Hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng thanh niên đô thị - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************************ ĐINH THỊ PHƯƠNG THẢO
HIỆU QUẢ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG THANH NIÊN ĐÔ THỊNGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC HÀ NỘI – 2006

2



HÀ NỘI – 2006 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TNĐP
Thanh niên đường phố
TNVC
Thanh niên viên chức
TNCN
Thanh niên công nhân
TNSV
Thanh niên sinh viên
PVS
Phỏng vấn sâu
TLN
Thảo luận nhóm

6
MỤC LỤC

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài


PHẦN NỘI DUNG:
HIỆU QUẢ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG THANH NIÊN ĐÔ THỊ HẢI PHÒNG

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.1. Vài nét về vấn đề nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý luận

1.2.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin về truyền thông đại chúng 7
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về truyền thông đại chúng

1.2.3. Thuyết cấu trúc chức năng của Robert Merton

1.2.4. Lý thuyết của Marx Weber về đối tượng nghiên cứu của xã hội học
về truyền thông đại chúng

1.2.5. Truyền thông đại chúng như một quá trình xã hội

1.2.6. Dư luận xã hội

1.3. Các khái niệm

1.3.1. Truyền thông

đại chúng và cơ chế lây lan thông tin trong công chúng thanh niên đô thị Hải
Phòng

2.2.1. Lựa chọn vấn đề quan tâm trên các phương tiện truyền thông đại chúng 8
2.2.1.1. Mối quan tâm về thông tin chính trị, kinh tế, xã hội

2.2.1.2. Mối quan tâm về các chương trình văn hoá, nghệ thuật, giải trí

2.2.2. Xử lý thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng và cơ
chế lây lan thông tin

2.2.3. Tác động của thông điệp được truyền trên các phương tiện truyền
thông đại chúng

2.2.3.1. Tiếp nhận thông tin liên quan đến công việc và học tập

2.2.3.2. Sự thoả mãn đối với những thông tin nhận được

2.2.3.3. Việc sử dụng thông tin nhận được

2.3. Dư luận xã hội về hoạt động của hệ thống truyền thông đại chúng công
chúng thanh niên đô thị Hải Phòng

2.3.1. Nhận diện dấu hiệu đặc trưng của một số phương tiện truyền thông

2.3.2. Ý nghĩa của thông tin từ các kênh truyền thông


cứu xã hội học về hiệu quả xã hội của hệ thống truyền thông đại chúng đối với đời
sống xã hội là một hướng nghiên cứu cơ bản, có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận
và thực tiễn.
Sau 20 năm Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới, hoạt động truyền
thông nói chung và thông tin đại chúng nói riêng, đã trưởng thành mạnh mẽ cả
về loại hình, số lượng và chất lượng, đóng góp hiệu quả vào thành tựu phát triển
kinh tế - xã hội đất nước.
Hiện nay ở nước ta đã có đủ bốn loại hình báo chí như các nước phát triển,
gồm báo in, báo hình, báo nói và báo điện tử. Số liệu cụ thể như sau [57]:
 Báo in: cả nước hiện có 553 cơ quan báo chí, trong đó có 157 báo và 396
tạp chí, khoảng hơn 1000 bản tin. Bình quân có khoảng 7,5 bản báo/ người/
năm.
 Báo hình và báo nói: Trung ương có 1 đài phát thanh, 1 đài truyền hình
quốc gia, 4 trung tâm truyền hình khu vực; ở 64 tỉnh thành phố trực thuộc Trung
ương đều có đài phát thanh - truyền hình. Cả nước có khoảng 10 triệu máy thu

