Nghiên cứu các điều kiện để phát triển du lịch Thiền (Zen Tourism) ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THÙY LAN



1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 8
5. Phương pháp nghiên cứu: 8
6. Cấu trúc của luận văn : 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH THIỀN
10
1.1 Phật giáo và đạo Phật tại Việt Nam: 10
1.1.1 Sự ra đời của đạo Phật: 10
1.1.2 Giáo lý đạo Phật: 11
1.1.2.1 Tứ Diệu Đế: 11
1.1.2.2 Bát chính đạo 12
1.1.2.3 Thập nhị nhân duyên 16
1.1.2.4 Tam Tạng Kinh điển 23
1.1.3 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 28
1.2 Thiền Tông: 30
1.2.1 Khởi nguyên của Thiền Tông và Thiền Tông Trung Hoa: 30
1.2.2 Thiền Tông Việt Nam: 31
1.2.3 Các phương pháp tu thiền tại Việt Nam 32
1.3 Du lịch Thiền: 42
1.3.1 Khái niệm về du lịch Thiền: 42
1.3.2 Đặc điểm của du lịch Thiền: 43
1.3.3 Vai trò của du lịch Thiền 45
3
2.6.1 Thuận lợi 84
2.6.2 Khó khăn 86
Tiểu kết chương 2: 86
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC DU LỊCH
THIÊN Ở VIỆT NAM 88
3.1 Căn cứ đề xuất 88
3.1.1 Định hướng phát triển du lịch Việt Nam: 88
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch Thiền tại Việt Nam: 90
3.2 Đề xuất xây dựng và khai thác tour du lịch Thiền: 91
3.2.1 Xây dựng tour du lịch Thiền Hà Nội – Thiền viện Trúc Lâm Tây
Thiên – Hà Nội 92
3.2.1 Xây dựng tour du lịch Thiền Hà Nội - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử
– Hà Nội 93
3.2.2 Các biện pháp tăng cường điều kiện phát triển du lịch Thiền. 96
3.2.2.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch: 96
3.2.2.2 Tạo nguồn khách thông qua các hoạt động hướng dẫn thực hành
thiền: 96
3.2.2.3 Kiến nghị với nhà nước, Bộ thể thao văn hóa và du lịch, Tổng cục
du lịch và các cấp chính quyền 97
Tiểu kết chương 3: 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103

4


Chùa Hương
61 5 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch vốn là một ngành dịch vụ cung cấp các sản phẩm dịch vụ đem
lại nhiều lợi ích cho các đơn vị tổ chức đi du lịch, các điểm đến du lịch và
người tiêu dùng những sản phẩm du lịch đó – khách du lịch. Với lợi thế của
từng vùng và từng quốc gia trong việc khai thác các điều kiện, tiềm năng du
lịch, phát triển các sản phẩm dịch vụ căn cứ nhu cầu của du khách thì một loạt
các sản phẩm du lịch đã được cung cấp trong hai thế kỷ gần đây với nhiều
dạng thức và mục đích đi du lịch khác nhau: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch
MICE, du lịch văn hoá, du lịch chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch biển, du
lịch thăm thân…. và cùng với sự thay đổi nhận thức thế giới quan và sự phát
triển của những tôn giáo, các loại hình thức du lịch tâm linh và du lịch hành
hương ngày càng phát triển.
Phát triển du lịch tại khắp các Châu lục đã tạo điều kiện cho khách du
lịch hiểu biết nhiều hơn về các địa điểm du lịch, các nền văn minh, các đặc
trưng văn hoá, các công trình và tuyệt tác không chỉ của thiên nhiên mà có sự
góp sức của bàn tay con người và những nghệ nhân qua các thời đại. Tuy

