Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn Phạm thị h-ờng Các giảI pháp hạn chế tính mùa vụ của
hoạt động du lịch biển cửa lò
Chuyên ngành: Du lịch
(Ch-ơng trình đào tạo thí điểm)
Luận văn thạc sỹ du lịch
1.4.2. Ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh 20
1.4.3. Ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực 22
1.4.4. Ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách 23
1.4.5. Những ảnh hưởng khác 24
1.5. Một số kinh nghiệm hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ lên hoạt động
du lịch. 25
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2: 29
- 2 -
DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TÍNH MÙA VỤ ĐẾN HOẠT
ĐỘNG DU LỊCH BIỂN CỬA LÒ 29
2.1. Khái quát về Cửa Lò 29
2.2. Khái quát tài nguyên du lịch biển của Cửa Lò 30
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 30
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 34
2.3. Biểu hiện của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch tại khu du lịch biển
Cửa Lò 37
2.4. Ảnh hưởng của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch 42
2.4.1. Ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 42
2.4.2. Ảnh hưởng đến việc khai thác tài nguyên và môi trường du lịch biển
Cửa Lò. 48
2.4.3. Ảnh hưởng đến nguồn nhân lực du lịch Cửa Lò 49
2.4.4. Ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách du lịch đến Cửa Lò 53
2.4.5. Ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác 55
2.5. Nguyên nhân của tính mùa vụ du lịch biển Cửa Lò 57
2.6. Đánh giá chung 62
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG BẤT LỢI
CỦA TÍNH MÙA VỤ DU LỊCH ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BIỂN
CỬA LÒ 66
năm 2009 43
Bảng 2.4. Tình trạng kinh doanh của các cơ sở lưu trú ở Cửa Lò năm 2006 45
Hình 2.2. Hình ảnh khách du lịch tại bãi biển Cửa Lò vào mùa vụ 48
Biểu đồ 2.3. Nhân lực du lịch - dịch vụ trong cơ cấu lao động năm 2008 50
Biểu đồ 2.4. Cơ cấu trình độ lao động theo từng lĩnh vực trong ngành du lịch 50
Biểu đồ 2.5. Biến đổi cơ cấu lao động trong và ngoài mùa du lịch 52
Biểu đồ 2.6. Tỷ lệ số lượng khách đến Cửa Lò hàng tháng từ 2007- 2009 57
Biểu đồ 2.7. Tỷ lệ số lượng khách đến Vũng Tàu hàng tháng từ 2008- 2009 58
Bảng 2.5. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến mùa vụ du lịch biển 59
Sơ đồ 3.1. Quy trình thực hiện các nội dung tuyên truyền quảng bá du lịch 79
Bảng 3.1. Dự trù kinh phí dành cho hoạt động MKT đến năm 2015 80
Sơ đồ 3.2. Quy trình nội dung cơ bản nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 86
- 5 -
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cửa Lò là một vùng đất có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời và thật
may mắn Cửa Lò được thiên nhiên ban tặng bãi tắm và danh thắng đẹp đến
ngỡ ngàng. Từ xứ biển nghèo, mang dáng dấp của một làng chài, Cửa Lò rũ
cát đứng lên thành một đô thị du lịch trẻ trung tràn đầy sức sống như hôm
nay. Cửa Lò đang lớn lên và ngày càng duyên dáng, hấp dẫn, không những là
nơi hội tụ hồn thơ, điệu nhạc mà còn là điểm hẹn lý tưởng của du khách gần
xa, của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Chính những lý do này đã
chắp cánh cho Cửa Lò ngày càng phát triển.
Thị xã Cửa Lò cách thành phố Vinh 16km về phía Đông, thủ đô Hà Nội
gần 300km về phía Bắc và thành phố Hồ Chí Minh 1.400km về phía Nam. Sở
hữu một bờ biển dài 10,2km và các điểm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh,
Cửa Lò đang trở thành điểm đến của những du khách trong và ngoài nước.
Vào mùa vụ du lịch, từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, Cửa Lò đã đón hàng
triệu lượt khách đến tham quan, nghỉ ngơi, tắm biển,…
Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại bãi biển Cửa Lò chỉ diễn ra ồ ạt, sôi
du lịch biển tại bãi biển Cửa Lò.