10
hình, với gần 85% số hộ gia đình được xem truyền hình. Sóng phát thanh hiện
đã tới 5 châu lục và 90% lãnh thổ nước ta.
 Báo điện tử: là loại hình báo chí mới ra đời, được pháp luật quy định từ
năm 1999. Đến nay đã có trên 50 đơn vị báo điện tử và các nhà cung cấp thông
tin, có khoảng 2.500 trang Web đang hoạt động trên toàn quốc. Động thái tăng
trưởng viễn thông internet ở Việt Nam được đánh giá là cao nhất trong khu vực
ASEAN, với tốc độ bình quân là 32,5% năm.
Hệ thống báo chí ở Việt Nam hiện nay được đặt dưới sự quản lý thống nhất
của nhà nước. Các dấu hiệu về dân số - xã hội và địa lý được lấy làm cơ sở cho
hoạt động xuất bản và phát hành báo chí. Nhờ đó các tầng lớp nhân dân đều có
thể tiếp nhận thông tin từ hệ thống truyền thông đại chúng. Báo chí được xuất
bản theo:
- Dấu hiệu lãnh thổ (báo Sài Gòn giải phóng, Hải Phòng )

cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu về hiệu quả của
truyền thông đại chúng đối với công chúng thanh niên sẽ cho thấy tác động của
truyền thông đại chúng như một tác nhân tạo nên vai trò xã hội của nhóm công
chúng thanh niên. Hướng nghiên cứu này càng có ý nghĩa trong giai đoạn hiện
nay vì nó gắn liền với việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng đòi
hỏi của bối cảnh kinh tế - xã hội.
Đô thị là một kiến tạo lãnh thổ - xã hội, là nơi tập trung của một số lượng lớn
dân cư trên một lãnh thổ hạn chế. Đại bộ phận dân cư sống ở đây làm việc trong lĩnh
vực phi nông nghiệp (công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ ). Đô thị là môi trường
trực tiếp, tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội và cá nhân. Từ trong lịch
sử, các đô thị luôn giữ vai trò đầu tàu đi trên con đường phát triển tiến bộ và văn
minh. Đô thị là đầu mối tiếp nhận nhanh chóng thành tựu phát triển khoa học, công
nghệ của thế giới cũng như du nhập những trào lưu mới trong lĩnh vực văn hoá. Sự
trưởng thành của hệ thống truyền thông đại chúng cũng gắn liền với sự phát triển của
các đô thị. Trường phái Chicago nhấn mạnh vai trò của truyền thông đại chúng trong
đời sống xã hội, xem truyền thông là một quá trình tác động lẫn nhau của nhiều loại
ký hiệu biểu trưng, thông qua đó mà một nền văn hoá được xây dựng và duy trì [53].
Hoạt động giao tiếp với các phương tiện truyền thông đại chúng của công
chúng thanh niên đô thị diễn ra trong môi trường văn hoá, chính trị, kinh tế - xã
hội phát triển, đem lại điều kiện thuận lợi để tiếp nhận nguồn thông tin đa dạng

*
Như đề tà i “Sinh viên Hà Nội trong giao tiếp đại chúng” do Tạp chí Xã hội học thực hiện tháng 2/1998;
Các nghiên cứu theo đơn đặt hà ng của UNICEF như “Báo Thiếu nhi dân tộc với công chúng thiếu nhi dân
tộc”; “Nghiên cứu Hình ảnh trẻ em trên báo chí và vấn đề quyền trẻ em” do AMIC tà i trợ; Đề tà i khoa học
cấp Bộ “Công chúng thanh niên đô thị và báo chí – nghiên cứu trường hợp Hải Phòng năm 2002”

12
và phong phú về nội dung cũng như cách thức truyền tin. Lượng thông tin này
có ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống của họ và ngược lại, họ cũng có

hoạt động của hệ thống truyền thông đại chúng.

