ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THU THUỶ
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU
LỊCH VĂN HOÁ TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
1.1.6. Xúc tiến du lịch 20
1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt
Nam. 20
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới 20
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam 25
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN
HÓA TỈNH NAM ĐỊNH
29
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Nam Định 29
2.2. Điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nam
Định 32
2.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 32
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.2.3. Cơ sở hạ tầng 37
2.2.4. Tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu 40
2.2.4.1. Tài nguyên văn hóa vật thể 40 2
2.2.4.2. Tài nguyên văn hóa phi vật thể 45
2.2.5. Đánh giá chung về điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch
văn hóa tỉnh Nam Định 51
2.3. Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa và phát triển sản phẩm
du lịch văn hóa của Nam Định 53
2.3.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật 53
2.3.2. Nguồn nhân lực du lịch 57
2.3.3. Thị trường khách du lịch 61
2.3.4. Doanh thu du lịch 65
2.3.5. Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch 67
2.3.6. Sản phẩm và hoạt động du lịch văn hóa 68
PHỤ LỤC 104
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban Nhân dân
UNWTO: Tổ chức Du lịch thế giới
VHTTDL: Văn hóa Thể thao Du lịch
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TT
Bảng
Nội dung bảng
Trang
1
Bảng 2.1
Các cơ sở lưu trú du lịch Nam Định giai đoạn 2006 – 2010
53
2
Bảng 2.2
Cơ cấu cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Nam Định năm 2010
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, du lịch văn hóa trở thành xu hướng của các nước đang
phát triển vì loại hình du lịch này đã và đang đem lại giá trị lớn cho cộng
đồng xã hội. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa,
những lễ hội truyền thống dân tộc, những tín ngưỡng phong tục… để tạo
sức hút đối với khách du lịch. Nhiều quốc gia trên thế giới đã nỗ lực
trong việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng của đất nước
mình để có thể thu hút khách du lịch: Pháp thực hiện chiến lược quốc gia
chung về nâng cao chất lượng đón tiếp, Thái Lan sử dụng chiến lược
cạnh tranh giá và yếu tố lễ hội trong giai đoạn 2005 – 2006 hoặc
Inđônêxia dựa vào thế mạnh tài nguyên văn hóa để phát triển các làng du
lịch văn hóa. Như vậy, có thể thấy, trên cơ sở tiềm năng chính, các quốc
gia đã dựa vào đó để phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng.
Trong xu hướng hội nhập, ngành du lịch Việt Nam cũng đã có
những bước phát triển nhanh chóng để hòa mình vào xu hướng đó.
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nêu rõ: “Phát triển du
lịch tương xứng với tiềm năng to lớn của đất nước theo hướng du lịch
văn hóa, sinh thái môi trường, xây dựng các chương trình và các điểm
hấp dẫn du lịch về văn hóa, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh”. Với
tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, nhiều sản phẩm du lịch cụ thể
đã được hình thành, tạo ra các hình ảnh khác nhau của khách về du lịch
sinh quyển châu thổ sông Hồng và là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn.
Với tiềm năng du lịch đa dạng, phong phú, Nam Định có điều kiện
trở thành một địa danh du lịch có sức thu hút lớn bởi nhiều loại hình: du
lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch tham quan nghiên cứu tìm hiểu văn
hóa dân gian lễ hội, du lịch văn hóa.
Tuy nhiên, sự phát triển du lịch của tỉnh còn chậm, quy mô nhỏ,
chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế để tạo bước đột phá. Sản phẩm 8
du lịch nghèo nàn, phần lớn còn khai thác ở dạng tự nhiên, chưa được
quan tâm đầu tư phát triển một cách bài bản khoa học, chất lượng còn
hạn chế, chưa đủ sức cạnh tranh và hấp dẫn du khách, trong đó có sản
phẩm du lịch văn hóa.
Tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch
văn hóa tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn đưa
ra được những giải pháp phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, xây dựng
sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của Nam Định nhằm thúc đẩy du
lịch vùng đất này phát triển đúng với tiềm năng tài nguyên du lịch phong
phú, đa dạng của nó.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề
liên quan đến đề tài như: Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt
Nam có tính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế (Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ của tác giả Đỗ Cẩm Thơ), Nghiên cứu xây dựng sản
phẩm du lịch biển đảo vùng du lịch Bắc Bộ (Viện Nghiên cứu phát triển
du lịch), Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm du lịch thể thao -
mạo hiểm vùng núi phía Bắc (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác
giả Phạm Trung Lương, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch). Bên cạnh
đó, có một số bài báo đăng tải trên các tạp chí trong nước viết về du lịch
hóa của tỉnh Nam Định về tiềm năng, lợi thế sẵn có, những thuận lợi và
khó khăn của Nam Định trong phát triển du lịch nói chung và phát triển
sản phẩm du lịch văn hóa nói riêng.