- Đề xuất những giải pháp nhằm giảm thiểu sự tác động bất lợi của tính
mùa vụ du lịch đến hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Cửa Lò. - 7 -
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
- Tổng quan lý luận về tính mùa vụ du lịch.
- Thu thập phân tích các số liệu về hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi
biển Cửa Lò, mức độ ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ du lịch đến hoạt
động kinh doanh du lịch tại địa phương.
- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp hạn chế ảnh hưởng bất lợi của
tính mùa vụ du lịch trong hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Cửa Lò
trong điều kiện Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính mùa vụ du lịch và ảnh hưởng
bất lợi của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển
Cửa Lò.
3.2 . Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trong phạm vi này, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ du lịch để đưa ra các giải pháp
nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi đó đến hoạt động du lịch biển chñ yÕu
trong ph¹m vi thÞ x· Cöa Lß - NghÖ An.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến hành trong thời gian 5 năm từ năm
2005 đến năm 2009. Các nghiên cứu được tiến hành nghiêm túc, đảm bảo tính
cập nhật và khách quan của số liệu và tư liệu thu thập.
4. Phương pháp nghiên cứu
- 9 -
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH MÙA VỤ DU LỊCH
1.1. Khái niệm
Trong một số tài liệu mùa hay thời vụ du lịch là hiện tượng hoạt động du
lịch lặp đi lặp lại khá đều đặn vào một số thời điểm trong năm. Theo nghĩa
này thì mùa vụ du lịch đồng nhất với thời vụ du lịch. Trong phạm vi luận văn,
tác giả xin sử dụng chữ mùa vụ du lịch theo nghĩa là thời vụ du lịch.
Tính mùa vụ du lịch cản trở tiến trình bình thường của hoạt động du
lịch trong năm và gây ra hàng loạt những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế, xã
hội, tổ chức và kỹ thuật. Vấn đề tính mùa vụ du lịch thu hút được sự quan tâm
nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan và tổ chức kinh tế, các tổ chức
quốc gia và quốc tế.
Tính mùa vụ du lịch tại một đơn vị lãnh thổ nào đó là tập hợp các biến
động có tính chu kỳ theo thời gian trong năm của cung và cầu du lịch.
Tính mùa vụ trong hoạt động du lịch được xác định bởi số thời gian
thích hợp nhất trong năm của các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với sức
khỏe của du khách và số thời gian trong năm thuận lợi nhất cho việc triển
khai các hoạt động du lịch. Tính mùa vụ của tài nguyên du lịch ảnh hưởng
trực tiếp đến hướng khai thác đầu tư quy hoạch kinh doanh du lịch được đánh
giá cho tài nguyên tự nhiên và nhân văn.
Một điểm du lịch có thể có một hoặc nhiều mùa vụ du lịch tuỳ thuộc
vào khả năng đa dạng hoá các loại hình du lịch ở đó :
Mùa du lịch chính : Là khoảng thời gian có cường độ tiếp nhận khách
du lịch lớn nhất, trong giai đoạn này số lượng khách khá ổn định.
Thời kỳ đầu mùa và cuối mùa chính : là thời kỳ có cường độ du lịch nhỏ
hơn ngay trước mùa chính (đầu mùa) và ngay sau mùa chính (cuối mùa)
- 10 -
Ngoài mùa hay mùa chết : là khoảng thời gian có cường độ thu hút
khách du lịch thấp nhất.
- Đặc trưng của tính mùa vụ du lịch (cường độ, độ dài, tần số) chịu ảnh
hưởng của các yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu, sinh vật…) và kinh tế - xã
hội (thói quen, thời gian rỗi, phong tục tập quán, tín ngưỡng, thu nhập,…).
- Cường độ của mùa du lịch được hiểu là độ tập trung khách trong một
khoảng thời gian ở mùa du lịch. Độ tập trung khách trong mùa du lịch càng
lớn thì cường độ mùa du lịch càng mạnh và ngược lại, độ tập trung khách
càng nhỏ thì thì cường độ mùa du lịch càng yếu.