nghiệp kinh doanh lữ hành, người dân nhiệt tình tham gia vào loại hình du
lịch này. Mặc dù du lịch Thiền đang được đánh giá là sản phẩm du lịch mới lạ
với nhiều doanh nghiệp lữ hành ở Việt Nam nhưng nhiều chính sách của các
cơ quan hữu quan cũng như sự năng động sáng tạo của công ty lữ hành cũng 7
chưa đủ sức thuyết phục để hình thành nên loại hình du lịch hấp dẫn và bền
vững với môi trường này.
Chính những lợi ích thu được từ loại hình du lịch Thiền đã tạo động lực
thúc đẩy cần phải nghiên cứu các điều kiện để phát triển du lịch Thiền, các
tiềm năng để phát triển du lịch Thiền tại Việt Nam mà các nhà làm du lịch,
các doanh nghiệp chưa thực sự chú tâm. Đồng thời, việc nghiên cứu loại hình
du lịch này với mong muốn tạo ra một loại hình du lịch mới thu hút du khách,
tạo công ăn việc làm, đem lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp lữ hành
và nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Những hoạt động tìm hiểu và nghiên
cứu này dựa trên nền tảng của các tác động về văn hoá của Phật giáo và hoạt
động truyền giáo phối hợp với các tín ngưỡng bản địa, các hiệu quả thực sự
của việc thực hành các phương pháp tu thiền đối với hoạt động của con người
và sức khoẻ của con người
Xuất phát từ các điều kiện và tiềm năng phát triển loại hình du lịch này
tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các điều kiện để phát triển du lịch
Thiền (Zen tourism) ở Việt Nam ”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Du lịch Thiền trên thế giới rất phát triển và đối với một số quốc gia như
Ấn Độ là một sản phẩm du lịch chính và cũng là một sản phẩm độc đáo thu
hút du khách của các quốc gia theo đạo Phật nói chung. Việc nghiên cứu về
du lịch Thiền trên thế giới được tính như một hình thức du lịch đặc thù tại một
số quốc gia, còn các hoạt động thiền định dưới hình thức thiền định Phật giáo
hoặc Yoga được phổ biến, lan rộng ra khắp các Châu lục.

trước đó về du lịch Thiền, các điều kiện phát triển du lịch Thiền. Thu thập
thông tin về những công ty lữ hành đang khai thác các sản phẩm du lịch 9
Thiền, những yếu tố tác động đến hoạt động du lịch Thiền từ đó phân tích
tổng hợp dữ liệu.
Phương pháp quan sát thực hiện từ những chuyến thực địa của tác giả
tại nhiều địa phương và những công ty lữ hành có chương trình du lịch liên
quan đến du lịch Thiền và phỏng vấn các đối tượng có liên quan.
6. Cấu trúc của luận văn :

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch Thiền
Chương 2: Các điều kiện và khả năng phát triển du lịch Thiền ở Việt Nam
Chương 3: Đề xuất xây dựng và khai thác phát triển du lịch Thiền ở Việt Nam


ngài được truyền đạo đến hết thảy dân chúng mà không dành riêng cho tầng 11
lớp nào cả không như đạo Bà La Môn chỉ dành cho các nhà quý tộc Ấn Độ
thời đó. Sau khi ngài nhập Niết bàn, giáo pháp và đạo của Ngài đã được
truyền bá khắp nơi và sang cả các quốc gia ở những châu lục khác. 1.1.2 Giáo lý đạo Phật:
Sau khi giác ngộ trở thành bậc toàn năng, Đức Phật đã đi thuyết pháp ở
nhiều nơi và thu hút được nhiều đệ tử đi theo Ngài, giáo lý của Ngài đã được
truyền bá cho các tăng ni, Phật tử với nội dung chính của các buổi thuyết pháp
về các điều Ngài đã giác ngộ và thấu triệt như: Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân
Duyên, Bát Chính Đạo, Tam Tạng Kinh….
1.1.2.1 Tứ Diệu Đế:
Trọng tâm giáo lý của Đức Phật nằm trong Tứ Diệu Đế mà Ngài tuyên
dương ngay trong bài thuyết pháp đầu tiên của Ngài cho những người bạn cũ,
5 nhà khổ hạnh ở vườn Lộc Uyển. Trong bài thuyết pháp ấy như chúng ta
thấy trong nguyên bản, Tứ Diệu Đế (bốn chân lý cao cả) được nói một cách
vắn tắt. Nhưng có vô số những chỗ khác trong các kinh điển nguyên thủy
trong Tứ Diệu Đế được giảng đi giảng lại với nhiều chi tiết hơn, và bằng
nhiều cách khác nhau. Bốn chân lý cao cả ấy là:
1. Khổ Đế – sự thật về khổ: Đây là sự thật về các vấn đề của đời sống,
qua sinh, già, bệnh và chết và những ưu sầu thất vọng.
2. Tập Đế – sự thật về nguồn gốc của khổ: Trong sự thật này, Đức Phật
quán xét và giải thích sự khởi sinh của hoạn khổ từ nhiều nguyên
nhân và điều kiện. Đây là sự thật sâu xa về luật Nhân – Quả và
Duyên Nghiệp. Tất cả các loại hoạn khổ trên đời đều bắt đầu từ lòng
tham, và các tham muốn ích kỷ đều bắt nguồn từ si mê, vô minh.