13
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của hệ thống truyền
thông đại chúng tới công chúng thanh niên đô thị.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng thông
qua hoạt động tiếp nhận thông tin đối với công chúng thanh niên đô thị trong
giao tiếp đại chúng.
- Phân tích hiệu quả sử dụng các nội dung thông điệp được truyền từ các
phương tiện truyền thông đại chúng và cơ chế lây lan thông tin trong công
chúng thanh niên đô thị.
- Phân tích hiệu quả hình thành dư luận xã hội trong công chúng thanh
niên đô thị đối với hoạt động của hệ thống truyền thông đại chúng.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu : Hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công
chúng thanh niên đô thị.
4.2. Khách thể nghiên cứu : Nhóm thanh niên đô thị Hải Phòng
4.3. Phạm vi khảo sát : Địa bàn khảo sát là thành phố Hải Phòng. Thời gian
khảo sát là năm 2002 và 2006.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Từ quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và
cơ sở hạ tầng trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, tư tưởng của Mác về vai trò
của ý thức trong đời sống xã hội, về mối liên hệ giữa truyền thông đại chúng và
dư luận xã hội được lấy làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự tác động của truyền
thông đại chúng và dư luận xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác báo chí, tuyên truyền cũng được sử
dụng làm cơ sở lý luận cho phân tích các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu.
Trên cơ sở áp dụng quan điểm lý thuyết xã hội học chuyên ngành quan

 4 phỏng vấn nhóm cho các nhóm tương ứng.
C. Luận văn sử dụng một số tư liệu thống kê, báo cáo ở địa phương để
nghiên cứu, kết hợp với phân tích các tài liệu sẵn có liên quan đến chủ đề
nghiên cứu.
Để xử lý thông tin xã hội học, chúng tôi sử dụng kỹ thuật phân tích văn
bản với thông tin định tính thu từ phỏng vấn và tư liệu có sẵn; sử dụng phương
pháp phân tích thống kê với số liệu định lượng.

6. Giả thuyết nghiên cứu

15
1. Sự trưởng thành của hệ thống truyền thông đại chúng trong bối cảnh phát
triển công cuộc đổi mới có tác động tích cực tới giao tiếp đại chúng của công
chúng thanh niên đô thị.
2. Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng có ý nghĩa quan trọng
trong hoạt động học tập và công việc của công chúng thanh niên đô thị Hải
Phòng
3. Dư luận xã hội của tầng lớp công chúng này thể hiện những đề xuất tích
cực về hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng.
Hai giả thuyết trên cho phép hình dung được các vấn đề cơ bản về hiệu
quả từ hoạt động giao tiếp đại chúng của công chúng thanh niên đô thị Hải
Phòng, từ đó tạo nên hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng đối với tầng
lớp công chúng này.
7. Khung lý thuyết
Trên cơ sở các vấn đề đối tượng, phương pháp và giả thuyết nghiên cứu,
khung lý thuyết được thể hiện như sau:

CÔNG CHÚNG THANH NIÊN ĐÔ THỊ
Hiệu quả truyền thông đại chúng


thuyết xã hội học về truyền thông đại chúng, đặc biệt là các quan điểm lý thuyết
về công chúng truyền thông và hiệu quả của truyền thông đại chúng, tổng quan
vấn đề nghiên cứu và các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu. Trong chương
này chúng tôi cũng giới thiệu địa điểm khảo sát và một số đặc điểm của khách
thể nghiên cứu. Việc khái quát này là cơ sở để tìm hiểu tác động của hệ thống
truyền thông đại chúng đối với nhóm công chúng được nghiên cứu.
 Chương 2, là chương trọng tâm của luận văn, trình bày các kết quả nghiên
cứu về Hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng thanh niên đô thị với
ba phần:
Phần 1: Phân tích hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng
thông qua hoạt động tiếp nhận thông tin của công chúng thanh niên đô thị Hải
Phòng trong giao tiếp đại chúng.
Phần 2: Phân tích hiệu quả sử dụng nội dung thông điệp được truyền từ các
phương tiện truyền thông đại chúng và cơ chế lây lan thông tin trong công
chúng thanh niên đô thị Hải Phòng .
Phần 3: Phân tích hiệu quả thể hiện ở sự hình thành dư luận xã hội trong
công chúng thanh niên đô thị Hải Phòng về hoạt động của hệ thống truyền
thông đại chúng.
Trong phần kết luận, trên cơ sở dùng kết quả phân tích để luận giải các giả
thiết nghiên cứu, luận văn nêu các nhóm khuyến nghị giải pháp nhằm mở rộng
khả năng tiếp nhận thông tin đại chúng của công chúng thanh niên, nâng cao
chất lượng hoạt động của hệ thống truyền thông đại chúng và tăng cường triển
khai hoạt động nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng. 17
PHẦN NỘI DUNG

