1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU CÚC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH
LIÊN KẾT VÙNG THÁI NGUYÊN – BẮC CẠN – CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH Hà Nội, 2013
2
7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG
SẢN PHẨM DU LỊCH LIÊN KẾT VÙNG.
11
1.1. Cơ sở lý luận
11
1.1.1. Sản phẩm du lịch
11
1.1.1.1. Khái niệm chung về sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch liên
kết vùng
11
1.1.1.2. Sản phẩm du lịch và các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch
14
1.1.1.3. Các dạng thức của sản phẩm du lịch
18
1.1.2.Các yếu tố tác động đến việc xây dựng sản phẩm liên kết vùng
19
1.1.3.Các giai đoạn, đối tượng tham gia vào quá trình xây dựng sản
phẩm du lịch.
22
1.1.4. Quy trình xây dựng sản phẩm du lịch
23
1.1.5. Một số phương pháp cơ bản để trợ giúp cho quá trình xây dựng
sản phẩm du lịch
32
2.1.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên và môi trường
32
2.1.1.2. Tài nguyên nhân văn
38
2.1.1.3. Điều kiện cơ sở vật chất và cơ sở kỹ thuật hạ tầng phục vụ du lịch.
56
2.1.2. Hiện trạng phát triển du lịch tại ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn
và Cao Bằng.
58
2.1.2.1. Hiện trạng phát triển du lịch tại Thái Nguyên
58
2.1.2.2. Hiện trạng phát triển du lịch tại Bắc Cạn
65
2.1.2.3. Hiện trạng phát triển du lịch tại Cao Bằng.
70
2.2. Đánh giá chung về các yếu tố ảnh hƣởng đến xây dựng sản
phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng.
77
2.2.1. Khai thác tài nguyên và những tác động tới môi trường
77
2.2.2. Phát triển các tuyến, điểm và không gian du lịch
85
3.2.1.1.Định hướng thị trường khách mục tiêu
85
3.2.1.2. Xây dựng thương hiệu lãnh thổ địa phương
88
3.2.1.3. Định hướng khai thác tài nguyên du lịch
90
3.2.1.4. Định hướng phát triển các loại hình dịch vụ du lịch.
91
3.2.1.5. Định hướng phát triển không gian và loại hình du lịch chính
92
3.2.1.6. Định hướng phát triển các tuyến du lịch nội tỉnh và liên kết
vùng
93
3.2.2. Các giải pháp
97
3.3. Một số sản phẩm đề xuất
97
3.3.1. Du lịch trải nghiệm về văn hoá ẩm thực vùng Đông Bắc.
97
PHỤ LỤC
108
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Nội dung
Trang
7
Bảng 2.1. Tổng hợp số liệu khách đến Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao
Bằng từ 2008 đến năm 2012
58
Bảng 2.2. Thống kê số lượt khách quốc tế đến Thái Nguyên 2008 - 2012
62
Bảng 2.3. Thống kê số lượt khách nội địa đến Thái Nguyên 2008 – 2012
63
Bảng 2.4. Tổng hợp số lượt khách quốc tế đến Bắc Cạn 2008 - 2012
Biểu đồ 2.3. Thống kê di tích tỉnh Cao Bằng
51
Biểu đồ 2.4. Thị trường khách nội địa đến Thái Nguyên
61
Biểu 2.5. Số lượt khách quốc tế đến Thái Nguyên 2008-2012
62
Biểu đồ 2.6. Số lượt khách nội địa đến Thái Nguyên 2008 – 2012
63
Biểu đồ 2.7. Số lượng dịch vụ lưu trú tại Thái Nguyên 2008 – 2012
64
Biểu đồ 2.8. Thị trường khách du lịch đến Bắc Cạn
67
Biểu 2.9. Thống kê số lượt khách quốc tế đến Bắc Cạn 2008 – 2012
69
Biểu đồ 2.10. Số lượt khách nội địa đến Bắc Cạn 2008 – 2010
70
Biểu đồ 2.11. Thị trường khách du lịch đến Cao Bằng
72
Biểu đồ 2.12. Số lượt khách quốc tế đến Cao Bằng 2008 – 2012
74
Biểu đồ 2.13. Số lượt khách nội địa đến Cao Bằng 2008 – 2012
75
Biểu đồ 2.14.Tổng hợp kết quả đánh giá dịch vụ lưu trú của khách
nội địa đến Cao Bằng (12/2012).
