ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ THANH HUYỀN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
HƯƠNG SƠN, MỸ ĐỨC, HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
HÀ NỘI – 20111
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu. 8
6. Bố cục của luận văn: 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 10
1.1. Điểm đến du lịch. 10
1.1.1. Khái niệm về điểm đến du lịch. 10
1.1.2. Vị trí và vai trò của điểm đến du lịch trong phát triển du lịch 13
1.1.3. Phân loại các điểm đến du lịch: 17
1.2. Những quan điểm và thực trạng khai thác điểm đến du lịch tại Việt Nam.
22
1.2.1. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam để thành điểm đến du
lịch. 22
Sơn. 55
2. 3.4. Thực trạng quản lý các loại hình dịch vụ 63
2.3.5. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao nhận thức
cộng đồng. 67
2.3.6. Công tác tuyên truyền quảng bá 68
2.3.7. Công tác quản lý tài nguyên môi trường tại điểm đến du lịch Hương Sơn.
69
2.3.8.Quản lý về trật tự an ninh xã hội. 71
3
2.4.1. Đánh giá chung về hiện trạng hoạt động kinh doanh và quản lý của điểm
đến du lịch Hương Sơn . 72
2.4.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh và quản lý tại điểm
đến du lịch Hương Sơn: 73
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI HƯƠNG SƠN 75
3.1. Định hướng chiến lược phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020. 75
3.1.1. Mục tiêu phát triển: 75
3.1.2. Định hướng phát triển: 75
3.2. Những quan điểm chủ yếu về phát triển du lịch Hương Sơn. 77
3.2.1. Phát triển du lịch bền vững: 77
3.2.3. Phát triển du lịch với đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội:
78
3.2.4. Đẩy mạnh du lịch trong nước, mở rộng du lịch quốc tế: 78
3.3. Định hướng phát triển du lịch tại Hương Sơn 78
3.3.1. Về định hướng phát triển tổng quát: 78
3.3.2. Về định hướng phát triển các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch 79
3.4. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động du lịch tại Hương Sơn 80
3.4.1. Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nhà nước vể du lịch tại điểm đến du
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQL Ban Quản lý
CSHT Cơ sở hạ tầng
CSLT Cơ sở lưu trú
ĐĐDL Điểm đến du lịch
KDTSQ Khu dự trữ sinh quyển
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở VHTT&DL Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UBND Ủy Ban Nhân Dân
UNESCO
Tổ chức, Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên
Hợp Quốc
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để phát triển du lịch, các nước thường tập trung xây dựng những điểm
đến du lịch có danh tiếng và thương hiệu trên thị trường du lịch khu vực và
quốc tế. Điểm đến du lịch thường dựa vào các tài nguyên du lịch tự nhiên và
nhân văn, đồng thời dựa vào trí tuệ và sức sáng tạo của những người làm du
lịch. Không phải ngẫu nhiên các điểm đến du lịch như: Pattaya, Phuket (Thái
Lan), Bali (Inđônêsia), Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc), hàng năm thu
hút hàng chục triệu lượt khách du lịch đến tham quan du lịch.
thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức,
Hà Nội”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động
tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội” hướng đến mục tiêu
nghiên cứu sau:
- Thông qua việc nghiên cứu về công tác quản lý điểm đến du lịch, tác
giả đưa ra những đề xuất và giải pháp cho công tác quản lý điểm đến du lịch
Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội góp phần tạo dựng điểm đến du lịch Hương
Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội phát triển tương xứng với tiềm năng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong công
tác quản lý du lịch làm cơ sở đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý điểm
đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội.
Thứ hai: Làm rõ tiềm năng, thực trạng khai thác du lịch, khách du lịch
đến với Hương Sơn và công tác quản lý tại đây.
8
Thứ ba: Đưa ra định hướng và hướng giải pháp góp phần hoàn thiện
công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội.