HIỆU QUẢ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG THANH NIÊN ĐÔ THỊ

18
Giai đoạn thứ hai, từ thập niên 1940 tới thập niên 1960, giới nghiên cứu
nhận ra tính tương đối trong sự tác động của truyền thông đại chúng và bác bỏ ý
tưởng cho rằng truyền thông đại chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp lên suy nghĩ
và ứng xử của công chúng.
Năm 1960, trong tác phẩm "The effects of mass communication" (tạm dịch "Tác
động của truyền thông đại chúng"), Joseph Klapper chỉ ra truyền thông đại chúng
không phải là nguyên nhân cần và đủ của những thay đổi trong công chúng; nó là yếu
tố tác động bổ sung cùng với những nhân tố trung gian khác chứ không phải là
nguyên nhân duy nhất trong quá trình củng cố các điều kiện đang có[40, 144]. Mô
hình "các tác động tối thiểu" này cho rằng truyền thông đại chúng tăng cường, củng
cố hoàn cảnh xã hội sẵn có ở công chúng hơn là dẫn tới việc thay đổi đột ngột của họ,
trừ những trường hợp đặc biệt. Với những công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ
thống, người ta khám phá ra truyền thông đại chúng chỉ là một trong số nhiều nhân tố
xã hội, kinh tế, văn hoá ảnh hưởng tới thái độ và ứng xử của công chúng.
Qua nghiên cứu thực nghiệm về quyết định bầu cử của cử tri, theo cách
tiếp cận mạng lưới xã hội trong phân tích các quá trình truyền thông, năm 1944,
Paul Lazarsfeld cùng cộng sự phát hiện thấy các chiến dịch vận động tranh cử
(nhất là qua các phương tiện truyền thông đại chúng) hầu như ít làm thay đổi sự
lựa chọn của cử tri mà chỉ tác động theo hướng làm củng cố dự định sẵn có của
họ. Ảnh hưởng đáng kể tới cách thức cá nhân tiếp nhận và lý giải thông tin từ
các phương tiện truyền thông cũng như quyết định bầu cử lại thuộc về những
tương tác trong nhóm sơ cấp mà họ là thành viên, đặc biệt là tương tác với
những người có vai trò "hướng dẫn dư luận" trong nhóm [28, 403-404]. Công
trình nghiên cứu của Lazarsfeld đã mở đầu cho hướng nghiên cứu về vai trò của
truyền thông liên cá nhân đối với truyền thông đại chúng và về vai trò của các
nhóm xã hội trong các quá trình truyền thông.
Giai đoạn thứ ba, bắt đầu từ giữa thập niên 1960 đến cuối thế kỷ XX
(khoảng năm 1995), các nhà nghiên cứu có xu hướng đặt lại vấn đề và nghi ngờ
rằng ảnh hưởng của truyền thông đại chúng không phải là yếu ớt và ít ỏi như

tuyệt đối hoá vai trò của kỹ thuật truyền thông để chuyển sang quan điểm chú
trọng hơn tới các logic hành động của các tác nhân xã hội trong quá trình truyền
thông. Truyền thông được hiểu như một dạng quan hệ ý nghĩa và quan hệ quyền
lực giữa các nhóm xã hội và các cá nhân. Sự kết tinh các quan hệ liên tục vận
động này cấu tạo nên nội dung và hình thức của các phương tiện truyền thông
đại chúng. Công chúng được hình dung như những tác nhân xã hội có khả năng
lý giải và khả năng phê phán lại sự áp đặt trong quá trình truyền thông đại
chúng. Truyền thông đại chúng là một quá trình đối thoại trong khuôn khổ trật
tự đẳng cấp mang tính chất thương lượng giữa các tầng lớp xã hội khác nhau

