ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ THỊ ĐIỆP
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TÌNH TRẠNG BỎ HỌC
CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ – NGHIÊN
CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI XÃ ĐĂK JƠ TA HUYỆN
MANG YANG TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: công tác xã hội
Mã số:60900101 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:TS. Hà Thị Thƣ
m ơn
,
ôi
.
.
2. Các khái niệm công cụ 30
2.2 Một số khái niệm về học sinh dân tộc thiểu số bỏ học 33
2.3. Các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của học sinh 36
43
50
53
3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 57
3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 57
3.2 Đặc điểm dân cƣ 58
3.3. Kinh tế xã hội 59
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
THỰC TRẠNG BỎ HỌC CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
TẠI XÃ ĐĂK JƠ TA, HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI 60
2.1. Thực trạng bỏ học của học sinh ngƣời dân tộc thiểu số tại địa
phƣơng 60
2.2. Biểu hiện của các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học 64
64
66
CHƢƠNG III: HỌC SINH BỎ HỌC VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CAN
THIỆP CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM 79
3. Lý do ứng dụng công tác xã hội trong làm việc với nhóm học sinh
dân tộc thiểu số bỏ học 79
3. 2. Tiến trình trợ giúp nhóm đối tƣợng 80
80
3.2. 2 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động 84
3.2.3 Giai đoạn can thiệp, thực hiện nhiệm vụ 87
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 102
Bảng 2.3: Những yếu tố tác động đến việc học sinh DTTS bỏ học theo
đánh giá của học sinh và phụ huynh học sinh 66
Bảng 2.4: Đánh giá về lợi ích của việc học theo ý kiến của học sinh 70
Bảng 2.5: Những yếu tố từ gia đình tác động đến việc bỏ học của học sinh
DTTS qua đánh giá của phụ huynh và học sinh 71
Bảng 2.6: Những yếu tố từ nhà trƣờng tác động đến việc bỏ học của học
sinh DTTS qua đánh giá của phụ huynh và học sinh 73
Bảng 2.7: Những yếu tố từ cộng đồng tác động đến việc bỏ học của học
sinh DTTS qua đánh giá của phụ huynh và học sinh 76 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trẻ em là tƣơng lai của nƣớc nhà, trẻ cần đƣợc thụ hƣởng những
điều kiện tốt nhất để phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ. Một trong
những phƣơng cách để trẻ hoàn thiện nhân cách là thông qua con đƣờng
giáo dục. Giáo dục cơ bản của nƣớc ta phân chia thành 3 cấp học nhằm
giúp trẻ tiếp cận với tri thức ở từng mức độ, tầng bậc khác nhau phù hợp
với khả năng tiếp nhận, phân tích thông tin, ứng với quá trình phát triển
tâm sinh lý của trẻ. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ
bản nhằm hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa,
xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân.[19, tr.7]
Tỉnh Gia Lai là tỉnh nằm ở Bắc Tây Nguyên kinh tế chủ yếu là hoạt
động nông nghiệp với 44,5% ngƣời ĐBDTTS [29, tr.1 ]. Ngƣời DTTS đa
số thất học và nghèo, cái nghèo và thất học trở thành cái vòng luẩn quẩn
trói chân họ qua bao thế hệ với nƣơng rẫy. Ở các xã vùng sâu vùng xa tình
trạng này càng tồi tệ hơn khi điều kiện kinh tế khó khăn giao thông không
thuận lợi và tỷ lệ ngƣời DTTS chiếm tỷ lệ cao. Học sinh ở các xã này bỏ
học khá sớm và khá phổ biến ảnh hƣởng không nhỏ đến điều kiện kinh tế
văn hóa xã hội an ninh trên địa bàn tỉnh nhà trong trƣớc mắt và lâu dài.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu của mình
cho luận văn cao học là “Công tác xã hội với tình trạng bỏ học của học
sinh dân tộc thiểu số - nghiên cứu trƣờng hợp tại xã Đăk Jơ Ta, huyện
Mang Yang tỉnh Gia Lai”.
3
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Giáo dục đƣợc xác định là chiến lƣợc lâu dài cho phát triển bền
vững. Vào đầu thập niên 80 Liên hợp quốc đã đƣa mục tiêu phấn đấu “phổ
cập hóa giáo dục tiểu học” cho mọi ngƣời dân, tất cả mọi ngƣời đi học tiểu
học phải đƣợc “miễn phí”[8, tr.7].