79
PHẦN MỞ ĐẦU
10
Nguyên Giáp đã khẳng định “Chiến khu Việt Bắc là một quần thể di tích quan
trọng bậc nhất của dân tộc Việt nam ở thế kỷ XX, một thủ đô kháng chiến với
vùng di tích trọng điểm: Pác bó, Tân trào, ATK Định Hoá…., một vùng di tích có
ý nghĩa về nhiều mặt. Vì vậy, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy khu di tích lịch sử
cách mạng “chiến khu Việt Bắc” nhằm giáo dục các thế hệ về truyền thống lịch
sử cách mạng và kháng chiến của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chống
ách đô hộ và xâm lược, xây dựng chính quyền cách mạng và nhà nước dân chủ
nhân dân về những chiến công vẻ vang, về giá trị lâu dài trong lịch sử giữ nước
và dựng nước của nhân dân ta và giới thiệu với khách nước ngoài về truyền
thống lịch sử của Việt Nam”.
Bắc Cạn vốn nổi tiếng vì “Có Hồ Ba Bể, có nàng áo xanh”, Hồ Ba Bể là
một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn và đẹp nhất thế giới. Hồ là một trong các
khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam và thế giới. Hồ có diện tích rộng 500 ha,
nằm trong khu vực vườn quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi
đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống, trong hồ có 49
loài cá nước ngọt. Hiện nay Việt Nam đang trình UNESCO công nhận vườn
quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên thế giới. Ngoài ra gần khu vực thị xã Bắc
Cạn còn có 02 địa điểm có thể đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái và hệ thống
vui chơi giải trí khá lý tưởng là Khu du lịch sinh thái Thác Bạc và Khu du lịch
sinh thái Nặm Cắt, cách thị xã Bắc Cạn chỉ khoảng chừng trên 10 km. Bắc Cạn
có nhiều di tích lịch sử được xếp hạng, đặc biệt là các di tích cách mạng trong
thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như khu ATK Chợ Đồn; Khu di
tích Nà Tu, Cẩm Giàng; Phủ Thông; Đèo Giàng v.v….
Cao Bằng cũng là tỉnh giàu tiềm năng về du lịch lịch sử, văn hoá và sinh
thái với các điểm như Pác Bó, thác Bản Giốc, khu rừng Trần Hưng Đạo, Hồ
Thang Hen v.v… Cao Bằng còn nổi tiếng với văn hoá ẩm thực độc đáo như bánh
cuốn Cao Bằng, rượu ngô Thông Nông v.v….Đến với Cao Bằng, du khách ngoài
11
liên kết vùng Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để có được tài liệu và số liệu minh chứng, luận văn đã sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thu thập tài liệu tại thư viện các tỉnh.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan
quản lý Nhà nước về du lịch tại các tỉnh trong vùng, lãnh đạo chính quyền cấp
huyện và xã tại các địa phương có điểm du lịch về định hướng, nhận định liên
kết vùng du lịch;
- Phương pháp thống kê và tổng hợp, phân tích.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố cấu thành
nên sản phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bẳng và nhu cầu
của khách du lịch đến các tỉnh này dưới góc độ sản phẩm du lịch tổng thể.
- Phạm vi nghiên cứu: Sản phẩm du lịch của điểm đến tại các tỉnh Thái
Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng
+ Không gian: Phạm vi hành chính ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng.
+ Thời gian: Từ 2008 đến 2012.
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng
Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng trên nhiều khía cạnh khác nhau đã có một
số tài liệu đã được công bố.
Ngày 22 tháng 1 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 201/QĐ-Ttg về việc Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt
13
Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” trong đó nêu rõ quan điểm, mục
tiêu phát triển và các định hướng.
Qua tìm hiểu tài liệu tại thư viện các địa phương và Trung tâm học liệu
Thái Nguyên, đã tra cứu thấy một số đề tài có liên quan đến du lịch tại các tỉnh
- Sản phẩm là cái do lao động của con người tạo ra.
- Cái được tạo ra, như là một kết quả tự nhiên".
+ Theo ISO 9000/2000: "Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay các quá trình".