3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần phát triển lý thuyết trong lĩnh vực quản
lý nhà nước cũng như tổ chức hoạt động kinh doanh.
- Về mặt thực tiễn: Đề xuất những giải pháp phát triển điểm đến du lịch
Hương Sơn có những định hướng trong quá trình quản lý xây dựng và phát
triển điểm đến của mình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
1.1. Điểm đến du lịch.
1.1.1. Khái niệm về điểm đến du lịch.
1.1.1.1. Quan niệm về điểm đến du lịch (Tourism Destination).
Theo Luật Du lịch
«
Điểm đến du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp
dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch
»
.
Tài nguyên du lịch theo nghĩa thực tế: “tất cả các nhân tố có thể kích
thích được động cơ du lịch của con người được ngành du lịch tận dụng kinh
doanh để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều gọi là tài nguyên du
lịch”. Hoặc “Bất kỳ nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút
được khách du lịch đều gọi là tài nguyên du lịch”. Điều này có nghĩa rằng
không chỉ những các tài nguyên tự nhiên, các tài nguyên nhân văn mà cả các
sự kiện xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao được tổ chức có khả
năng thu hút khách du lịch được gọi là tài nguyên du lịch. Mặt khác, không
phải tài nguyên du lịch nào cũng được khai thác và trở thành điểm du lịch.
Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở
dịch vụ phục vụ khách, thời gian khai thác điểm du lịch (thường xuyên, theo
thời vụ, ngắn ngày ), số lượng khách đến tham quan du lịch trong đó có
khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa có tính hấp dẫn và có sức thu
hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến
càng lớn. Dịch vụ và hàng hoá phục vụ khách tiêu thụ càng nhiều về số lượng,
đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh thu càng lớn và
hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao.
tiến du lịch để xây dựng hình ảnh của đất nước trong tâm trí của mọi người
trên thế giới như một điểm đến du lịch "an toàn và thân thiện". Để thu hút
được nguồn khách quốc tế, ngoài việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du
12
lịch, mỗi nước phải tiến hành hoàn hiện các quy định pháp luật một mặt tạo
điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho khách đến du lịch, mặt khác tạo môi
trường kinhh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có
hiệu quả. Bên cạnh đó, các nước phải tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật phục vụ cho sự phát triển du lịch như: Sân bay, bến cảng, nhà ga, đường
xá, điện, nước, thông tin liên lạc v.v,
1.1.1.4. Điểm đến du lịch mang tính địa phương.
Nhiều điểm đến du lịch không chỉ mang tính địa phương mà là thương
hiệu du lịch của quốc gia. Nói đến Thái Lan người ta thường hình dung đến
điểm đến Pattaya, Phuket, nói đến Indonexia người ta nghĩ đến điểm đến du
lịch Bali, hoặc nói đến du lịch nước Mỹ người ta mong muốn đến điểm đến
du lịch Las Vegas v.v. Các điểm đến này hàng năm thu hút hàng triệu lượt
khách quốc tế. Ví dụ mỗi năm Las Vegas thu hút khoảng 40 triệu lượt khách
du lịch, Pattaya và Bali đón tiếp và phục vụ từ 4-5 triệu lượt khách quốc tế.
1.1.1.5. Hậu cần phục vụ khách du lịch tại một điểm đến du lịch.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), “có khoảng 70 dịch vụ trực
tiếp liên quan đến việc cung cấp dịch vụ du lịch, ngoài ra có khoảng 70 hoạt
động khác có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ du lịch” tại các điểm đến
du lịch. Theo sự phân loại của Tổ chức Du lịch thế giới những sản phẩm đặc
trưng và các hoạt động đặc trưng của ngành du lịch bao gồm:
- Cơ sở hạ tầng đón tiếp khách: đó là hệ thống đường bộ, sân bay, bến
cảng, ga xe lửa, bến đỗ xe ôtô. Hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp
điện năng.
- Các loại phương tiện vận chuyển khách du lịch: ô tô các loại, máy bay,
lịch đó.
