ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG THỊ THU HÀ
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÍNH MÙA VỤ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: TS. Trần Hữu Nam
HÀ NỘI - 2008 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH DOANH LỮ HÀNH VÀ TÍNH
3.1.1. Một vài dự báo về lữ hành thế giới trong tương lai 75
3.1.2. Một vài dự báo về lữ hành Việt Nam và Hà Nội 77
3.2 . Quan điểm phát triển du lịch và phương hướng hạn chế tính thời
vụ trong kinh doanh lữ hành trên địa bàn Hà Nội 78
3.2.1. Quan điểm chung 78
3.2.2. Phương hướng và mục tiêu cụ thể 79
3.3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị 81
3.3.1. Các giải pháp 81
3.3.2. Kiến nghị 95
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
1
2
Quốc tế như Sea Games 22, ASEM 5, APEC14 đã tạo ra vị thế cho du lịch
thủ đô và chứng tỏ tiềm năng phát triển loại hình du lịch sự kiện, du lịch
MICE, du lịch văn hoá vô cùng to lớn của Hà Nội. Bởi vậy, Hà Nội được xem
như là điểm đến lý tưởng cho khách du lịch Quốc tế và khách nội địa.
Tuy nhiên, có một thực trạng trái ngược là mặc dù Hà Nội được nhìn nhận
như là một điểm đến lý tưởng nhưng hoạt động du lịch ở đây vẫn phải chịu
ảnh hưởng rất lớn, bị động trước những bất lợi do tính thời vụ du lịch gây ra.
Đối với từng lĩnh vực kinh doanh lữ hành (Nội địa đến, inbound), các cơ sở
cung cấp dịch vụ du lịch, thị trường khách (khách công vụ, khách thương gia,
khách gia đình…). Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp cụ thể để khắc phục
những bất lợi do tính thời vụ gây ra là việc làm có ý nghĩa sống còn cho sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp du lịch, quyết định đến hiệu quả kinh
doanh, đồng thời tạo dựng được vị thế cho các doanh nghiệp lữ hành thủ đô.
Vậy đâu là những yếu tố tạo ra tính thời vụ du lịch trên địa bàn Hà Nội?
Nó tác động đến hoạt động kinh doanh lữ hành ra sao? Các doanh nghiệp lữ
hành Hà Nội phải chủ động làm gì để đón bắt thời cơ ở thời kỳ cao điểm cũng
như chủ động đối mặt với những khó khăn thời kỳ thấp điểm? Phải làm gì để
duy trì và ổn định hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trước tác động
của quy luật thời vụ? Để tìm lời giải đáp cho vấn đề này tác giả đã mạnh dạn
thực hiện đề tài: “Giải pháp hạn chế tính thời vụ của các doanh nghiệp lữ
hành trên địa bàn Hà Nội’ làm đề tài luận văn của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu tính thời vụ trong hoạt động du lịch, luận văn chỉ ra
những nhân tố quyết định tính thời vụ trong du lịch nói chung và du lịch Hà
Nội nói riêng; đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tính thời vụ trong hoạt
động du lịch tại thành phố Hà Nội.
+ Công ty Điều hành Hướng dẫn Du Lịch Việt Nam – Vinatour
+ Công ty TNHH du lịch Việt Ý
+ Công ty du lịch dịch vụ Tây Hồ
+ Công ty liên doanh Hồ Gươm – Diethelm
+ Công ty lữ hành Saigontourist chi nhánh Hà Nội
Thời gian nghiên cứu là từ năm 2003 đến 2006 4
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp thống kê, phân tích hệ thống
- Phương pháp tiếp cận thực tiễn
- Phương pháp so sánh và mô hình hoá…
4. Dự kiến những đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học: luận văn hệ thống hoá và bổ sung về mặt lý luận và chỉ
ra những nguyên nhân của tính thời vụ trong hoạt động lữ hành.