Ngoài ra, một số quốc gia còn xác định
những lớp học đầu tiên phải đƣợc đƣa vào chƣơng trình bắt buộc 4, 6 hoặc
9 năm, tùy theo đặc trƣng của mỗi quốc gia. Đặc trƣng về phát triển kinh tế
cũng quy định nền giáo dục của quốc gia cũng đƣợc phát triển hoàn thiện,
một số nƣớc đặt giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời kỳ phát
triển, để tạo ra nguồn lực chất lƣợng cao không chỉ cho hiện tại mà còn
định hƣớng sự phát triển cho tƣơng lai của quốc gia đó. Chỉ số HDI
(Human Development Index) về chất lƣợng cuộc sống cũng lấy tỷ lệ ngƣời
biết chữ làm tiêu chí đo lƣờng nhằm đánh giá mức độ phát triển toàn diện
lệ bỏ học của học sinh tiểu học. Nhƣng các biến số nhƣ quy mô gia đình,
trình độ học vấn của cha mẹ, loại hình hoạt động kinh tế của các thành viên
hộ gia đình, đặc biệt là ở vùng nông thôn đã có những tác động quan trọng
đối với cơ hội tiếp tục việc học tập hoặc tỷ lệ bỏ học của học sinh. Thậm
chí rằng, Robert Balfanz and Nettie Legters (2004) còn chỉ ra rằng có
những vùng, miền có tỷ lệ học sinh bỏ học cao thƣờng là những trƣờng yếu
về năng lực, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số và kết quả học tập của
trƣờng thông thƣờng kém ở những môn nhƣ toán, văn…Hơn nữa các
trƣờng này thƣờng là những trƣờng đƣợc đặt ở các vi trí mà cộng đồng
xung quanh đó có tỷ lệ cao về thất nghiệp, tội phạm và có trình độ học vấn
không cao [8, tr.19].
B. Alfred Liu (1976) đề cập đến các nội dung rất thú vị về sự biến
đổi xã hội, sự gia tăng dân số với vấn đề phát triển giáo dục. Theo nghiên
5
cứu này thì sự biến đổi xã hội có đƣợc là do sự tác động của các yếu tố hệ
tƣ tƣởng, công nghệ và nhân khẩu [8, tr,19].
Biến đổi xã hội sẽ dẫn đến những biến đổi trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong đó có sự biến đổi của hệ thống giáo dục. Sự biến đổi này
chính là để thích nghi với những nhu cầu đặt ra trong quá trình chuyển hóa
của xã hội. Đặc biệt đối với các nƣớc đang phát triển, việc kiểm soát yếu tố
nhân khẩu có một vai trò quan trọng. Vì quy mô dân số là chỉ số chủ chốt
trong việc phát triển hệ thống giáo dục cả về lƣợng và chất. Không thể hình
thành các chƣơng trình chuyên biệt nếu không có đủ số lƣợng học sinh,
cũng không thể hình thành các chƣơng trình phát triển nếu không tính đến
yếu tố về quy mô dân số.[8, tr.20]
Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân khẩu học với với việc lập
kế hoạch giáo dục của Stelios N. Georgiou cho thấy, việc nâng cao tỷ lệ
nhập học và chất lƣợng giáo dục là mục tiêu của kế hoạch hóa phát triển
giáo dục. Xây dựng và thực hiện các mục tiêu này trong phát triển giáo
Nguyên nhân thứ hai là do những trẻ em bỏ học và cha mẹ của chúng đƣa
ra là việc trừng phạt về thân thể đối với học sinh học kém.Trong khi đó,
giáo viên và nhà trƣờng lại cho rằng, phụ huynh học sinh ít liên hê với nhà
trƣờng, chƣơng trình giảng dạy chƣa phù hợp, thiếu phƣơng tiện giảng dạy
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của trẻ em. Bất bình đẳng giới
cũng đƣợc xác định là một trở ngại đối với trẻ em gái Bất bình đẳng về giới
không chỉ liên quan đến các quan niệm của cộng đồng đối với vai trò của
nữ giới mà nó còn có cả nguyên nhân kinh tế khi trong nhiều nhóm dân tộc,
các bậc phụ huynh bị áp lực về của hồi môn cho con gái, về việc đầu tƣ cho
con gái học hành không mang lại lợi nhuận trƣớc mắt…điều này dƣờng
7
nhƣ thể hiện rõ trong một số cồng đồng ở Ấn Độ và một số nƣớc thuộc
châu Á [8, tr,23].