20
trong những mối quan hệ vô cùng đa dạng [28, 348-350]. Đến cuối thế kỷ 20,
J.Habermas đưa ra khái niệm "không gian công cộng", trong đó các phương tiện
truyền thông đại chúng đóng vai trò làm trung gian liên lạc và tiếp xúc trong nội
bộ xã hội dân sự, cũng như giữa xã hội dân sự và các thiết chế nhà nước. Như
vậy, truyền thông đại chúng không còn là một lãnh địa riêng cho các nhà truyền
thông hay các chuyên gia về truyền thông, mà nó vừa là nơi trình bày các kiến
thức về xã hội con người, lại cũng là nơi diễn ra các mối quan hệ tiếp xúc, liên
lạc giữa các tầng lớp, các nhóm xã hội[28, 351-352].
Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông đại chúng đối với công chúng là
điều khá mới mẻ ở Việt Nam, nhưng các công trình liên quan theo hướng
nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về công chúng thì đã xuất hiện từ những
năm 1990 tới nay.
Trước hết có thể kể đến những bài viết của tác giả Mai Quỳnh Nam được
đăng trên Tạp chí Xã hội học, đề cập tới phương diện cơ sở lý thuyết cho việc
nghiên cứu truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, cũng như gợi mở hướng
áp dụng chúng vào nghiên cứu thực nghiệm trong bối cảnh xã hội Việt Nam
hiện nay.
Trong bài "Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng" (Tạp
chí Xã hội học, số 4 - 2001) [56], tác giả tổng hợp một số hệ thống chỉ tiêu định

chúng thiếu nhi dân tộc ("Báo Thiếu nhi dân tộc và công chúng thiếu nhi dân
tộc", tạp chí Xã hội học, số 4-2002) [48], tác giả Mai Quỳnh Nam và cộng sự
khảo sát mối quan hệ giữa các nhóm công chúng này với hệ thống truyền thông
đại chúng trong môi trường chính trị - xã hội mang những đặc trưng riêng, đặc
biệt chú ý tới đặc điểm quá trình hoạt động tiếp nhận thông tin và xử lý thông
tin, cơ chế lây lan thông tin, sử dụng thông tin của họ, coi đó như dấu hiệu tin
cậy để đánh giá phần nào hiệu quả hoạt động của hệ thống này.
Một số luận án tiến sĩ cũng lấy hoạt động giao tiếp đại chúng của công
chúng làm đối tượng nghiên cứu.
Năm 2000, tác giả Trần Hữu Quang hoàn thành luận án tiến sĩ xã hội học
"Truyền thông đại chúng và công chúng, trường hợp thành phố Hồ Chí Minh".
Luận án khảo sát mức độ và cách thức sử dụng các phương tiện truyền thông
đại chúng của công chúng, từ đó đi đến nhận diện, phân tích những mô thức tiếp
nhận truyền thông đại chúng của các giới công chúng ở thành phố Hồ Chí
Minh, một đô thị đang trong bối cảnh đổi mới với những chuyển biến quan
trọng về kinh tế và xã hội. Phát hiện đáng chú ý của luận án là sự ghi nhận hiệu
quả không đồng đều của truyền thông đại chúng tới các tầng lớp công chúng
khác nhau, như một dấu hiệu phân tầng về văn hoá, góp một điều kiện củng cố