- Về mặt thực tiễn: Đề xuất các giải pháp hạn chế tính thời vụ đối trong
hoạt động của các doanh nhiệp lữ hành Hà Nội.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Những lý luận cơ bản về kinh doanh lữ hành và tính thời vụ
trong kinh doanh lữ hành
Chương 2. Thực trạng thời vụ du lịch trên địa bàn Hà Nội
Chương 3. Một số giải pháp hạn chế tính thời vụ trong kinh doanh lữ
hành trên địa bàn Hà Nội
mang tính mở sẽ chiếm ưu thế trong sự lựa chọn của khách hàng. Bởi sự phát
triển như vũ bão của khoa học công nghệ. Thế giới bị thu hẹp do sự phát triển
của công nghệ thông tin; tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng dễ dàng lựa
chọn sản phẩm. Vì thế các nhu cầu sẽ đa dang và phong phú hơn. 6
1.1.1.2 Kinh doanh lữ hành
a. Khái niệm:
Theo PGS – TS. Nguyễn Văn Đính (Giáo trình quản trị kinh doanh lữ
hành – NXb Thống kê, trang 15): “Kinh doanh lữ hành(Tour Operator
business) là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các
chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương
trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện,
tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Các doanh nghiệp lữ
hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành”.
Kinh doanh lữ hành hiểu theo nghĩa rộng là tổ chức các hoạt động
nhằm cung cấp các dịch vụ được sắp đặt trước nhằm thoả mãn đúng các nhu
cầu của con người trong sự di chuyển để thu lợi nhuận. Kinh doanh lữ hành
được thể hiện bởi các doanh nghiệp lữ hành
Kinh doanh lữ hành hiểu theo nghĩa hẹp là kinh doanh chương trình du
lịch. Trong các văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về du lịch của
Việt Nam kinh doanh lữ hành được định nghĩa như sau: “Kinh doanh lữ hành
là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục
đích sinh lợi”. Định nghĩa này xác định sản phẩm của kinh doanh lữ hành là
chương trình du lịch. Kinh doanh lữ hành tức là kinh doanh chương trình du
lịch. Định nghĩa này làm cho nội dung của hoạt động kinh doanh lữ hành
nghèo nàn đi, không phản ánh đầy đủ bản chất của nó.
b. Thị trường và cung – cầu trong kinh doanh lữ hành
* Thị trường
* Căn cứ vào nguồn khách của kinh doanh lữ hành người ta chia như sau:
- Chủ thể mua với mục đích tiêu dùng gồm có khách du lịch quốc tế và
khách du lịch nội địa. Trong đó, Luật du lịch Việt Nam định nghĩa cụ thể như sau:
+ “Khách du lich Quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước
ngoài cư trú tại Việt Nam ra nứơc ngoài du lịch”. Theo cách định nghĩa này,
khách du lịch Quốc tế sẽ bao gồm: khách du lịch từ nước khác đến Việt Nam
(inbound), khách du lịch từ là người Việt Nam hoặc sinh sống tại Việt Nam đi
du lịch các nước khác (outbound). 8
+ “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài
cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. Như vậy,
khách du lịch nội địa sẽ bao gồm: khách từ các địa phương khác đến du lịch
tại một địa bàn du lịch (ví dụ như khách từ các địa phương khác đến du lịch
Hà Nội ) và khách từ một địa phương đi du lịch các nơi khác trong phạm vi
lãnh thổ Việt Nam (Ví dụ khách từ Hà Nội đi các điểm du lịch trong cả nước).
- Chủ thể mua với mục đích kinh doanh bao gồm: đại lý lữ hành là
công ty lữ hành nước ngoài và đại lý lữ hành là công ty lữ hành trong nước.
* Căn cứ vào động cơ của chuyến đi người ta chia như sau: khách du lịch
thuần tuý, khách công vụ, khách du lịch nghiên cứu.
* Căn cứ vào mô hình tổ chức chuyến đi người ta chia làm 3 loại: khách theo
đoàn, khách lẻ và khách từ các hãng lữ hành gửi khách.