14
Quyết định hình thức chuyến đi, loại hình du lịch: Vị trí điểm du lịch
trong một quốc gia cho chúng ta tạo ra loại hình, hình thức du lịch nội địa,
như chúng ta là người Việt, các vị trí điểm du lịch nằm trong phạm vi quốc
gia Việt Nam (như Hà Nội, Hạ Long, Sài Gòn, Phú Quốc ) loại hình này là
du lịch nội địa. Vị trí điểm du lịch gần nơi suất phát cho phép người đi du lịch
sử dụng ngắn ngày hay dài ngày thì tạo ra cho chuyến đi là loại hình du lịch
ngắn ngày hay dài ngày (Như chúng ta suất phát từ Hà Nội đi Hạ Long quãng
đường ngắn, cho phép dịch chuyển thời gian từ nơi xuất phát đến vị trí điểm
đến ngắn hay chúng ta thực hiện hành trình xuyên việt dọc theo chiều dài của
Việt Nam thực hiện trong một hành trình dài, mất nhiều thời gian).
Vị trí điểm đến du lịch nằm ngoài quốc gia của điểm xuất phát, cho
chúng ta loại hình, hình thức du lịch là đi du lịchquốc tế (như các điểm đến là
Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapore )
Vị trí điểm đến du lịch tạo ra mục đích của chuyến đi. Vị trí điểm đến du
lịch là du lịch biển thì du khách thực hiện hành trình đó là du lịch biển. Ví dụ
chúng ta đến với biển Sầm Sơn, Của Lò mục đích của chuyến đi thuần túy
là đi tham quan du lịch biển, đi vào mùa hè. Chuyến đi thưởng thức khí hậu
cảnh quan đặc trưng như đi Sa Pa, Đà Lạt Chuyến đi đến các điểm đặc
trưng như các đấu trường thể thao thường dành cho các chương trình du lịch
đặc trưng kết hợp với du lịch thi đấu thể thao như các đại hội thể thao lớn tầm
cỡ quốc gia, quốc tế.
Vị trí điểm đến là các suối nước khoáng nóng dùng để chữa bệnh thì du
khách sẽ có chuyến đi du lịch với mục đích là chữa bệnh nghỉ dưỡng như:
suối khoáng nóng Kim Bôi, Kênh Gà
Vị trí điểm đến là các di tích lịch sử, các công trình văn hóa tài nguyên
nhân văn cho ta thấy mục đích chuyến đi là tham quan tài nguyên du lịch
chuyến đi, du khách có thể kết hợp tham quan ngay trong chuyến đi, những
điểm đó không đóng vai trò quan trọng, mục đích chủ đạo trong chuyến đi
16
cũng là biển đi du lịch biển Cửa Lò, du khách kết hợp tham quan di tích và
danh thắng quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh - điểm đến này đóng vai trò là
sản phẩm phụ bổ sung sản phẩm chính du lịch bãi biển Cửa Lò).
+ Sản phẩm truyền thống quốc tế: Điểm đến là các quốc gia ngoài lãnh
thổ Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapo Nói đến du
lịch Thái Lan các chương trình du lịch quốc tế truyền thống là đi Bangkoc -
Pattaya; đi Trung Quốc: Bắc Kinh - Thượng Hải hay Quảng Châu - Thâm
Quyến
+ Sản phẩm hỗn hợp: Điểm đến du lịch tạo nên các sản phẩm du lịch hỗn
hợp (sản phẩm chính, sản phẩm phụ) làm cho chuyến đi đa dạng, du khách
được hưởng thụ các dịch vụ trong chuyến đi (hành trình du lịch xuyên Việt
dọc theo chiều dài đất nước hình chữ S của Việt Nam, du khách được thưởng
thức hỗn hợp các sản phẩm du lịch đặc trưng của du lịch Việt Nam).