Học sinh bỏ học do gia đình có thu nhập thấp, bố mẹ thất nghệp hoặc
nghề nghiệp không ổn định, học vấn thấp hoặc thất học hoặc bỏ học vì sức
khỏe yếu do suy dinh dƣỡng, trƣờng ở xa nhà, không thích học và những
yếu tố nhà trƣờng nhƣ cơ sở vật chất, chất lƣợng giáo viên. Những nguyên
nhân này liên quan đến những rào cản về kinh tế xã hội và có mối quan hệ
ràng buộc chặt chẽ với nhau (Barton, 2006; Barsaga, 1995)[8, tr.23].
Tóm lại, các yếu tố tác động đến học sinh bỏ học đƣợc nghiên cứu
khá nhiều trên thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề bỏ học sớm
của học sinh liên quan đến trình độ phát triển kinh tế xã hội của một quốc
gia, từ những chính sách về kinh tế, dân số, nhân khẩu đều ảnh hƣởng rõ rệt
đến vấn đề này. Ngoài ra những nguyên nhân về bình đẳng giới, sự phân
cấp giữa thành thị, nông thôn, giữa nhóm ngƣời có thu nhập cao với nhóm
có thu nhập thấp và nhóm DTTS với nhóm ngƣời đa số cũng có ảnh hƣởng
đến việc xã hội hóa giáo dục. Từ thực tế này chỉ ra rằng bất bình đẳng trong
tiếp cận với giáo dục cho trẻ em vẫn còn diễn ra ở khắp nơi trên thế giới,
điều này cần thiêt có sự vào cuộc nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau.
chế, nhƣ chƣơng trình học quá tải, chất lƣợng không đảm bảo và không
đồng đều, giáo dục thiên về dạy chữ hơn dạy ngƣời, cơ sở vật chất chƣa
đáp ứng đủ nhu cầu, việc bất bình đẳng trong tiếp cận với hệ thống giáo
dục còn diễn ra khá phổ biến, bệnh thành tích, thi cử trong giáo dục xuất
hiện bao nhiêu năm vẫn chƣa có thuốc đặc trị. Ngoài ra, vấn đề dành cho
giáo dục chuyên biệt, giáo dục với nhóm ngƣời đặc biệt chƣa đƣợc chú
trọng đầu tƣ đặc biệt là giáo dục cho trẻ em vùng sâu vùng xa vùng DTTS
9
sinh sống dẫn đến tỷ lệ bỏ học ở những vùng này còn khá cao, gây ảnh
hƣởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng nói
riêng và cả nƣớc nói chung, ảnh hƣởng đến mục tiêu phát triển bền vững
của cả nƣớc. Chính vì ý thức đƣợc những ảnh hƣởng không tốt từ hệ lụy
của sự phân hóa trong phát triển nên những năm gần đây, nhà nƣớc đã chú
trọng nhiều hơn cho những vấn đề nổi cộm xuất hiện giáo dục. Một trong
những vấn đề đó là tình trạng HSDTTS bỏ học.
Thực trạng bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói
riêng, thực chất đã diễn ra trong một thời gian khá dài nhƣng hầu nhƣ chƣa
đƣợc quan tâm đúng mức. Vấn đề này chỉ đƣợc nhắc đến và đƣa ra bàn
luận trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau sự kiện Việt Nam gia nhập tổ
chức thƣơng mại thế giới (WTO). Ngoài trọng tâm đào tạo con ngƣời với
đầy đủ năng lực và phẩm chất, thì vấn đề bỏ học của học sinh trung học
cũng ngày càng đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức ban ngành quan tâm.
Tuy nhiên, có thể thấy các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn chƣa
nhiều và chƣa thật sự phản ánh một cách chân thật nhất, khái quát nhất thực
trạng vấn đề. Có chăng chỉ là những trang tin đăng tải trên các tờ báo (báo
Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Sài Gòn giải phóng .), trên internet hoặc một
số tin ngắn, phóng sự trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng phản ánh
các sự kiện liên quan
Tập trung giải quyết các “điểm nóng” tại buổi họp báo định kỳ tháng
tố nhƣ kinh tế, văn hóa, chính sách… mang đặc trƣng của vùng dân tộc
11
thiểu số miền núi phía Bắc nên có thể mang một vài điểm tƣơng đồng cho
các vùng khác nhƣ Tây Nguyên.