Thị trường khách của kinh doanh lữ hành là người mua sản phẩm của
doanh nghiệp lữ hành. Người mua để tiêu dùng, người mua để bán. Người
mua là cá nhân, gia đình hay nhân danh tổ chức, thậm chí chính là các doanh
nghiệp lữ hành.
* Căn cứ vào nguồn khách của kinh doanh lữ hành người ta chia như
sau:
Cung du lịch được tạo bởi một số yếu tố sau:
- Tài nguyên du lịch
- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
- Những dịch vụ phục vụ khách du lịch
- Hàng hoá cung cấp cho khách du lịch
- Cơ chế chính sách của nhà nước
Tài nguyên du lịch là “chất liệu” xây dựng các chương trình du lịch. Kinh
doanh vận chuyển có vai trò cung cấp các dịch vụ vận chuyển khách du lịch
từ nơi ở thường xuyên tới những nơi có tài nguyên du lịch cũng như trong
suốt thời gian du lịch. Kinh doanh lưu trú cung cấp các dịch vụ ngủ, nghỉ, ăn
uống cho khách du lịch trong thời gian họ đi du lịch. Cơ quan quản lý nhà
nước về du lịch thực hiện chức năng quản lý với các doanh nghiệp, đóng vai
trò quan trọng trong việc khuyếch trương hình ảnh của một quốc gia và một
vùng. Các doanh nghiệp lữ hành là các nhà tổ chức du lịch, hay là những nhà
cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch. 10
Một số nhân tố tác động đến cung du lịch:
- Giá của hàng hoá và dịch vụ từ các nhà cung cấp dịch vụ.
- Tài nguyên du lịch
- Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
- Chính sách của chính phủ
- Khoa học kỹ thuật
- Cạnh tranh
- Nhu cầu du lịch
Tuy nhiên, nhiều trường hợp, cung du lịch chủ động tạo ra nhu cầu. Mối
quan hệ cung - cầu là mối quan hệ tương tác, qua lại lẫn nhau.
c. Phân loại kinh doanh lữ hành
- Căn cứ vào tính chất hoạt động để tạo ra sản phẩm:
- Căn cứ vào phương thức và phạm vi hoạt động:
+ Kinh doanh lữ hành gửi khách bao gồm cả gửi khách quốc tế, gửi
khách nội địa, là loại kinh doanh mà hoạt động chính của nó là tổ chức, thu
hút khách du lịch một cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch. Loại kinh
doanh lữ hành này thích hợp với những nơi có nhu cầu du lịch lớn. Các doanh
nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành gửi khách được gọi là công ty gửi khách.
+ Kinh doanh lữ hành nhận khách bao gồm cả nhận khách quốc tế và
nội địa, là loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó là xây dựng các
chương trình du lịch, quan hệ với các công ty lữ hành gửi khách để bán các
chương trình du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho
khách thông qua các công ty lữ hành gửi khách. Loại kinh doanh này thích
hợp với những nơi có tài nguyên du lịch nổi tiếng. Các doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành loại này được gọi là các công ty nhận khách.
+ Kinh doanh lữ hành kết hợp có nghĩa là sự kết hợp giữa kinh doanh lữ
hành gửi khách và kinh doanh lữ hành nhận khách. Loại kinh doanh này thích
hợp với doanh nghiệp có quy mô lớn, có đủ nguồn lực để thực hiện các hoạt
động gửi khách và nhận khách. Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ
hành kết hợp được gọi là công ty du lịch tổng hợp.
1.1.2. Doanh nghiệp lữ hành và các loại hình doanh nghiệp lữ hành
1.1.2.1 Doanh nghiệp lữ hành
a. Định nghĩa 12
Doanh nghiệp lữ hành là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh
doanh chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức, xây dựng, bán và thực hiện các chương
trình du lịch trọn gói cho khách du lịch. Ngoài ra, công ty lữ hành còn có thể
tiến hành các hoạt động trung gian, bán sản phẩm của các nhà cung cấp du
lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác, đảm bảo phục
vụ các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu đến khâu cuối cùng.