13
Chính nghiệp : làm đúng.
Chính mạng : sống đúng.
Chính tinh tiến : siêng năng đúng.
Chính niệm : nhớ đúng.
Chính định : tập trung đúng.
Hầu hết giáo lý Phật giảng dạy suốt 45 năm tại thế đều đề cập con
đường ấy bằng cách này hay cách khác. Ngài giảng giải nó theo nhiều hình
thức khác nhau, dùng những danh từ khác nhau tùy người nghe, tùy trình độ
phát triển và khả năng lãnh hội của họ. Nhưng tinh túy của hàng ngàn bài
thuyết pháp rải rác trong các kinh điển Phật giáo đều nằm trong Bát chính
đạo.
Tám yếu tố ấy nhằm mục đích giúp phát triển và kiện toàn ba khía cạnh
cốt yếu trong sự tu tập và giới luật Phật giáo là Giới, Ðịnh và Tuệ . Bởi thế ta sẽ
hiểu rõ hơn về Bát chính đạo nếu phân nhóm và giải thích theo ba đề mục ấy.
Giới căn bản trên từ và bi bao gồm 3 yếu tố của Bát chính đạo: Chính
ngữ, chính nghiệp và chính mạng (số 3, 4, 5 trong bảng kê trên).
Chính ngữ có nghĩa là:
- Không nói dối.
- Không nói xấu, vu khống, hay nói những lời có thể gây thù ghét, bất
hòa, tan rã giữa những cá nhân hay những nhóm người.
- Không nói cứng cỏi, thô lỗ, vô lễ, ác độc, thóa mạ người.
- Không nói lời mách lẻo, vô ích, xuẩn ngốc.