- Đề xuất một số giải pháp có thể vận dụng góp phần phát triển sản phẩm
du lịch văn hóa tỉnh Nam Định.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau đây: 10
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, số liệu: Luận văn sử
dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp.
+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách
báo tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo của cơ quan quản
lý du lịch và chính quyền địa phương. Dựa trên cơ sở đó đưa ra được
những khái niệm chung nhất liên quan đến đề tài đang nghiên cứu, đưa
ra được những đánh giá và những giải pháp để phát triển sản phẩm du
lịch văn hóa của Nam Định.
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc khảo sát thực địa, phỏng vấn
các cán bộ chuyên trách du lịch của tỉnh Nam Định và một số người dân
địa phương ở nơi có tài nguyên du lịch văn hóa.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được dùng
để phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa du lịch và văn hóa, phân tích
tuyến điểm du lịch tiêu biểu hiện đang khai thác thành sản phẩm du lịch
văn hóa của Nam Định, phân tích các số liệu, thông tin liên quan đến đề
tài, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Đây là phương pháp nghiên
cứu nhằm góp phần làm cho kết quả nghiên cứu có tính xác thực hơn.
Việc có mặt tại thực địa sẽ giúp tác giả có điều kiện đối chiếu, bổ sung
12
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM
DU LỊCH VĂN HÓA
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch kết hợp giữa văn hóa và
du lịch. Có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch văn hóa.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Du lịch văn hóa bao
gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu,
khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ
thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm
các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ
thuật dân gian và hành hương”.
Theo Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS): “Du lịch
văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám những di tích và di chỉ.
Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy
tu, bảo tồn. Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực
bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn
nhất là: các di sản văn hóa thế giới, các di tích lịch sử văn hóa cách
mạng, các lễ hội, các làng nghề, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc
học, các hoạt động văn hóa thể thao.
Nhìn từ góc nhìn du lịch thì văn hóa là nguồn tài nguyên nhân
văn của du lịch. Vì thế, có thể coi các tài nguyên du lịch nhân văn cũng
chính là tài nguyên du lịch văn hóa và các loại tài nguyên du lịch nhân
văn đều được khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch văn hóa. Như
vậy, chúng ta có thể hiểu “tài nguyên du lịch văn hóa gồm truyền thống
văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách
mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con 14
người và các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể sử dụng
với mục đích phục vụ du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du
lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”.
Tài nguyên du lịch văn hóa gồm hai loại tài nguyên văn hóa vật
thể và tài nguyên văn hóa phi vật thể, trong đó [2, tr. 37]:
Tài nguyên văn hóa vật thể
Tài nguyên văn hóa phi vật thể
- Di sản văn hóa thế giới vật
thể.
- Di tích lịch sử văn hóa, danh
thắng cấp quốc gia và địa
phương.
- Các cổ vật và bảo vật quốc
gia.
- Các công trình đương đại.
- Di sản văn hóa thế giới truyền miệng và phi vật thể.
- Các lễ hội truyền thống.
nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và
lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó”. [8, tr. 27]
Sản phẩm du lịch được cấu thành bởi nhiều yếu tố. Tổ chức Du
lịch thế giới (UNWTO) đã đưa ra hai nhóm chính cấu thành bản chất của
sản phẩm du lịch.
Nhóm thứ nhất bao gồm các yếu tố tự nhiên như:
- Điều kiện khí hậu.
- Tính hấp dẫn, sự đa dạng của tài nguyên du lịch.
- Đa dạng về tài nguyên văn hóa lịch sử, khảo cổ.
- Nằm ở vị trí có khả năng tiếp cận tốt với thị trường mục tiêu
hoặc có hướng tốt dễ dàng cho nhu cầu phát triển các sân bay, cảng biển
cần thiết.
- Khả năng tiếp cận nguồn nước dồi dào.
- Lòng hiếu khách của người dân tại các điểm đến.
Nhóm thứ hai là nhóm các đặc điểm tự tạo:
- Hệ thống giao thông tốt, có khả năng tiếp cận dễ dàng tới các
vùng khác nhau trong cả nước, có sân bay tương xứng. 16
- Tập hợp các khách sạn, khu du lịch và các tiện nghi lưu trú khác,
các nhà hàng, quán bar và các dịch vụ giải trí.