+ Dịch vụ vận chuyển hàng không (đăng ký đặt chỗ, bán vé máy bay)
+ Dịch vụ vận chuyển đường sắt (đăng ký đặt chỗ, bán vé tàu hoả)
+ Dịch vụ vận chuyển tàu thuỷ (đăng ký đặt chỗ, bán vé tàu thuỷ)
+ Dịch vụ vận chuyển ô tô (đăng ký đặt chỗ bán vé, cho thuê ô tô)
+ Dịch vụ vận chuyển bằng các phương tiện khác (đăng ký đặt chỗ, bán
vé, cho thuê)
+ Dịch vụ lưu trú và ăn uống (đăng ký đặt chỗ các dịch vụ trong khách
sạn, nhà hàng)
+ Dịch vụ tiêu thụ chương trình du lịch (đăng ký đặt chỗ, bán vé
chuyến du lịch)
+ Dịch vụ bảo hiểm (bán vé bảo hiểm)
+ Dịch vụ tư vấn thiết kế lộ trình
+ Dịch vụ bán vé xem biểu diễn nghệ thuật, tham quan, thi đấu thể thao
và các sự kiện khác.
Các nhà cung cấp sản phẩm du lịch tiêu thụ sản phẩm chủ yếu thông
qua các hãng lữ hành, chỉ có tỷ lệ rất nhỏ là bán trực tiếp cho khách. Do nhu
cầu ở cách xa cung du lịch và tính chất tổng hợp đồng bộ của cầu phần lớn
các sản phẩm du lịch được bán một cách gián tiếp thông qua các đại lý lữ
hành.
- Chƣơng trình du lịch:
Chương trình du lịch là sản phẩm chủ yếu và đặt trưng của các doanh
nghiệp kinh doanh lữ hành. Có khá nhiều định nghĩa về chương trình du lịch.
Trong đó có thể nêu ra các định nghĩa sau đây:
Trong cuốn “Phát triển nghề lữ hành”, tác giả Gagnon và Ociepka định
nghĩa: “Chương trình du lịch là một sản phẩm lữ hành được xác định mức
giá trước, khách có thể mua riêng lẻ hoặc mua theo nhóm và có thể tiêu dùng 14
riêng lẻ và tiêu dùng chung với nhau. Một chương trình du lịch có thể bao
15
trình du lịch tàu thuỷ; Chương trình du lịch tôn giáo tín ngưỡng; chương trình
du lịch sinh thái; Chương trình du lịch thể thao, khám phá và mạo hiểm (leo
núi, lặn biển, đến các bản dân tộc); Chương trình du lịch thăm quan chiến
trường xưa, chương trình du lịch tổng hợp…
+ Căn cứ vào sự có mặt của hướng dẫn viên có chương trình du lịch có
hướng dẫn và chương trình du lịch không có hướng dẫn
+ Căn cứ vào số lượng khách có chương trình du lịch cho khách lẻ và
chương trình du lịch cho khách đoàn.
+ Căn cứ vào thời gian của chuyến đi có chương trình du lịch ngắn
ngày và dài ngày
+ Căn cứ vào phạm vi du lịch có các chương trình du lịch quốc tế và du
lịch nội địa.
- Các sản phẩm khác:
Theo xu hướng hiện nay, các doanh nghiệp lữ hành có thể kinh doanh
rất nhiều các dịch vụ bổ trợ khác: như dịch vụ Visa, hộ chiếu, dịch vụ tư vấn
thương mại, chương trình du học, tổ chức các sự kiện văn hoá, xã hội, kinh tế,
thể thao lớn. Các loại sản phẩm và dịch vụ khác nhằm phục vụ khách du lịch
trong một chu trình khép kín để có điều kiện chủ động kiểm soát và bảo đảm
được chất lượng của chương trình du lịch.