+ Sản phẩm du lịch tự nhiên, nhân văn và phi vật thể: Điểm đến du lịch
được khai thác từ các tài nguyên tự nhiên thì cho chúng ta các sản phẩm du
lịch tự nhiên như các bãi biển, các hồ nước, các vườn quốc gia, các cảnh quan
thiên nhiên hấp dẫn
Điểm đến là các tài nguyên du lịch nhân văn như di tích lịch sử văn hóa,
đình, đền, miếu mạo hay các tác phẩm văn hoc nghệ thuật, các công trình kiến
trúc độc đáo được khai thác vào mục đích tham quan du lịch. Người ta gọi là
sản phẩm du lịch nhân văn.
Điểm đến là các tài nguyên du lịch phi vật thể, du khách được thưởng
thức các sản phẩm du lịch phi vật thể mà chỉ ở đó du khách mới được thụ
hưởng sản phẩm du lịch đó (chúng ta đến Cố đô Huế - du khách tham quan và
thưởng thức Di sản văn hóa thế giới phi vật thể Nhã nhạc Cung Đình Huế,
1.1.3. Phân loại các điểm đến du lịch:
18
Điểm đến du lịch chính là nơi cung cấp tài nguyên du lịch. Tài nguyên du
lịch dựa vào các tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn vật thể
và tài nguyên nhân văn phi vật thể, tài nguyên tổng hợp kết hợp với các yếu tố
hội họp tạo nên sản phẩm du lịch hôi họp (hay gọi là sản phẩm du lịch Mice)
1.1.3.1. Các điểm đến dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên:
Tài nguyên tự nhiên rất đa dạng và phong phú, khi chúng ta khai thác
vào hoạt động du lịch thì tài nguyên này sẽ trở thành tài nguyên du lịch tự
nhiện và đó chính là điểm đến của các chương trình du lịch mang đặc trưng
du lịch tự nhiên, tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù.
Theo dọc chiều dài đất nước Việt Nam là các bãi biển nổi tiếng trải dài
cát trắng đã và đang được sử dụng khai thác làm sản phẩm du lịch biển tự
nhiên nổi tiếng như Móng Cái, Hạ Long - Quảng Ninh; Sầm Sơn - Thanh
Hóa; Cửa Lò - Nghệ An; Nha Trang - Khánh Hòa; Mũi Né hay Phú Quốc
kết hợp với các tài nguyên khác tạo ra các trung tâm du lịch, các điểm đến du
lịch tự nhiên nổi tiếng mang các đặc trưng của từng điểm đến đó.
Điểm đến du lịch dựa vào các tài nguyên du lịch tự nhiên là các di sản
thiên nhiên thế giới, các thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng thiên nhiên ban tặng
cho chúng ta. Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều di sản thiên nhiên
và danh thắng như: Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long - là điểm đến
yêu thich và đăc biệt của du khách quốc tế mỗi khi đến Việt Nam hay du
khách có những chuyến tham quan thám hiểm khám phá kỳ thú, tìm hiểu
nghiên cứu khoa học, thám hiểm địa mạo địa chất tại di sản thiên nhiên Phong
Nha Kẻ Bàng - Quảng Bình.