Luận văn
Luận văn chuyên
ngành kinh tế phát triển. Mã số 60 31 05. Ngƣời thực hiện Lê Thị Bích
Ngân, ngƣời hƣớng dẫn T.S Đoàn Gia Dũng. Luận văn đề cập đến các
nguyên nhân qua đó chú trọng đến những giải pháp để giúp khắc phục tình
trạng bỏ học của ngƣời dân tộc thiểu số tại huyện Kon Rẫy – tỉnh Kon
Tum. Đây là luận văn có ý nghĩa thực tiễn to lớn và có tính liên quan đến
đề tài mà tôi đang nghiên cứu vì sự tƣơng đồng về nhóm khách thể nghiên
cứu cũng nhƣ địa bàn thuộc khu vực Tây Nguyên. Tây Nguyên là địa bàn
khá khó khăn, trình độ phát triển về giáo dục còn kém các địa phƣơng khác
trong cả nƣớc, hơn nữa là vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm phần nhiều
nên hiện tƣợng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học diễn ra khá phổ biến.
Chính điều này ảnh hƣởng đến quá trình phát triển chung của vùng làm cho
trình độ dân trí thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nƣớc. Với những đề
tài đƣợc nghiên cứu xuất phát từ địa phƣơng có thể góp phần rất lớn cho
việc giải quyết vấn đề xã hội đang tồn tại ở chính địa phƣơng đó.
Luận văn “
” của tác giả Nguyễn Đình Sơn chuyên ngành quản lý
kinh tế cũng nghiên cứu chi tiết về nghèo đói trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Luận văn đã chỉ ra thất học cũng là một nguyên nhân dẫn đến nghèo và tái
nghèo của vùng dân tộc thiểu số. Cái vòng luẩn quẩn của nghèo – thất học
– tái nghèo – bỏ học cũng đƣợc nhắc đến trong luận văn. Chính vì bỏ học
nên việc tiếp cận với tri thức, mở mang kiến thức, tiếp cận với kinh tế thị
trƣờng rất khó khăn và thất học ảnh hƣởng rất lớn đến nhận thức để thay
đổi tình trạng kinh tế hiện tại của hộ gia đình.
ngăn chặn và giải quyết vấn đề đang đƣợc quan tâm lúc bấy giờ.
Bài trích
- 1992 - - Tr11-Tác giả đã
nêu lên đƣợc những đặc điểm chủ yếu về điều kiện kinh tế - xã hội - giáo
dục ở TP.Hồ Chí Minh và thực trạng lƣu ban, bỏ học của học sinh tại thời
điểm nghiên cứu. Qua bài trích, tác giả đã chỉ rõ nguyên nhân khiến cho
học sinh bị lƣu ban, bỏ học tại một thành phố lớn và đƣa ra các biện pháp
nhằm hạn chế hiện tƣợng này.
Báo cáo của Ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên Sở GD-ĐT về
2007 (Báo cáo tại hội thảo
đƣợc tổ chức tại Trƣờng Đại học Bán công
Tôn Đức Thắng ngày 25/04/2008”. Trong báo cáo của mình, ông Mai Phú
Thanh đã trình bày sơ bộ về tình hình học sinh theo học ở các cấp, kết quả
xếp loại học lực hàng năm và đặc biệt là đƣa ra những con số thống kê về
nguyên nhân bỏ học của học sinh hiện nay.
Điểm đáng lƣu ý của báo cáo là ông đã đƣa ra những giải pháp mang
tính chiến lƣợc, nêu bật vai trò của các cấp ban ngành cũng nhƣ của các
đơn vị, tổ chức có trách nhiệm trong việc hạn chế và ngăn ngừa tình trạng
học sinh bỏ học hiện nay.