1.1.2.2 Các loại hình doanh nghiệp lữ hành
* Theo cách phân chia Quốc tế, người ta phân các doanh nghiệp lữ
hành thành 2 loại, đó là
- Doanh nghiệp lữ hành nhận khách: bao gồm cả lĩnh vực nội địa và inbound.
- Doanh nghiệp lữ hành gửi khách: bao gồm cả lĩnh vực nội địa và outbound.
* Theo cách phân chia Việt Nam thì các doanh nghiệp lữ hành bao gồm:
- Doanh nghiệp lữ hành nội địa (vừa có chức năng nhận khách và vừa
có chức năng gửi khách).
- Doanh nghiệp lữ hành quốc tế(vừa có chức năng nhận khách -
nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế - xã hội, nhân tố tổ chức kỹ thuật, nhân tố
tâm lý, phong tục tập quán…Nhân tố tự nhiên bao gồm điều kiện khí hậu, thời
tiết. Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch. Ở những điều kiện
khí hậu không thuận lợi thì hoạt động du lịch không thể thực hiện được. Điều
kiện kinh tế - xã hội bao gồm mức thu nhập, điều kiện sống, thời gian nhàn 17
rỗi,…Nhân tố này góp phần không nhỏ tạo ra cung - cầu du lịch. Các nhân tố
tổ chức kỹ thuật bao gồm cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch (hệ thống
cơ sở lưu trú, ăn uống, phuơng tiện vận chuyển, đường xá, điện nước, phương
tiện liên lạc, giải trí…). Các nhân tố tâm lý, phong tục tập quán tác động đến
nhu cầu đi du lịch và việc lựa chọn điểm đến.
1.2.1.1. Đặc điểm của thời vụ
- Thời vụ là một quy luật có tính phổ biến ở tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Từ nông nghiệp, ngư nghiệp, khai thác, chế biến, sản xuất và
kinh doanh dù ở bất cứ lĩnh vực nào, sản xuất hay kinh doanh cũng không
nằm ngoài sự chi phối của quy luật này. Tính thời vụ tác động và gây ra
những hậu quả nhất định đối với từng lĩnh vực. Bởi thế, ở mỗi lĩnh vực cụ thể
người ta đã tìm mọi cách để hạn chế tối đa những tác động bất lợi của quy
luật này đến hoạt động sản xuất hay kinh doanh của mình.
- Mỗi một lĩnh vực, một ngành nghề lại có một thời vụ riêng. Ngành
nông nghiệp có thời vụ gieo trồng và gặt hái riêng, ngành khai thác khoáng
sản cũng có thời vụ riêng, ngành đánh bắt cũng có thời vụ riêng, mỗi lĩnh vực
sản xuất và kinh doanh cũng có thời vụ riêng. Do mỗi lĩnh vực, ngành nghề
lại có những đặc điểm riêng. Mức độ tác động của quy luật thời vụ cũng khác
nhau với từng lĩnh vực.
- Mỗi một lĩnh vực, một ngành nghề có thể có một hoặc nhiều thời vụ
trong năm. Điều này phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành, các yếu tố tạo
ra tính thời vụ của từng ngành mà người ta vận dụng để khai thác một hay
xẩy ra dưới tác động của các nhân tố xác định. Thời vụ du lịch là khoảng
thời gian của một chu kỳ kinh doanh, mà tại đó có sự tập trung cao nhất
của cung và cầu du lịch.
Trong cuốn “Từ điển kinh tế thị trường” đinh nghĩa: “Thời vụ du lịch
hay mùa du lịch là xu thế thay đổi có quy luật mang tính chất chu kỳ giữa
các mùa trong một năm mà những người du lịch đến một khu du lịch nào
đó thăm quan du lịch. Căn cứ vào cảnh sắc thiên nhiên đặc biệt của môi
trường, khí hậu tại các khu du lịch trong một thời gian nào đó trong năm
mà khách du lịch tới thăm khu du lịch rất đông đúc. Mùa này gọi là mùa
du lịch thịnh vượng. Trong những mùa khác, người đến thăm quan du lịch 19
rất ít thường được gọi là mùa vắng khách. Mùa du lịch phản ánh sự phân
bố đối với nhu cầu du lịch”.
