân ở các xí nghiệp như: nhà máy, hầm mỏ, xe lửa… Nhưng chỉ công nhân
công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân. Giai
cấp công nhân Việt Nam cũng mang những thuộc tính và đặc điểm cơ bản của
giai cấp công nhân thế giới bên cạnh những đặc điểm riêng biệt.
Ngày nay, trong thời kỳ đổi mới đất nước, công nhân được Đảng Cộng
sản Việt Nam xác định công nhân không chỉ là những người lao động sản 19
xuất và dịch vụ công nghiệp thuộc doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, mà
còn bao gồm những công nhân thuộc khu vực tư nhân, cá thể, hợp tác liên
doanh với nước ngoài.
Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về giai cấp công nhân Việt Nam ở một số khía cạnh sau:
- Là lực lượng lao động đã và đang trực tiếp vận hành những phương
tiện sản xuất hiện đại của xã hội, đại diện cho phương thức sản xuất mới. Họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status