22
cho quá trình phân tầng xã hội đang diễn ra trong thực tế. Như vậy, truyền
thông đại chúng được xem là một trong những cơ sở xã hội tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình tái tạo cơ cấu xã hội được tiếp diễn [26].
Luận án tiến sĩ xã hội học "Hiện trạng và vai trò tác động của truyền
thông dân số đối với người nông dân" (khảo sát ở đồng bằng sông Hồng), bảo
vệ năm 2002, của Trương Xuân Trường phân tích, đánh giá hiện trạng và vai
trò của hoạt động truyền thông dân số đối với người nông dân đồng bằng sông
Hồng trong thời kỳ đổi mới. Tác giả đặc biệt chú ý khảo sát về mức độ và khả
năng tiếp nhận thông tin dân số của họ từ các phương tiện truyền thông đại
chúng và các kênh khác trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng về các kênh truyền

cho khách thể nhằm mục đích hoàn thành tốt nhất chức năng của thiết chế này.
Luận văn chọn đề tài Hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công
chúng thanh niên đô thị - nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng với
mong muốn góp phần trả lời cho câu hỏi trên.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.2.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin về truyền thông đại chúng
Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm mác xít về sự vận động của các hình
thái kinh tế - xã hội và mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở
hạ tầng. Kiến trúc thượng tầng mang tính độc lập tương đối với cơ sở hạ tầng, có quy
luật phát triển riêng của mình, nhưng lại có thể tác động hoặc ảnh hưởng ngược trở
lại vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Nó không chỉ phản ánh máy móc cơ sở hạ tầng mà còn
có những chức năng thiết yếu trong việc tác động đến cơ sở hạ tầng. Với vai trò là
một trong những thiết chế xã hội thuộc lĩnh vực văn hoá - tinh thần của xã hội, các
phương tiện truyền thông đại chúng có thể đóng vai trò quan trọng đối với tiến trình
phát triển xã hội.
C. Mác và Ph. Ăngghen là những người sáng lập ra nền báo chí cách
mạng [32, 42] với dấu mốc là sự xuất hiện báo "Sông Ranh mới" (1848-1849)
mà hai ông là những người cộng tác đắc lực [31, 39]. C. Mác, Ph. Ăngghen và
V.I. Lênin coi hoạt động báo chí là một lĩnh vực hoạt động gây tác động trực
tiếp đến quá trình đấu tranh cách mạng trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng trong mọi
giai đoạn cách mạng.
Xuất phát từ việc nghiên cứu sự phân chia giai cấp trong xã hội. C. Mác
và Ph. Ăngghen đi đến kết luận là khi xã hội bị phân chia thành các giai cấp với
quyền lợi rất khác biệt, thậm chí đối kháng nhau, thì con người luôn thuộc về
một giai cấp, một quốc gia, một dân tộc, một nhóm xã hội nhất định nên báo
chí, là một hoạt động ý thức người, không thể cùng lúc mang những khuynh

24
hướng chính trị khác nhau. Báo chí của giai cấp, của nhóm xã hội nào đều phản
ánh tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng của giai cấp, của nhóm xã hội đó [31, 99].