Khi tránh được những hình thức ngôn ngữ sai quấy và có hại ấy, tất
nhiên người ta phải nói sự thật, phải dùng những từ ngữ thân thiện, khoan
hòa, êm ái, và nhã nhặn, có ý nghĩa và lợi ích. Người ta không nên nói năng
15
trì những cảm giác hỉ và lạc, cùng với một vài hoạt động tâm linh (tầm, tứ). Ở
thiền thứ hai, tất cả mọi hoạt động của tâm (tầm, tứ) biến mất, sự an tĩnh và
nhất tâm được phát triển, cảm giác hỉ và lạc vẫn còn được giữ lại. Ở thiền thứ
ba, hỉ cũng biến mất nhưng lạc vẫn còn, cùng với tâm xả. Ở thiền thứ tư, mọi
cảm giác (thân) lạc khổ, (tâm) hỉ ưu đều tan biến, chỉ còn lại xả và sự nhất
tâm thuần tịnh (xả niệm thanh tịnh).
Như thế tâm được huấn luyện, khép vào kỷ luật và phát triển nhờ chính
tinh tiến, chính niệm và chính định.
Chúng ta đã bàn qua sáu yếu tố của Bát chính đạo (3,4,5,6,7,8) làm đối
tượng cho Giới và Ðịnh. Hai yếu tố còn lại, Chính tư duy và Chính kiến, làm
nên trí tuệ.
Chính tư duy liên hệ đến những tư tưởng về từ bỏ, giải thoát, tình yêu
vô ngã, bất bạo động trải đến muôn loài. Một điều thú vị và quan trọng cần
chú ý ở đây là những ý tưởng về giải thoát, tình yêu vô ngã và bất bạo động
được nhóm họp về phía trí tuệ. Ðiều này tỏ rõ rằng trí tuệ chân thật vốn có
những đức tính cao quý ấy, rằng mọi tư tưởng về dục vọng vị kỷ, sân hận hay
bạo động đều là hậu quả của sự thiếu trí tuệ trong mọi lĩnh vực đời sống cá
nhân, xã hội, chính trị.
Chính kiến là sự thấy biết mọi sự đúng như thật, và chính Tứ Diệu Đế
mới giải thích sự vật đúng như thật. Bởi vậy chính kiến rốt cuộc là thấy, hiểu
Tứ Diệu Đế. Sự hiểu biết này là trí tuệ cao cả nhất, thấy được thực tại tối hậu.
Theo Phật giáo có hai loại hiểu biết: hiểu biết thông thường của chúng ta là
kiến thức, trí nhớ tích lũy, sự lãnh hội dựa trên một số dữ kiện. Nó không sâu
sắc lắm. Sự hiểu biết sâu sắc thật sự gọi là thâm nhập, thấy biết sự vật trong
bản chất của nó mà không cần tên. Sự thâm nhập này chỉ có thể có khi tâm đã
sạch mọi ô nhiễm và đã hoàn toàn phát triển nhờ thiền định. 16

như là một tiên quyết là làm sao biết được vấn đề con người từ đâu sinh ra?
Và khi chết sẽ đi về đâu?
Đây là giáo nghĩa cơ bản của những lời dạy căn bản của Đức Phật đối
với cách giải thích mọi hiện tượng nhân duyên sinh khởi và biến dịch của
nhân sinh cùng vũ trụ được Ngài triển khai rộng theo thời gian và không gian
của ba đời theo luật tắc nhân quả, qua nhận thức quán chiếu lưu chuyển và
hoàn diệt theo định thức duyên khởi quán hay còn gọi là duyên sinh quán.
Mười hai chi này làm nhân và duyên vào nhau mà hiện khởi theo chiều lưu
chuyển sinh khởi hay ngược lại, làm nhân duyên cho nhau mà biến diệt theo
chiều hoàn diệt trong nhận thức quán lưu chuyển và hoàn diệt. Theo kinh A-
hàm thì mười hai chi nhân duyên này được thành lập như sau: Vô minh,
Hành, Thức, Danh sắc, Lục xứ , Xúc, Thọ , Ái , Thủ , Hữu , Sinh , Lão tử .
1/ Vô minh, là một tiếng gọi khác của phiền não căn bản, tức là vì
phiền não che lấp phủ kín nên chúng ta không nhận thức một cách như thật về
sự vật và, không thông đạt được cái lý chân thật cùng khả năng lý giải rõ ràng
về những trạng thái tinh thần qua sự tướng của sự vật cùng đạo lý chân thật
của cuộc sống. Vô minh là chi thứ nhất của mười hai chi duyên khởi; vì phiền
não hoặc chúng biến chúng ta thành những kẻ vô trí, ngu si đặc biệt chúng ta
không nhận thức được đạo lý thế tục của những lời dạy Đức Phật.
2/ Hành, có nghĩa là hành động, tạo tác, cũng còn có nghĩa là biến hóa
dời đổi, là chi thứ hai trong mười hai chi duyên khởi.
- Tạo tác, có cùng nghĩa với nghiệp. Ở đây, trong mười hai duyên khởi
thì, hành là chi thứ hai trong mười hai chi duyên khởi. Hành có khả năng
chiêu cảm nghiệp nhân ba đời trong quá khứ cho quả báo hiện tại. Hành cũng
chỉ cho tất cả mọi họat động của thân và tâm của con người. 18
- Biến hóa dời đổi, ở đây hành theo nghĩa hữu vi pháp, chúng lệ thuộc
vào mọi hiện tượng hình thành và biến dịch của các pháp hữu vi, chúng do