Bên cạnh các di sản thiên nhiên, một số các địa danh khác cũng được
khai thác du lịch tạo nên điểm đến du lịch tư nhiên rất đặc trưng của từng
điểm đến đó như: Sapa - Lào Cai du khách đến đây ngoài được thưởng thức
thành tài nguyên du lịch nhân văn vật thể hấp dẫn du khách trong nước và
20
quốc tế như các di tích lịch sử - đền, đình, am, miếu, các trường đại học cổ
kính và danh tiếng, Cố Đô - thành quách, các lễ hội truyền thống
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, cùng
quá trình xây dựng đất nước với truyền thống hàng ngàn năm văn hiến, để lại
các dấu ấn văn hóa tryền thống của dân tộc Việt, mang đậm bản sắc văn hóa
văn minh nông nghiệp lúa nước truyên thống. Nó trở thành các tài nguyên du
lịch nhân văn hấp dấn du khách, là điểm đến quan trọng của du khách mỗi
khi tham quan du lịch tại Việt Nam. Du khách đến đây được tham quan tìm
hiểu các giá trị văn hóa, các công trình kiến trúc nghệ thuật có ý nghĩa văn
hóa dân tộc như các ngôi đình làng truyền thống ( đình Đình Bảng, đình Tây
Đằng ) các ngôi chùa ( chùa Trấn Quốc, chùa Bút Tháp, chùa Thiên Mụ )
các văn bia tưởng niệm, các bảo tàng nơi lưu giữ trưng bày các di vật, các di
chỉ, các kỷ vật có giá trị
Trường đại học cổ kính và danh tiếng là điểm đến yêu thích của du
khách tiêu biểu chúng ta phải nói đến là Văn Miếu Quốc Tử Giám – trường
đại học đầu tiên của nước ta. Nơi ghi dấu ấn nền văn hóa văn hiến của dân
tộc, hinh ảnh Khuê Văn Các sáng ngời biểu tượng cho tri thức con người,
văn hóa dân tộc Việt đậm đà bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó là nhà bia ghi dấu
ấn của công danh các bậc hiền triết của dân tộc một kho báu của văn hóa
Việt Nam.
Việt Nam chúng ta trải qua rất nhiều triều đại, mỗi triều đại đã xây dựng
và đánh dấu để lại những công trình cho hậu thế, các thành quách, các lăng
tẩm, cố đô, phố cổ đươc Unesco công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
Tiêu biểu như Cố Đô Huế, kinh thành Thăng Long, Thánh Địa Mỹ Sơn, Phố
Cổ Hội An, Thành Nhà Hồ , Làng Cổ Đường Lâm, Phố Cổ Hà Nội Mỗi tài
nguyên du lịch nhân văn đã được khai thác làm điểm đến du lịch nhân văn
các sự kiện, chuyên đề hội nghị hội thảo. Du khách được thưởng thức các giá
22
trị kết hợp cùng với công việc đó. Như các hội nghị các nước Đông Nam Á
(Asean) tại Việt Nam, ngoài hội nghị, các vị khách còn được tham quan các
công trình có ý nghia gắn với mục đích chuyến đi ấy, hay hội thảo lịch sử
tham quan bảo tảng của Việt Nam, hay hội nghị tại Tuần Châu - tham quan
Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, các đại hội thể dục thể thao hội
nghị bộ trưởng tài chính, hội nghị phật giáo thế giới tại Việt Nam Tất cả
các sự kiện đó được kết hợp cùng với các điểm đến du lịch. Nó đã trở thành
một trong những sản phẩm du lịch đặc trưng của du lịch hiện đại và đang
phát triển rất nhanh.
Như vậy, mỗi một tài nguyên cho chúng ta một loại hình du lịch tương
xứng, và kết hợp cùng nhau tạo nên sản phẩm du lịch đa dạng hấp dẫn du
khách , điểm đến yêu thích của du khách.
1.2. Những quan điểm và thực trạng khai thác điểm đến du lịch tại
Việt Nam.
Theo Luật Du lịch “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn,
phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”. “Tài nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động
sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du
lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
1
1.2.1. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam để thành
điểm đến du lịch.
Trong những năm qua, các ngành, các cấp chính quyền địa phương, cộng
đồng dân cư và các doanh nghiệp đã tích cực khai thác các tài nguyên du lịch
hoá thế giới được UNESCO công nhận. Có những bãi biển đã nổi tiếng trong
nước từ xa xưa như : Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Lăng Cô,
Mỹ Khê, Đại Lãnh, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né, Vũng Tầu, Hà Tiên .
v.v. Một số địa danh đã nổi tiếng trên thế giới và khu vực như : Vịnh Hạ Long
hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, và là một
trong bẩy kỳ quan thiên nhiên thế giới. Vịnh Nha Trang được công nhận là