Nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng ở khu du lịch sinh thái Vân Long - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HỒNG QUYÊN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Ở KHU DU LỊCH SINH THÁI VÂN LONG
CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ HẢI

Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở KHU DU
LỊCH SINH THÁI VÂN LONG 29
2.1. Khái quát Khu du lịch sinh thái Vân Long 29
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 29
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 31
2.2. Các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng ở KDL sinh thái Vân Long 35
2.2.1. Tài nguyên du lịch 35

2
2.2.2. Cộng đồng dân cư 46
2.2.3. Khả năng tiếp cận điểm đến 48
2.2.4. Khả năng cung ứng các dịch vụ du lịch 48
2.2.5. Chính sách phát triển du lịch 51
2.2.6. Công tác xúc tiến, quảng bá 53
2.3. Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng ở KDL sinh thái Vân Long 55
2.3.1. Các tuyến, điểm du lịch chính 55
2.3.2. Lượng khách và doanh thu du lịch 59
2.4. Đánh giá hoạt động du lịch cộng đồng ở KDL sinh thái Vân Long theo các
nguyên tắc phát triển DLCĐ 64
2.4.1. Sự đồng thuận của CĐĐP và các bên liên quan 64
2.4.2. Đa dạng về vai trò tham gia của cộng đồng 64
2.4.3. Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng 65
2.4.4. Khả năng của cộng đồng 66
2.4.5. Chia sẻ lợi ích từ du lịch cộng đồng 67
2.4.6. Quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng với việc bảo vệ tài nguyên du lịch . 69
2.5. Đánh giá chung về hoạt động du lịch cộng đồng ở KDL sinh thái Vân Long 69
2.5.1. Điểm mạnh 69
2.5.2. Điểm yếu 70
2.5.3. Cơ hội 71
2.5.4. Thách thức 72

DLBV
DLCĐ
HDV
KDL
UBND
VQG Cộng đồng
Cộng đồng địa phương
Du lịch bền vững
Du lịch cộng đồng
Hướng dẫn viên
Khu du lịch
Ủy ban Nhân dân
Vườn quốc gia

5
MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1. Dân số và mật độ dân số các xã trong KDL sinh thái Vân Long 31
Bảng 2.2. Làng nghề huyện Gia Viễn được công nhận làng nghề cấp tỉnh 45
Bảng 2.3. Đánh giá của khách du lịch về thái độ của CĐĐP ở KDL sinh thái Vân Long
……………………………………………………………………………….48

Bảng 2.4. Khả năng tham gia các dịch vụ du lịch của CĐĐP tại KDL sinh thái Vân
Long 47

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch cộng đồng xuất hiện như một nhu cầu tất yếu nhằm hạn chế tác động
tiêu cực của du lịch, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững khi những hoạt động
phát triển du lịch trước đó được thực hiện chủ yếu với mục đích đơn thuần là kinh tế đã
và đang đe dọa môi trường sinh thái và các giá trị văn hóa bản địa. Du lịch cộng đồng
khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển như
Indonesia, Thái Lan, Lào, Nepan, Butan… Ở Việt Nam, du lịch cộng đồng bắt đầu
được nghiên cứu và thử nghiệm tại một số khu vực vào đầu những năm 2000. Mô hình
du lịch cộng đồng đã hình thành ở một số địa phương như SaPa, Bát Xát (Lào Cai),
Mai Châu (Hòa Bình), Ba Bể (Bắc Cạn), Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), Chày
Lập, Farmstay (Quảng Bình)… Với mục tiêu chính là một công cụ cho hoạt động bảo
tồn, công cụ cho phát triển chất lượng cuộc sống, tạo cơ hội cho trao đổi kiến thức và
văn hóa giữa khách du lịch và cộng đồng…du lịch cộng đồng ngày càng khẳng định
được vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển
hoạt động du lịch của địa phương nói riêng.
Khu du lịch (KDL) sinh thái Vân Long là một trong những vùng đất ngập nước
lớn nhất đồng bằng Bắc Bộ, nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình trên địa phận 7 xã
là: Gia Hưng, Gia Vân, Liên Sơn, Gia Hoà, Gia Lập, Gia Tân và Gia Thanh thuộc
huyện Gia Viễn. Với tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng cùng
với lịch sử truyền thống lâu đời KDL sinh thái Vân Long có nhiều tiềm năng để phát
triển du lịch. Du lịch cộng đồng đã được triển khai tại Vân Long từ đầu những năm
2000 với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Việc phát triển du lịch cộng
đồng ở đây góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú về các loại hình và sản phẩm du
lịch để thu hút du khách, các chương trình du lịch cộng đồng bước đầu đã thu hút được
lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế, đồng thời đem lại hiệu quả thiết thực cho
cộng đồng địa phương.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cho đến nay du lịch cộng đồng ở đây vẫn
chưa đạt hiệu quả cao, chưa tương xứng với tiềm năng của điểm đến. Nguyên nhân

tến, đáng kể là SNV (tổ chức phát triển Hà Lan), UNDP, MCD (trung tâm bảo tồn sinh
vật biển và phát triển cộng đồng). Năm 2007, với sự hợp tác giữa SNV, MCD, Viện