Sản phẩm bao hàm cả những yếu tố vật chất và phi vật chất, cả những vật thể hữu
hình (thông thường được gọi là hàng hoá) và vô hình (hay còn gọi là dịch vụ)
* Khái niệm sản phẩm du lịch
+Theo Điều 4 chương I, Luật Du lịch năm 2005, sản phẩm du lịch là tập hợp các
dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.
+Theo quan điểm Marketting: "sản phẩm du lịch là những hàng hoá và dịch vụ
có thể thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra
chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng
của khách du lịch".[5,8]
+Theo Michael Coltman: " Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành
phần không đồng nhất hữu hình và vô hình. Sản phẩm du lịch có thể là một món
hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục
vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát". [ 6,16].
+ Theo các nhà nghiên cứu về du lịch thì sản phẩm du lịch có thể được xác định như tập
hợp của những yếu tố thoả mãn và những yếu tố không thoả mãn mà du khách nhận
15
được trong quá trình du lịch" [4,381]. Các yếu tố thoả mãn bao gồm: sự thoả mãn về
sinh lí; sự thoả mãn về kinh tế; sự thoả mãn về xã hội; thoả mãn về tâm lí. Những yếu tố
tạo bực tức cho khách như: những yếu tố chủ quan: sai sót, chất lượng phục vụ, tính
chuyên nghiệp của nhân viên ; những yếu tố khách quan như giao thông, thời tiết; sản
phẩm phụ gia, những hoạt động làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm v.v…
+ Theo nghĩa rộng: Sản phẩm du lịch có thể được hiểu là tất cả các hàng hoá và
dịch vụ mà khách du lịch tiêu dùng cho chuyến đi du lịch của họ
+ Theo nghĩa hẹp: Sản phẩm du lịch là các hàng hoá và dịch vụ mà khách mua lẻ
hoặc trọn gói, do các doanh nghiệp du lịch tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu của
khách du lịch.
giải trí, tìm hiểu, nâng cao tầm hiểu biết, nghiên cứu Sản phẩm du lịch chủ yếu
thỏa mãn nhu cầu thứ yếu cao cấp của du khách. Mặc dù trong suốt chuyến đi họ
phải thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt. Do đó nhu cầu du lịch chỉ được đặt ra khi
người ta có thời gian nhàn rỗi, có thu nhập cao. Nguời ta sẽ đi du lịch nhiều hơn
nếu thu nhập tăng và ngược lại sẽ bị cắt giảm nếu thu nhập bị giảm xuống.
* Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể). Thực ra
nó là một kinh nghiệm hay sự trải nghiệm hơn là một món hàng cụ thể. Mặc dù
trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa nhưng sản phẩm du lịch là không
cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách
trang trí phòng đón tiếp…). Việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnh
tranh khó khăn hơn trong kinh doanh hàng hóa.
* Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch phần lớn là dịch vụ nên khách
hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua và nó gây khó khăn
cho việc lựa chọn sản phẩm.
17
* Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra
cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng. Do đó không thể đưa sản phẩm du
lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch.
* Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như
dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống….Do đó về cơ bản sản phẩm
du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ hỏng. Việc tiêu dùng sản phẩm du
lịch có tính thời vụ. Đây là hiện tượng lúc thì cung không đáp ứng được cầu trong
du lịch, lúc thì cầu quá thấp so với khả năng cung ứng. Nguyên nhân chính là
trong du lịch, lượng cung khá ổn định trong thời gian dài còn nhu cầu khách hàng
thì thường xuyên thay đổi, dẫn tới có sự chênh lệch giữa cung và cầu.
Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có các đặc điểm khác như: Sản phẩm du
lịch do nhiều nhà cung ứng cùng tham gia tạo thành; Việc tiêu dùng sản phẩm du
lịch mang tính thời vụ; Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch.
- Các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch
Các yếu tố
môi trƣờng
tự nhiên và
môi trƣờng
kinh tế xã hội 18
* Nguồn thu hút (lực hấp dẫn đối với du khách)
Bao gồm các điểm du lịch, các tuyến du lịch, các sự kiện thu hút v.v…nhằm
thỏa mãn cho nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn của du khách, đó là những cảnh
quan thiên nhiên đẹp nổi tiếng, các kỳ quan, các di sản văn hóa thế giới, các di tích
lịch sử mang đậm nét đặc sắc văn hóa của các quốc gia, các vùng…
* Điểm thu hút khách du lịch (Điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch).