- Độ dài của mùa du lịch là khoảng thời gian mà ở đó số lượng khách
đến còn đủ để duy trì công suất sử dụng buồng phòng trên mức tối thiểu đối
với khu du lịch.
- Tần số của mùa du lịch là số lần xuất hiện của mùa du lịch ở một lãnh
thổ nào đó trong một năm. Số lần xuất hiện mùa du lịch ở một lãnh thổ trong
một năm càng nhiều thì tần số của mùa du lịch càng lớn. Thông thường thì
trong một năm, ở một lãnh thổ chỉ có một đến hai mùa du lịch.
- Cường độ và độ dài của các mùa du lịch trong một năm của một lãnh
thổ thường không trùng nhau. Mùa du lịch có cường độ và độ dài lớn nhất
được coi là mùa chính, mùa du lịch có cường độ và độ dài nhỏ hơn được coi
là mùa phụ. Do có sự tập trung cao về khách và hoạt động kinh doanh nên
thời gian mùa du lịch còn gọi là mùa cao điểm và ngược lại, thời gian ngoài
mùa du lịch được gọi là mùa thấp điểm.
- Ở các nước du lịch phát triển thông thường mùa du lịch dài hơn và
cường độ mùa du lịch chính yếu hơn. Ở các nước mới phát triển mùa du lịch
ngắn hơn nhưng diễn ra với cường độ mạnh hơn.
- 12 -
- Cường độ và độ dài của mùa du lịch là không tương đồng cho các loại
hình du lịch. Du lịch chữa bệnh có thời gian kéo dài hơn nhưng cường độ yếu
hơn trong mùa du lịch chính. Du lịch nghỉ dưỡng được đặc trưng bởi cường
độ cao hơn và thời gian ngắn hơn.
- Cường độ và thời gian của mùa du lịch phụ thuộc vào cấu trúc của
khách du lịch lưu trú trong các vùng riêng biệt. Trung tâm du lịch thanh niên
khách của loại hình du lịch biển của các nước khác nhau (ví dụ, đối với khách
du lịch các nước Bắc Âu thì nhiệt độ nước biển lý tưởng chỉ khoảng từ 15 -
20
0
C, trong khi đối với khách du lịch thuộc các nước có khí hậu nhiệt đới thì
nhiệt độ phù hợp phải trên 20
0
C). Điều này cho thấy, giới hạn của mùa du lịch
được xác định bởi yếu tố khí hậu có thể mở rộng hay hạn chế phụ thuộc vào
sở thích, nhu cầu của khách du lịch với những tiêu chuẩn và mục đích sử dụng
tài nguyên du lịch khác nhau.
1.3.2. Thời gian rỗi
Thời gian nhàn rỗi là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố không đồng
đều của nhu cầu du lịch, con người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian nhàn
rỗi. Tác động của thời gian nhàn rỗi lên tính thời vụ trong du lịch phải nói đến
2 đối tượng chính trong xã hội
- Thời gian nghỉ phép năm được trả tiền sẽ tác động đến độ dài và thời
gian sử dụng.
- Các kỳ nghỉ của học sinh bao gồm cả nghỉ hè và nghỉ đông sẽ tác
động đến thời gian rỗi của học sinh và quyết định việc đi du lịch của bản thân
và gia đình. Các kỳ nghỉ hè giữ vai trò quyết định đối với sự lựa chọn thời
gian đi nghỉ của những bậc phụ huynh có con ở lứa tuổi từ 6 - 15. Tuy nhiên,
- 14 -
sự tác động ở đây cũng cần nhìn nhận theo 2 khía cạnh: độ dài của kỳ nghỉ và
mối quan hệ với sự phân bố trong năm.