nhận thức phân biệt về đối tượng. Ở đây chỉ có đệ lục thức của ý mới tổng
hợp được những đối tượng của các pháp rơi rớt lại từ tiền ngũ thức cộng với ý
tưởng khởi lên hình ảnh làm đối tượng cho ý duyên mà phát sinh ý thức có
đầy đủ sự nhận thức phân biệt đối với các hiện tượng sự vật đó mà sinh ra tác
dụng; nhưng vẫn còn dạng đơn thuần theo chức năng của ý thức.
4/ Danh sắc, là chi thứ tư của mười hai chi duyên khởi. Đây là chi gọi
chung cho một sinh thể được kết hợp giữa tâm (tinh thần) và vật (vật chất)
trong một cá thể mà thuật ngữ chuyên môn gọi là ngũ uẩn (sắc chỉ cho hình
sắc thân thể của một cá nhân, còn thọ, tưởng, hành, thức chỉ cho tâm thức
không có hình thể để có thể nhận thấy như vật thể của sắc) có được từ sự kết
hợp nhân duyên mà hình thành và hiện hữu. Ở đây danh chỉ cho phương diện
tâm, còn sắc chỉ cho phương diện vật chất.
Quan hệ và ý nghĩa giữa danh và sắc thì theo các bộ phái phát triển sau
này vẫn có những bất đồng về cách giải thích theo quan điểm nhận thức, vì
trình độ căn cơ và việc tu chứng đẻ ra. Theo Hữu bộ thì, thai sinh (danh sắc)
đã hình thành được căn cứ vào mười hai duyên khởi mà lý giải thì, trong mỗi
chi như vậy đều lấy ngũ uẩn làm thể cho nó. Ở đây ngũ uẩn sẽ xuất hiện khi
thần thức thác thai sinh ra kết quả trong vòng một sát-na tích tắc ban đầu, thời
gian này còn gọi là thức, là chi thức trong mười hai chi. Sau khi thần thức
thác thai xong, nhưng lúc đó bốn sắc căn chưa phát khởi và, trước khi lục xứ
chưa đầy đủ. Trong thời gian này gọi là danh sắc hay còn gọi là chi danh sắc,
trong khi đó theo các nhà Duy thức tông thì, cho rằng chủng tử của dị thục
(quả báo) uẩn chính là danh sắc. Do vậy trong mười hai duyên khởi ngoại trừ
chủng tử của thức gốc, lục căn, xúc và, thọ ra còn tất cả những chi khác đều
thuộc vào danh sắc. 20
5/ Lục xứ , chỉ cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và, ý, chính là sáu nơi (sáu
căn) có khả năng tiếp thu sáu ngoại cảnh (lục xứ) ở bên ngoài và, làm chỗ