Cơ sở du lịch bao gồm mạng lưới cơ sở lưu trú như khách sạn, làng du lịch
để phục vụ cho nhu cầu lưu trú của du khách, cửa hàng phục vụ ăn uống, cơ sở
kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu giải trí của du khách, hệ thống các phương tiện vận
chuyển nhằm phục vụ cho việc đi lại của du khách.
* Các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến hay còn được gọi là sản phẩm du lịch đơn lẻ.
Bộ phận này được xem là hạt nhân của của sản phẩm du lịch, việc thực
hiện nhu cầu chi tiêu du lịch của du khách không tách rời các loại dịch vụ mà
nhà kinh doanh du lịch cung cấp.
Sản phẩm du lịch mà nhà kinh doanh du lịch cung cấp cho du khách ngoài
một số sản phẩm vật chất hữu hình như ăn, uống, phần nhiều thể hiện bằng các
loại dịch vụ.
Dịch vụ du lịch là một quy trình hoàn chỉnh, là sự liên kết hợp lý các dịch vụ
đơn lẻ tạo nên, do vậy phải tạo ra sự phối hợp hài hòa, đồng bộ trong toàn bộ chỉnh
thể để tạo ra sự đánh giá tốt của du khách về sản phẩm du lịch hoàn chỉnh. Nó cũng là
yếu tố liên kết du khách với tài nguyên du lịch thông qua các hình thức và nôi dung
nghiệp đầu tư và quản lý; cũng có thể là sản phẩm do các ngành kinh tế khác cung
cấp; hoặc cũng có thể là sản phẩm được cung cấp bởi cư dân địa phương.
20
+ Quan điểm tổ chức không gian du lịch: Theo quan điểm này, có hai loại là không
gian du lịch và không gian phụ trợ cho du lịch. Không gian du lịch bao gồm không
gian tài nguyên du lịch và không gian dịch vụ du lịch. Không gian phụ trợ cho du lịch
gồm có không gian khu ở của cư dân địa phương, không gian công cộng ở đô thị,
không gian các của các ngành kinh tế khác và không gian thiên nhiên.
+ Quan điểm phân vị không gian lãnh thổ du lịch: Sản phẩm du lịch được phân
loại theo phân vị không gian. Ví dụ như sản phẩm du lịch của vùng du lịch hay
sản phẩm du lịch của tiểu vùng du lịch v.v…
+ Quan điểm quản lý hành chính: Sản phẩm du lịch được phân theo 3 cấp trong
quản lý hành chính. Đó là sản phẩm du lịch cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện.
* Phân loại theo mục tiêu khai thác
+Theo đặc điểm giá trị: Sản phẩm vật chất hay sản phẩm tinh thần; giá trị văn
hoá, địa chất, kiến trúc v.v…
+ Theo đặc thù tài nguyên: Sản phẩm du lịch được phân loại theo đặc thù của nó
như sản phẩm du lịch sinh thái, sản phẩm du lịch lịch sử; sản phẩm du lịch đô
thị, sản phẩm du lịch nông thôn v.v…
+Theo đặc điểm hoạt động du lịch: dựa vào hoạt động du lịch phân thành các
loại như sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan v.v…
* Phân loại theo mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường
+ Nhóm thị trường: Dựa vào thị trường khách du lịch để phân loại, ví dụ như sản
phẩm du lịch cao cấp hay sản phẩm du lịch bình dân; sản phẩm du lịch dành cho
khách Á, khách Âu v.v…
+ Quan điểm đầu tư kinh doanh: Dựa vào vốn đầu tư ít hay nhiều; sản phẩm lãi ít
hay nhiều v.v…
1.1.2. Các yếu tố tác động đến việc xây dựng sản phẩm liên kết vùng
một số quốc gia khác trên thế giới làm ảnh hưởng nhiều đến du lịch. Để đi ngược
lại với xu hướng này thì việc giữ gìn bản sắc địa phương rất quan trọng, nó giúp
cho sản phẩm du lịch vẫn giữ được sự độc đáo và độ hấp dẫn cao. Tuy nhiên sản
phẩm du lịch địa phương này cần phải có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu
của đa dạng các loại hình du khách, kể cả tầm quốc tế.