Độ dài của kỳ nghỉ của học sinh phụ thuộc trước hết vào quãng thời
gian không thích hợp cho việc học hành và cũng rất khác biệt ở các nước khác
nhau. Ví dụ, ở CHLB Đức là 64 ngày, Anh và Hà Lan 75 ngày, Hungari, Bồ
Đào Nha, Tây Ban Nha là 120 ngày, Nam Tư là 140 - 150 ngày, Italia là 152
ngày,…
vụ du lịch rất mạnh mẽ và rõ nét. Du lịch lễ hội thường tập trung từ tháng 12
đến tháng 4 âm lịch. Một số vùng có lễ hội tổ chức vào thời gian khác của
năm nhưng tựu chung các lễ hội truyền thống từ Bắc chí Nam được tổ chức
vào mùa xuân là nhiều nhất.
1.3.4. Các nhân tố khác
* Sự quần chúng hoá trong du lịch : Làm tăng tính thời vụ vốn có
trong du lịch, nó được hình thành bởi sự xã hội hoá của dòng khách du lịch
mà kết quả là có sự gia tăng đột biến của các tầng lớp có mức thu nhập trung
bình và ít khi đi du lịch. Những khách du lịch thuộc nhóm này thường tập
trung vào các khu du lịch biển vào mùa chính. Họ làm như vậy do 3 lý do
chính:
- Mặc dù giá vận chuyển và lưu trú cao ở mùa du lịch nhưng lợi thế
được giảm giá do đi tập thể, chi phí tổ chức chuyến đi là thấp nhất do đi theo
đoàn nên đa số khách có khả năng thanh toán hạn chế thường đi nghỉ biển tập
thể.
- Họ không nắm được đầy đủ thông tin về các điều kiện thực hiện du
lịch theo các tháng trong năm nên thường chọn các tháng thuộc mùa vụ du
- 16 -
lịch chính truyền thống của năm (tháng 6, 7, 8), vì như vậy sự mạo hiểm do
gặp các bất lợi từ phía các điều kiện khí hậu là rất ít.
- Ảnh hưởng của yếu tố tâm lý trong việc lựa chọn thời điểm đi du lịch
của du khách do những người mới đi du lịch thường có ít kinh nghiệm và hiểu
biết về các điều kiện của điểm du lịch nơi họ dự định đến. Do vậy họ lựa chọn
thực hiện chuyến đi của mình dựa vào thời gian mà người dân thường hay đi
nghỉ.
Theo cách này một số ít những khách du lịch có kinh nghiệm cũng tập
trung cầu du lịch vào các tháng của mùa vụ du lịch chính.
* Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch: Là nhân tố ảnh hưởng đến độ dài
mùa vụ du lịch thông qua khả năng cung cấp dịch vụ.
Khả năng chuẩn bị đón tiếp và phục vụ khách du lịch được coi là điều
thoả mãn cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du
lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.
Tài nguyên du lịch tác động đến tính mùa vụ du lịch dưới 2 khía cạnh:
tài nguyên du lịch vừa là yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch vừa là điều kiện
thực hiện các hoạt động du lịch.
Tài nguyên du lịch là yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch:
Tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định sự phát triển của các loại hình
du lịch ở mỗi một điểm hay khu du lịch cụ thể. Các loại hình du lịch này lại
có khả năng đáp ứng được những loại cầu du lịch nhất định, nhưng do chính
tác động của các yếu tố cấu thành của tài nguyên du lịch (ví dụ, yếu tố khí hậu
hay phong tục tập quán) nên các loại hình du lịch này đều bị ảnh hưởng của
tính mùa vụ du lịch. Đối với mỗi loại hình du lịch khác nhau, ảnh hưởng của
tài nguyên du lịch thể hiện không đồng đều. Ví dụ, các hang động có thể phục
- 18 -
vụ cho nhu cầu tham quan, thám hiểm quanh năm nên tính mùa vụ thể hiện ít
hơn so với các loại hình du lịch khác, còn du lịch lễ hội lại chỉ diễn ra trong
quãng thời gian có tổ chức các lễ hội.
Tài nguyên du lịch là điều kiện thực hiện các hoạt động du lịch:
Yếu tố quan trọng của tài nguyên du lịch có ảnh hưởng đến tính mùa vụ
du lịch là yếu tố khí hậu. Đối với du lịch nghỉ dưỡng biển núi, thể thao mùa
đông thì khí hậu xác định thông số tối ưu của mùa du lịch. Đối với các loại
hình du lịch khác, khí hậu giữ vai trò điều chỉnh sự cân bằng lượng khách đến
và mức độ sử dụng tài nguyên du lịch.