Đề tài
. Tác giả Đặng Thị Hải Thơ – UNICEF tại Việt
Nam. Đề tài đã chỉ ra những nguyên nhân xuất phát từ gia đình nhƣ kinh tế
khó khăn, trẻ lao động sớm, gia đình không hạnh phúc, gia đình không có
truyền thống học tập, gia đình khuyết thiếu, đông con. Những nguyên nhân
14
xuất phát từ nhà trƣờng đó là chƣơng trình giáo dục không thiết thực, chất
lƣợng dạy học và phƣơng pháp giảng dạy thiếu hấp dẫn, ít hứng thú, mối
quan hệ thầy trò có vấn đề, ngôn ngữ là một rào cản. Bên cạnh đó tác giả đã
trẻ, khiến trẻ bị hụt hẫng, căng thẳng và gây ra những hành vi không mong
muốn, kể cả vấn đề trẻ bỏ học giữa chừng cũng là biểu hiện của hành vi
thiếu hệ thống hành vi chuẩn mực để đƣơng đầu với những khó khăn trong
quá trình học tập đến từ chủ quan hay khách quan.
Với những nghiên cứu chỉ ra ở trên có tác dụng rất lớn trong việc
tham khảo trong việc xây dựng luận văn. Các nghiên cứu đã là nguồn tài
liệu vô cùng quý giá để có thể xây dựng những chính sách lớn hơn, thiết
thực hơn cho vùng nghiên cứu. Tuy nhiên với luận văn “Những yếu tố tác
động đến tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số - nghiên cứu
trƣờng hợp tại xã Đăk Jơ Ta, huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai.”. Tôi đã
xây dựng đề cƣơng nghiên cứu về những yếu tố tác động đến tình trạng bỏ
học của HSDTTS dƣới góc nhìn của ngành CTXH, những yếu tố này mang
tính đặc trƣng của địa phƣơng. Qua đó ứng dụng những lý thuyết của
CTXH để can thiệp cho nhóm học sinh bỏ học ở địa phƣơng nghiên cứu.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
Luận văn sẽ chỉ ra những yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của
HSDTTS và biểu hiện của các yếu tố này;
Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần giải quyết vấn đề xã hội
đang xảy ra ở địa phƣơng và ứng dựng lý thuyết CTXH vào một trƣờng
hợp cụ thể để giúp can thiệp đúng hƣớng nhằm tăng cƣờng chức năng xã
hội của cá nhân, phát triển cộng đồng ngƣời dân tộc thiểu số;
16
Luận văn cũng góp phần làm tài liệu tài khảo cho những NVCTXH,
nhà giáo dục khi làm việc với đối tƣợng học sinh bỏ học, những dự án phát
triển cộng đồng với các nhóm đối tƣợng tƣơng tự.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS
và công tác xã hội với tình trạng bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số.
7.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu lý luận (hệ thống hóa các vấn đề lý luận về công tác xã
hội lý thuyết công tác xã hội, xác định yếu tố nào tác động đến tình trạng
bỏ học của học sinh.)
Nghiên cứu thực tiễn (khảo sát đánh giá thực trạng bỏ học của học
sinh DTTS và các yếu tố tác động đến hiện tƣợng này).
Đề xuất giải pháp, ứng dụng một lý thuyết CTXH trong giải quyết
vấn đề nhằm giúp đỡ cho một nhóm cụ thể.
8. Giả thuyết nghiên cứu
Có rất nhiều yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của HSDTTS,
trong đó yếu tố gia đình và bản thân học sinh yếu tố tác động mạnh nhất.
Việc sử dụng lý thuyết nhận thức - hành vi để can thiệp sẽ đem lại kết quả
tốt cho việc giải quyết vấn đề này.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu (nghiên cứu tài liệu thứ cấp thông
qua các báo cáo của trƣờng THCS xã Đăk Jơ Ta, UBND xã, UBND, phòng
giáo dục, ban dân tộc huyện Mang Yang, sở giáo dục đào tạo tỉnh Gia Lai).
18
Phƣơng pháp điều tra bảng hỏi (Phát 100 bảng hỏi cho 50 học sinh
của trƣờng THCS Đăk Jơ Ta, 50 phiếu cho phụ huynh học sinh trƣờng
THCS Đăk Jơ Ta).
Phƣơng pháp chuyên gia (tham khảo ý kiến của những ngƣời có
chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể).
Phƣơng pháp phỏng vấn sâu (phỏng vấn sâu 2 ngƣời trong ban giám
hiệu trƣờng, 01 lãnh đạo UBND xã, trƣởng trạm y tế xã, Chi hội trƣởng chi
hội phụ nữ của 2 làng, trƣởng phòng giáo dục huyện và 15 giáo viên của
trƣờng).
Phƣơng pháp thảo luận nhóm (thành lập nhóm gồm các em HSDTTS