Việc xác định thời vụ của từng loại hình du lịch được thực hiện dễ hơn,
bởi các dao động ở mỗi loại hình du lịch thường chỉ diễn ra một lần trong năm
như: du lịch nghỉ núi, du lịch nghỉ biển, du lịch chữa bệnh, du lịch MICE
Thời vụ du lịch của một trung tâm, một đất nước nào đó là tập hợp và
sự tác động tương hỗ giữa các dao động theo mùa của cung và cầu của các
loại hình du lịch được kinh doanh tại đó. Sự chênh lệch về thời gian giữa các
thể loại du lịch và cường độ biểu hiện của từng thể loại du lịch, chính là
nguyên nhân tạo ra đường cong thể hiện các dao động thời vụ của toàn bộ
hoạt động du lịch.
Thời gian của mùa du lịch chính là đại lượng thay đổi, chứ không phải
là bất biến. Nó phụ thuộc vào tính chất và xu hướng phát triển của hoạt động
du lịch. Có thể ví dụ và phân tích tình hình phát triển của tính thời vụ du lịch
tại Châu Âu. Vào thời kỳ cách đây 200 năm đối với giới quý tộc Châu Âu
mùa đông kéo dài ở Riviera là thời gian để giải trí, còn mùa hè ngắn ngủi là
mùa chữa bệnh. Sau đó, với sự quần chúng hoá trong du lịch thì các trung tâm
Tháng
Việt
Nam
Hà
Nội
Hải
Phòng
Quảng
Ninh
Huế
Nha
Trang
Vũng
Tàu
Tp.
HCM
Tháng 1
252.5
263.4
104.1
115.6
289.8
115.4
115.3
259.3
Tháng 2
258.8
257.1
102.5
139.1
2.2
Tháng 6
22.6
7.4
129.6
116.8
2.1
63.2
95.3
5.5
Tháng 7
31.5
7.2
90.7
167.5
1.2
60.7
152.4
1.0
Tháng 8
31.8
10.2
82.0
161.8
1.0
75.9
149.7
1.2
Tháng 9
51.9
240.3
120.0
98.9
255.8
(Nguồn: Tổng cục Du lịch)
Các số liệu ở bảng chỉ cho chúng ta thấy rằng, chỉ số của thời vụ lớn
nhất vào tháng 2 tại các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Huế, vào tháng 7
tại Quảng Ninh, Vũng Tàu. Đó là tình hình thực tế kinh doanh du lịch quốc tế
chủ động của Việt Nam trong những năm gần đây.
Ở Việt Nam, những năm trước đây người ta đi du lịch Hạ Long chủ yếu
là tắm biển vào mùa hè nhưng hiện nay không chỉ tắm biển vào mùa hè mà
người ta đến Hạ Long quanh năm để du thuyền trên vịnh, tham quan hang
động…
1.2.2.2. Đặc điểm thời vụ của du lịch
a. Thời vụ trong du lịch mang tính phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có
hoạt động du lịch
Về mặt lý thuyết, nếu một vùng du lịch kinh doanh nhiều thể loại du
lịch và đảm bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong các tháng của năm 22
(luôn giữ được lượng khách và doanh thu nhất định) thì tại vùng đó tính thời
vụ là không tồn tại. Tuy nhiên, khả năng đó là rất khó thực hiện vì có rất
nhiều yếu tố tác động lên hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và kinh
doanh lữ hành nói riêng, làm cho hoạt động đó khó có thể đảm bảo được
cường độ hoạt động đều đặn trong năm và vì vậy tồn tại tính thời vụ trong du
lịch. Ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động du lịch cũng như
kinh doanh lữ hành đều chịu tác động và bị chi phối bởi quy luật này. Nó
quyết định đến hoạt động và hiệu quả kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp
lữ hành.