Bên cạnh đó, vị trí địa lý, khoảng cách đến các trung tâm phân phối
khách, điều kiện địa hình cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến điều
kiện thực hiện các hành động du lịch.
1.4. Những ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch
Tính mùa vụ thường có ảnh hưởng tiêu cực đối với ngành du lịch nói
chung và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương - nơi
có hoạt động du lịch diễn ra nói riêng.
các đối tượng du lịch. Có những đối tượng có thể tự phục hồi được nguyên
trạng hoặc gần như nguyên trạng sau thời gian khai thác, ví dụ như các bãi
biển, các hang động và thác nước,… Nhưng cũng có các đối tượng khả năng
tự phục hồi rất kém thậm chí có đối tượng không thể tự phục hồi như các khu
bảo tồn thiên nhiên, các di tích lịch sử,… đặc biệt là các đối tượng bị khai
thác quá mức. Như vậy, tính mùa vụ du lịch gây ra các ảnh hưởng bất lợi ở
hai khía cạnh : thứ nhất gây ra sự quá tải vào mùa du lịch chính, thứ hai gây
ra sự lãng phí vào ngoài vụ hay còn gọi là mùa chết. Chính vì vậy, việc xác
định sức chứa của các đối tượng du lịch cũng như việc kiên quyết thực hiện
ngừng phục vụ khi đối tượng du lịch đã quá tải là việc làm hết sức cấp thiết để
- 20 -
phát triển du lịch bền vững mà trong thực tế, hầu như chưa khu du lịch nào
làm được.
Vào những ngày cao điểm, du khách đông, lượng rác thải gia tăng
khiến cho công tác vệ sinh môi trường nhiều khi trở thành vấn đề nan giải vì
vừa phải đảm bảo thu gom rác thải kịp thời, tránh ô nhiễm môi trường và mất
mỹ quan, vừa phải đảm bảo việc tôn trọng du khách.
1.4.2. Ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh
Tính mùa vụ gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh của
ngành du lịch. Lượng khách tăng lên đột ngột với số lượng lớn trong mùa du
lịch đồng nghĩa với việc các nhu cầu cần được đáp ứng của du khách tăng lên
với số lượng lớn hơn và đa dạng hơn rất nhiều. Các nhà quản lý gặp nhiều
khó khăn từ khâu xây dựng các tour, dịch vụ vận chuyển khách, lưu trú, ăn
uống,… cho đến kiểm soát giá cả, chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ.
Tình trạng mất cân đối nghiêm trọng cung - cầu thường dẫn đến việc khách
phân tán vào các nhà nghỉ tư nhân - nơi mà công tác quản lý theo ngành còn
nhiều khó khăn và bất cập. Ở loại hình dịch vụ nhà hàng ăn uống, khi lượng
du khách quá lớn thì công tác quản lý, kiểm soát về giá cả, về an toàn thực
phẩm,… gặp những trở ngại rất lớn. Đối với công tác quản lý môi trường và
bảo đảm an ninh cho du khách cũng vấp phải những khó khăn tương tự trong
việc xuống cấp nhanh chóng, nghiêm trọng, gây khó khăn và tốn kém trong
việc tôn tạo, tu bổ các công trình. Tình trạng này càng khiến cho chi phí khấu
hao tăng lên, giá cả dịch vụ tăng theo và làm giảm đi khả năng cạnh tranh
trong kinh doanh. Để giảm thiểu chi phí, các đơn vị kinh doanh phải sử dụng
nhiều biện pháp khác nhau. Một trong các biện pháp thường được sử dụng để
- 22 -
giảm chi phí ở khối các khách sạn là cho một số lao động nghỉ việc không
hưởng lương và giảm lương của số lao động còn lại, mặc dù số lao động cố
định trong các công ty này đã được tính toán hạn chế ở mức thấp nhất. Biện
pháp này gây tác động xấu đối với đời sống vật chất và tinh thần của người
lao động trong doanh nghiệp. Tác động này cũng tương tự đối với khối nhà
hàng. Ở các nhà hàng tư nhân quy mô nhỏ và các dịch vụ khác, mùa vắng
khách thu nhập sẽ giảm hẳn nếu không muốn nói là không có việc làm. Hiện
tượng này đồng nghĩa với việc “làm một tháng, ăn cả năm” và dễ dẫn đến tâm
lý làm ăn kiểu “chộp giật” trong mùa du lịch. Tâm lý kinh doanh này thường
dẫn đến việc tăng giá hàng hoá và dịch vụ bừa bãi, ép giá đối với du khách và
tranh giành khách lẫn nhau gây mất trật tự, mỹ quan khu du lịch và mất thiện
cảm với du khách.