- Đa dạng các tiện nghi thể thao, giải trí.
- Một chuỗi các tiện nghi vui chơi và mua sắm.
- Kinh tế địa phương tại mỗi điểm đến có thể cung ứng được các
dịch vụ cần thiết cho nhu cầu du lịch của du khách.
- Cơ sở hạ tầng phát triển du lịch có đủ năng lực và có khả năng
phát triển thêm.
- Các dịch vụ cộng đồng đã phát triển tốt như cảnh sát, đội cứu
hỏa, các dịch vụ y tế, dịch vụ bưu điện, dịch vụ ngân hàng.
văn hóa – tinh thần của cư dân bản
địa.
- Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị
không đo được hết bằng giá cả.
- Quy mô hạn chế, thời gian và
không gian xác định.
- Sản phẩm mang nặng định tính,
khó xác định định lượng. Giá trị
sản phẩm mang tính vô hình thể
hiện qua ấn tượng, cảm nhận,…
- Thích ứng, tính khả biến cao.
- Mang nặng dấu ấn của các cá nhân, các nhà
tổ chức, khai thác.
- Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ những
đối tượng sử dụng dịch vụ du lịch.
- Sản xuất ra phải được bán ra thị trường, bán
cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối
tượng du khách là cư dân của các vùng miền
khác nhau.
- Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế - xã
hội. Giá trị đo được bằng giá cả.
- Quy mô không hạn chế, thời gian và không
gian xác định.
- Định tính, định lượng được thể hiện qua
thời gian hoạt động. Giá trị của sản phẩm là
hữu hình, biểu hiện thông qua những chỉ số
kinh tế thu được.
Sản phẩm du lịch văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch vừa là một
sản phẩm văn hóa. Chúng có sự gắn bó với nhau nhưng cũng có sự khác
biệt. Sản phẩm du lịch văn hóa là một sản phẩm văn hóa được đưa vào
lịch văn hóa. Môi trường tự nhiên trong sạch có lợi cho sức khỏe con
người. Môi trường kinh tế - xã hội với các điều kiện kinh tế tốt, cơ sở hạ
tầng tiện nghi, người dân hiểu biết sẽ giúp du khách cảm thấy an tâm, dễ
chịu hơn khi đến điểm du lịch.
19
1.1.5. Tuyến, điểm du lịch
Điểm du lịch là nơi đến của khách du lịch trong thời gian nhất
định trên tuyến du lịch, là nơi có tài nguyên du lịch được khai thác cho
các hoạt động du lịch. Xét về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ
nhưng khi thể hiện trên bản đồ du lịch đó sẽ là những điểm riêng biệt.
Dù có quy mô nhỏ nhưng trong thực tế điểm du lịch cũng chiếm một
diện tích có quy mô khác nhau, có thể tương đối lớn, ví dụ: điểm du lịch
Ngũ Hành Sơn, điểm du lịch Hội An, điểm du lịch địa đạo Vĩnh Mốc,
điểm du lịch cố đô Huế,…
Theo Luật Du lịch: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp
dẫn có khả năng thu hút khách du lịch”.
Điểm du lịch là một đơn vị lãnh thổ du lịch, nơi tập trung tài
nguyên du lịch (tự nhiên, văn hóa lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hay một
loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hay kết hợp cả hai. Vì thế,
điểm du lịch có thể được phân thành hai loại: điểm tài nguyên và điểm
chức năng. Với mỗi điểm du lịch, thời gian lưu trú của khách du lịch
tương đối ngắn (không quá 1 – 2 ngày). Một điểm du lịch tốt cần phải có
môi trường (tự nhiên và văn hóa xã hội) trong lành, có các điều kiện đảm
bảo các dịch vụ tối thiểu cho du khách (khách sạn, thông tin liên lạc, ăn
uống, mua sắm hàng lưu niệm…)
Các tuyến du lịch được xem là sản phẩm du lịch đặc biệt. Dựa vào
hệ thống đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không, hệ
công chúng và tuyên truyền, kích thích tiêu thụ, bán hàng trực tiếp,
Internet và truyền thông tích hợp.
1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt
Nam
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới [36]
♦ Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của Malaysia 21
Malaysia là đất nước giàu tiềm năng du lịch với nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, các giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc hấp dẫn. Tất
cả các yếu tố trên tạo thành một điểm độc đáo trong các sản phẩm du
lịch của Malaysia.