25
mà nó đưa tin, hoặc trong những lời nhận xét mà nó nêu lên, thì ngày mai sẽ
được bản thân nó bác bỏ"[3, 237].
Tính đến hiệu quả truyền thông nhìn từ khía cạnh nghệ thuật biểu hiện
trong các tác phẩm báo chí, V.I. Lênin nhấn mạnh yêu cầu phù hợp với trình độ
nhận thức, năng lực tiếp thu và nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh của công chúng.
Một tác phẩm báo chí khi đề cập đúng vấn đề mà xã hội đang quan tâm nhưng
nghệ thuật biểu hiện kém, ngôn ngữ xa rời với cách nói, cách nghĩ của công
chúng không thể đem lại hiệu quả cao. Người đặc biệt quan tâm đến cách viết,
cách nói sao cho thật giản dị, sáng sủa, dễ hiều. Người chỉ ra rằng: "Sự đơn
giản, dễ hiểu và phổ cập, nội dung sinh động của tư liệu đưa ra sẽ đảm bảo cho
những tư tưởng của báo chí đi sâu vào lòng người đọc thuộc mọi tầng lớp nhân
dân"[38, 92].
Báo chí được xác định là một trong những nguồn cung cấp thông tin
và phản ánh dư luận xã hội. Nhận thức rõ rằng vai trò của báo chí trong đời
sống chính trị - xã hội là không thể thiếu và việc nắm bắt dư luận xã hội lại
càng quan trọng và cần thiết, ngay từ những ngày đầu cách mạng V.I.
Lênin đã đề nghị thành lập một uỷ ban đặc biệt để thu thập, xử lý một khối
lượng rất lớn thông tin từ báo chí Xô viết và báo chí tư sản. Người viết:
"Có thể và nhất thiết phải tổ chức một văn phòng như vậy, nó có thể đem
lại lợi lớn. Không có nó, chúng ta sẽ không có mắt, không có tai, không có
tay để tham gia phong trào quốc tế"[39, 156].
Như vậy, quan điểm mác xít khẳng định hiệu quả của lao động báo chí
cũng có những biểu hiện nhất định như khả năng tác động vào nhận thức cũng
như hành vi ứng xử của con người, tác động vào tâm lý xã hội, tác động vào
hành động thực tiễn. Hiệu quả của lao động báo chí khi được phát huy sẽ trở
thành một sức mạnh to lớn, góp phần hình thành dư luận xã hội, xây dựng hệ tư
tưởng chủ đạo của xã hội, biến nhận thức thành hành động theo chiều hướng
tích cực để góp phần cải tạo và xây dựng xã hội.

suốt cuộc đời làm báo luôn kiên định một mục tiêu, một nội dung, xoay quanh
một chủ đề duy nhất là vì nước, vì dân. Trong bài nói chuyện tại Đại hội Hội
nhà báo Việt Nam lần thứ III (tháng 9 năm 1962), Người chỉ rõ: "Nhiệm vụ của
báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng Cán bộ báo chí cũng là chiến
sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ"[10, 616]. Đồng
thời, để đảm bảo tính chân thực, khách quan của báo chí cách mạng, Người phê

27
phán lối viết một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích hoặc tránh né các
khuyết, nhược điểm, những khó khăn tiêu cực trong xã hội. Người lưu ý sự
thiếu thận trọng của các báo khi đưa tin để tránh những hậu quả bất lợi như lộ bí
mật, lố bịch [10, 615].
Như vậy, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã coi nhà báo là những chiến sỹ cách mạng, thực hành chức năng cung
cấp thông tin, hướng dẫn tư tưởng và hành động cho người đọc, người nghe.
Trong quan hệ báo chí - công chúng, Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò
tích cực, chủ động của người tiếp nhận.
Quan điểm báo chí cách mạng của Người là ra báo nhằm phục vụ sự
nghiệp cách mạng, cứu dân, cứu nước, vì vậy đối tượng phục vụ trước hết và
chủ yếu là nhân dân, là "đại đa số Công-Nông-Binh"[10, 616]. Trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, nội dung truyền thông phải giúp cho công chúng nhận thức được
lợi ích của cách mạng, phải động viên họ tham gia cho kỳ được. Hướng về hiệu
quả tác động của báo chí tới công chúng, để nội dung tuyên truyền cách mạng
đến với mọi người trong xã hội, Người khuyên nội dung truyền đạt phải phù
hợp với nhận thức của quần chúng: "Báo chí của ta không phải để cho một số ít
người xem mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối chính
sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng"[8, 117].
Tuy nhiên, "nhân dân" là một khái niệm vừa cụ thể, vừa trừu tượng, nên ngay
khi viết và ra những tờ báo đầu tiên, Người đã xác định rõ ràng từng đối tượng
cụ thể để vận động: nhân dân lao động cùng khổ, thanh niên, binh lính (tờ Lính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status