1.4.3. Ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực
Mùa du lịch ngắn là nguyên nhân sử dụng không hiệu quả của cơ sở vật
chất kỹ thuật và lực lượng lao động được đào tạo cơ bản có tay nghề cao, gây
nên sự lãng phí lao động, làm giảm mối quan tâm của nhiều người lao động
trong việc rèn luyện nâng cao tay nghề của mình
Công việc theo tính chất mùa vụ, không ổn định trong năm thường tác
động lớn đến tâm lý của người lao động vì vậy hiệu quả lao động không cao.
Mùa hè khối lượng công việc quá nhiều gây sự mệt mỏi và quá tải cho người
lao động, mùa đông lại không có việc hoặc có việc để làm nhưng mức lương
rất thấp do các cơ sở kinh doanh du lịch hầu như không có khách, đóng cửa.
Điều này dẫn đến hiện tượng người lao động phải chuyển đổi việc làm ngoài
mùa vụ hoặc bỏ việc, thất nghiệp.
giảm lao động, khiến cho du khách đi du lịch trong thời gian này khó có thể
- 24 -
có được những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu của mình nhất là nhu cầu đối với
các dịch vụ bổ sung.
1.4.5. Những ảnh hưởng khác
Vào mùa du lịch, khi lượng khách tăng lên với số lượng lớn thì nhu cầu
về lương thực, thực phẩm, sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ, dịch vụ,… cũng
tăng theo. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng tăng vọt của giá cả các loại hàng
hoá và dịch vụ đó. Hậu quả của việc tăng giá đó không chỉ tác động trực tiếp
vào du khách mà còn ảnh hưởng tới cả dân cư trong vùng, khiến họ phải chịu
một giá cả sinh hoạt đắt đỏ nhiều khi đến bất hợp lý. Một bộ phận dân cư
trong vùng tham gia vào hoạt động du lịch với tư cách dịch vụ hoặc thương
mại thì kiếm lợi trong thời gian này. Còn đại đa số người dân phải chịu hậu
quả dẫn đến tâm lý không tốt đối với khách du lịch nói riêng và hoạt động du
lịch nói chung. Tâm lý này, trong nhiều trường hợp đã dẫn đến những hành
động thiếu ý thức đối với việc bảo vệ tài nguyên du lịch của người dân địa
Tuy nhiên, không chỉ có các tác động một cách tiêu cực mà tính mùa vụ
còn có các tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của địa phương. Vào
mùa du lịch, khi lượng khách tăng lên một cách đáng kể ở các khu du lịch thì
các nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cũng tăng lên rất cao. Điều đó có nghĩa là
các cơ sở kinh doanh cả nhà nước và tư nhân ở khu du lịch đó có rất nhiều cơ
hội để mở rộng sản xuất kinh doanh, điều này buộc họ phải tuyển thêm lao
động, mở nhiều loại hình dịch vụ đa dạng mà kết quả là làm đa dạng các loại
hình dịch vụ, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập. Như vậy, trong mùa
du lịch các cơ sở kinh doanh ở các khu du lịch đã đóng góp nghĩa vụ cho ngân
sách nhà nước một khoản đáng kể. Mùa du lịch ở các khu du lịch tạo ra "Cầu"
tương đối về lương thực, thực phẩm và hàng hoá đã thúc đẩy các ngành kinh
tế khác phát triển và giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho các lực
lượng lao động gián tiếp khác.