Trong những năm gần đây, Chính phủ Malaysia đã đầu tư rất
nhiều cho việc bảo tồn các khu rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn quốc
gia nhằm duy trì một môi trường trong lành và tính hấp dẫn cho các sản
phẩm du lịch sinh thái của đất nước mình. Mặc dù vậy, bán đảo còn có
một giá trị hấp dẫn khác đối với mỗi du khách đến thăm, đây là nơi quy
tụ của hầu hết các nền văn hóa nổi tiếng trên thế giới. Lịch sử đất nước
đã ghi nhận sự tồn tại của các nền văn hóa của các quốc gia đã từng xâm
chiếm quốc gia này như Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan, Chiêm Thành, Thái
Lan, Nhật Bản và văn hóa Malay bản địa. Tất cả các dân tộc trên đều đã
lưu lại các dấu ấn văn hóa để hình thành nên nền văn hóa của Malaysia
ngày nay. Các giá trị văn hóa bản địa kết hợp với các giá trị văn hóa để
hình thành nên nền văn hóa ngoại lai đã được nội địa hóa đã tạo thành
một sản phẩm du lịch độc đáo khác của Malaysia - du lịch văn hóa bản
địa.
Với những lợi thế nói trên, Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch của
Malaysia đã xác định mục tiêu phát triển chủ đạo của ngành du lịch là
hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở bảo tồn các nguồn gen
Châu Mỹ cũng bắt đầu tăng dần.
Khách du lịch tham gia vào chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân
được người dân bản địa đón tiếp nồng hậu, được mọi người trong khu
làng coi như thành viên trong gia đình và trực tiếp tham gia vào các hoạt
động sinh hoạt hàng ngày của người dân. Du khách có thể được tham gia
trực tiếp vào lễ cưới cổ truyền của người bản xứ trong vai trò của người
làm chứng hoặc chủ hôn, tham gia vào các chương trình dã ngoại ngoài
trời như câu cá, cắm trại của học sinh phổ thông, tham gia vào các trò 23
chơi cổ truyền của người bản xứ, hoặc tham gia vào chế biến các món ăn
cho các thành viên trong gia đình.
Chương trình đón khách du lịch về nghỉ tại nhà dân tại khu làng
Desa Murni được xây dựng đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn
các giá trị văn hóa truyền thống của Malaysia phục vụ mục tiêu phát
triển bền vững. Theo lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Nghệ
thuật và Du lịch Malaysia Dato’ Sabbaruddin Chik: “Sự thành công
bước đầu của dự án Desa Murni đã đem lại các cơ hội phát triển mới cho
nền công nghiệp du lịch của Malaysia cũng như lợi ích cho cộng đồng
địa phương, là nền tảng quan trọng cho việc xây dựng các mô hình tương
tự tại các làng quê trên toàn bộ lãnh thổ Malaysia”.
♦ Du lịch văn hóa bản địa ở Rio Blanco (Ecuador)
Do vị trí xa cách nên việc tiếp cận của du khách tới khu vực này
còn nhiều khó khăn, chính vì vậy lượng du khách tới đây còn chưa đáng
kể. Khi bắt đấu giới thiệu về ý tưởng dự án, người dân cộng đồng còn
chưa tin phát triển du lịch sinh thái bền vững sẽ đem lại lợi ích cho họ
cũng như về khả năng tham gia của họ. Nhiều ý kiến trả lời rằng họ cảm
thấy rụt rè khi tiếp xúc với khách nước ngoài. Tuy nhiên, sau một số
buổi họp trao đổi giữa dân làng, họ đã đồng ý thử nghiệm dự án này.
nơi định cư của bộ tộc Diola trong các ngôi làng truyền thống có một hệ
sinh thái đa dạng và văn hóa dân gian phong phú, là nơi lý tưởng cho dự
án thử nghiệm.
Nhằm giảm bớt lượng khách đến trong các làng để hạn chế sự quá
tải và các tác động về văn hóa - xã hội, các nhà trọ ở đây bị khống chế
công suất, chỉ được đón tối đa 20 - 40 khách/lần và chỉ được xây dựng ở
các làng có số dân bằng hoặc lớn hơn 1.000 người. Để giải quyết áp lực
do lượng khách đến đông, dự án đã xem xét xây thêm các nhà trọ ở nơi
khác chứ không cho phép tăng công suất ở các nhà trọ cũ. Việc điều
hành và quản lý các nhà trọ do dân làng tự tổ chức dưới hình thức “hợp