- Sự nhận thức về môi trường xã hội: Việc nhận thức đúng đắn về bảo vệ
môi trường, xã hội sẽ có tác động không nhỏ đối với sản phẩm du lịch và quyết
định tính bền vững của nó. Chính vì vậy việc bảo vệ môi trường sinh thái gần
như là một trong các trách nhiệm của ngành du lịch.
- Môi trường sống và làm việc: Sự thay đổi môi trường và không gian
sống là một trong các nhu cầu thúc đẩy con người đi du lịch. Tuy nhiên việc thay
đổi này phụ thuộc vào quãng thời gian mà du khách có thể dành cho du lịch. Vào
thời điểm hiện nay, các tour ngắn ngày thường được ưa chuộng.
- Tìm kiếm các trải nghiệm thực tế: trải nghiệm thực tế là một trong những
nhu cầu của con người. Vì thế việc du khách có xu hướng trải nghiệm thực tế là
điều luôn tồn tại. Hơn nữa, sản phẩm du lịch liên kết vùng bao gồm các không
gian văn hoá, kinh tế, xã hội khác nhau sẽ là điều hấp dẫn đối với du khách.
- Marketing: Việc sử dụng các công cụ marketing sẽ giúp phân đoạn thị trường
và xác định chính xác đối tượng khách khiến cho việc đáp ứng nhu cầu của du
khách chính xác và chất lượng hơn.
- Sự an toàn của điểm đến: điểm đến không an toàn sẽ không được du khách lựa
chọn cho dù tài nguyên du lịch có hấp dẫn và dịch vụ có tốt. An toàn là một
trong những nhu cầu của con người, du khách sẽ không mua sản phẩm nếu
không có sự an toàn.
1.1.3.Các giai đoạn, đối tượng tham gia vào quá trình xây dựng sản phẩm du lịch.
Sản phẩm du lịch được xây dựng dựa trên các giai đoạn và các đối tượng
khác nhau.
23
Giai đoạn đầu nhằm nghiên cứu thực tế nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng
và duy trì sản phẩm.
- Xúc tiến quảng bá giúp cho hình ảnh của sản phẩm đến được với đông đảo
công chúng và góp phần tạo ra cầu du lịch. Việc quảng bá thường thông qua các
công cụ như slogan, thương hiệu, hình ảnh đặc trưng hay các phương tiện như
các kênh truyền thông …
1.1.5. Một số phương pháp cơ bản để trợ giúp cho quá trình xây dựng sản
phẩm du lịch
1.1.5.1. Phương pháp “Vòng đời sản phẩm”
Mục đích chính là để định hướng khai thác tài nguyên và phát triển sản
phẩm du lịch phù hợp với chu kỳ sống của các điểm du lịch trong vùng. Phương
pháp này có thể giúp xác định các thời kỳ xâm nhập thị trường, tăng trưởng, chín
muồi và thoái trào của sản phẩm để kịp thời có các giải pháp phù hợp.
1.1.5.2. Phương pháp “Kéo dài chu kỳ sống”
Phương pháp này thường được áp dụng với các hình thức “bình cũ rượu
cũ”, “bình cũ rượu mới”, “bình mới rượu cũ” hay “bình mới rượu mới” nhằm
kéo dài vòng đời cho sản phẩm du lịch.
Chiến lược sản phẩm cũ, thị trường cũ: Khách du lịch đã phần nào chấp
nhận và quen với những sản phẩm du lịch cũ. Tuy nhiên, với chiến lược này, cần
thiết phải có những chính sách thích hợp và đầu tư thỏa đáng nhằm nâng cao
chất lượng các sản phẩm du lịch. Ngoài ra cũng cần có những chính sách giá cả
phù hợp để khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm du lịch.
Chiến lược sản phẩm cũ, thị trường mới: chiến lược này thường gặp nhiều
khó khăn trong tuyên truyền quảng cáo cũng như triển vọng thực hiện ngay.
25
Chiến lược sản phẩm mới, thị trường cũ: Đây là chiến lược có nhiều khả
năng thực thi hơn cả vì chỉ có đa dạng hóa sản phẩm du lịch mới có khả năng
ngăn được sự nhàm chán và giảm sút của thị trường khách cũ, đồng thời có sức
hấp dẫn thu hút đối với những thị trường khách mới.
Chiến lược sản phẩm mới, thị trường mới: Chiến lược này đòi hỏi phải có