7/ Thọ, có nghĩa là cảm thọ, cảm giác. Thọ được phát sinh từ sự duyên
khởi liên hệ lệ thuộc hợp tác giữa sáu cảm quan ( sáu căn) trong thân mỗi cá
thể, sáu đối tượng trần cảnh ở bên ngoài (sáu trần), cùng các chủ thể nhận
thức (sáu thức) hòa hợp tiếp xúc vào nhau mà hiện khởi ra cảm thọ hay, cảm
giác. Trong những trạng thái cảm thọ, cảm giác này có sự can thiệp của ý nên
thọ ở đây có trạng thái buồn, vui, không khổ không vui phát sinh tùy theo
thuộc tính cảm thụ của chúng. Ở đây trạng thái buồn vui tùy thuộc vào sự tác
ý lãnh nạp thuận nghịch đối với mọi sự phân biệt của ý còn bản thân của căn
trần, xúc không quyết định được những trạng thái này, mà chúng có được nhờ
vào sự can thiệp của ý tác động thuộc tinh thần, nên có những cảm thọ hay
những cảm giác khổ, vui, hoặc không khổ không vui.
8 / Ái, là chi thứ tám trong mười hai chi duyên khởi, có nghĩa là tham
luyến, chấp trước đối với tất cả mọi sự vật nói chung và con người nói riêng.
Thông thường chữ ái được hiểu theo một nghĩa là thương yêu, tham luyến
một chiều; nhưng đối với Phật giáo thì ái mang hai bộ mặt trái ngược nhau
như kinh Tăng chi bộ thì ái được đức Đạo sư định nghĩa như sau: “ái có thể
sinh ra ái, cũng có thể sinh ra ghét; ghét có thể sinh ra ái, cũng có thể sinh ra
ghét.”
9 / Thủ, là một tên gọi của phiền não, nó là chi thứ 9 trong mười hai
chi duyên khởi, tức là chỉ cho lòng chấp trước vào đối cảnh từ chi thứ 8 tức là
ái chủ động thúc đẩy dẫn sanh đưa đến hiện hành mọi họat động nhiệt thành
tích cực hơn trong việc chấp thủ.
Theo Thuyết nhất thiết Hữu bộ thì vấn đề phân vị của thủ trong mười
hai duyên khởi cho rằng: Thủ là chỉ cho thời kỳ thanh niên của một sinh thể
hiện hữu đối với dâm, thực vấn đề khát ái trở nên đòi hỏi và thúc đẩy nhiều 22
hơn, cho nên việc tìm cầu để thõa mãn nó thì chúng sinh không biết mệt mỏi,
giai đọan này gọi là thủ (chấp thủ: nắm giữ không để mất). Nhưng đối với

cuộc sống. Cuộc sinh tồn trong hiện tại được gọi là kim sinh; sự sinh tồn
trong quá khứ, vị lai thì được gọi là tha sinh. – Chúng sinh y vào sự sai khác
của thọ sinh tùy theo đó mà chúng ta có thể phân loại. Như thai sinh, thấp
sinh, nõan sinh, hóa sinh, đó là bốn loại sinh. Ngòai ra còn có hữu sắc, vô sắc,
hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng ở trong chín loài sinh hay
mười hai loài sinh.
12 / Lão tử, tức là già và chết, chúng chỉ cho lúc chúng sinh cá thể suy
biến đưa đến họai diệt. Căn cứ vào nhân quả hai lớp ba đời mà nói thì, sinh
chi và lão tử chi là hai quả của đời vị lai, đối với đời hiện tại sau khi bỏ thân
mạng, đó chính là lúc bắt đầu hình thành thân mạng mới trong thời gian một
sát-na để năm uẩn tích hợp trở lại, lúc này gọi là chi sinh; ở đây sát-na thức
sinh khởi trở về sau theo đó danh sắc xuất hiện, lục xúc bắt đầu họat động,
thọ, ái dần dần tăng thêm cho đến khi nào tất cả đều biến đổi diệt đi thì gọi là
lão tử. Ở trong đây, lão là trạng thái suy biến của sắc và tâm, còn tử là thọ
mạng đã hết nên diệt hoại.
Trên là tất cả mọi ý nghĩa và nội dung có được của mười hai chi duyên
khởi với ý nghĩa riêng và chung của chúng. Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày
phần liên hệ lệ thuộc vào nhau để chúng hiện khởi trong sinh diệt theo hai
chiều lưu chuyển và hòan diệt của mười hai duyên khởi.
1.1.2.4 Tam Tạng Kinh điển
Sau 45 năm thuyết pháp, những lời giảng daỵ của Đức Phật không
những không bị quên lãng, thất lạc mà còn được lưu giữ, truyền bá mãi đến
ngày nay, làm nền tảng cho một nền văn hóa vĩ đại với những đặc thù về mỹ
thuật, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học, triết học v.v và trở thành nguồn 24
sống và niềm hy vọng của nhân loại trên khắp thế giới. Được như thế, có hai
nguyên do: Thứ nhất, những lời giảng dạy của Đức Phật phù hợp với chân lý
khắp nơi và muôn đời; thứ hai do quá trình lưu giữ và truyền bá của chư vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status