9
Đại học Mở, Công ty du lịch Footprints, Công ty lữ hành Intrepid, dự thảo về "Mạng
lưới du lịch cộng đồng của Việt Nam” đã được thiết lập. Đây có thể coi là hình thức
đầu tiên trên quy mô quốc gia về DLCĐ, tạo tiếng nói chung giữa các nhà điều hành
tour, các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu, trung tâm giáo dục với cộng đồng địa
phương, đồng thời kêu gọi sự giúp đỡ tài chính trong và ngoài nước trong nỗ lực xóa
đói giảm nghèo và bình đẳng xã hội.
Du lịch cộng đồng được các ban ngành, tổ chức các nước quan tâm nên đã trở
thành lĩnh vực mới trong ngành du lịch. Đã có nhiều bài báo khoa học, tài liệu, công
trình nghiên cứu khác nhau về du lịch cộng đồng. Vì thế mà lý thuyết về DLCĐ dần
được hình thành.
Tài liệu “Community Based Tourism for Conversation and Development” xuất
bản năm 2003 của học viện The Mountain Institute, Hoa Kỳ đã đưa ra các khái niệm về
du lịch cộng đồng, vai trò, yếu tố phát triển. Các tác giả cũng đưa ra các ví dụ về mô
hình du lịch cộng đồng ở vùng Nam Mỹ và Malaysia. Ngoài ra tài liệu cũng đã đưa ra
các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thu hút khách du lịch tham gia du lịch cộng đồng.
Ở Việt Nam, tác giả Võ Quế có cuốn sách “Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và
vận dụng”, Tập 1, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. Nội dung sách đã đề cập đến
các lý thuyết về cộng đồng, lịch sử hình thành các khái niệm cộng đồng và bản chất
cộng đồng. Qua đó tác giả cũng đã nêu lên mục tiêu, ý nghĩa phát triển du lịch dựa vào
cộng đồng, các điều kiện và nguyên tắc để hình thành và phát triển du lịch dựa vào
cộng đồng. Không chỉ tiếp cận về mặt lý thuyết tác giả còn rút ra những bài học kinh
nghiệm quý giá từ việc nghiên cứu mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng trong
nước và của một số nước phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới.
Đề tài khoa học cấp Bộ nghiên cứu năm 2003 do Võ Quế làm Chủ nhiệm đề tài
„„Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Chùa Hương -
Hà Tây‟‟, đã đề cập đến vấn đề du lịch và cộng đồng như: khái niệm về cộng đồng, bản

du lịch cộng đồng ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang của Nguyễn Đức Khoa;
Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng vùng ven biển Nam Định của Trần
Thị Lan; Nghiên cứu du lịch sinh thái cộng đồng và đề xuất các giải pháp phát triển bền
vững tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

11
Riêng về Vân Long đã có nhiều bài báo khoa học, tài liệu, công trình nghiên
cứu khác nhau. Tuy nhiên, kết quả các công trình nghiên cứu chủ yếu mới chỉ dừng lại
ở việc xác nhận giá trị về lịch sử- văn hóa, giá trị về đa dạng sinh học của KDL sinh
thái Vân Long. Nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng ở KDL sinh thái Vân Long là
một vấn đề mới, chưa có công trình nào được nghiên cứu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng ở Khu
du lịch sinh thái Vân Long” là nghiên cứu các hoạt động phát triển du lịch tại KDL sinh
thái Vân Long, trên thực tế đó sẽ đề ra các giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở khu
vực nghiên cứu, nhằm nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, góp phần phát
triển du lịch bền vững.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho đề tài bao gồm:
- Xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng ở khu
vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu tổng quan các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội. Nghiên cứu các
điều kiện, thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại khu vực nghiên cứu. Đánh giá
hoạt động phát triển du lịch cộng đồng theo các nguyên tắc phát triển du lịch cộng
đồng.
- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch cộng đồng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập

Việc sử dụng phương pháp này thể hiện sự kế thừa cần thiết các tri thức đã có
để thực hiện đề tài.
Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa được tiến hành tại KDL sinh thái Vân Long. Phương pháp
này nhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, xã hội, tìm hiểu giá trị tài nguyên du
lịch, dịch vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của đối tượng nghiên cứu. Đồng
thời, việc khảo sát thực địa tại địa phương đã giúp tác giả đánh giá thực trạng hoạt động

13
du lịch cộng đồng tại địa phương, đó là cơ sở thực tế giúp tác giả đề xuất một số giải
pháp phát triển du lịch cộng đồng phù hợp với địa phương.
Khảo sát thực địa được tiến hành 2 đợt:
- Khảo sát đợt 1: tháng 11 năm 2012.
- Khảo sát đợt 2: tháng 4 năm 2013.
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua việc thu thập số
liệu bằng bảng hỏi. Bảng hỏi được thiết kế dành cho hai đối tượng là người dân địa
phương có tham gia hoạt động du lịch và khách du lịch đến Vân Long. Tổng số bảng
hỏi khảo sát là: 50 bảng hỏi dành cho người dân địa phương và 120 bảng hỏi dành cho
khách du lịch đến Vân Long.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia thông qua
phỏng vấn trực tiếp các cán bộ, chuyên gia du lịch của Trạm Du lịch Vân Long, Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình, các cán bộ của chính quyền địa phương.
Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp này là nhằm lựa chọn, sắp xếp các thông tin, số liệu, dữ liệu từ các
nguồn thứ cấp, sơ cấp để định lượng chính xác và đầy đủ phục vụ cho mục đích, yêu cầu
nghiên cứu, làm cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá tổng thể về đối tượng nghiên cứu.
Ngoài các phương pháp trên, tác giả còn sử dụng phương pháp sơ đồ để thực hiện
luận văn của mình.
6. Cấu trúc của luận văn

triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”.
[13, tr.22] Từ định nghĩa này, Nicole và Wolfgang chú trọng đến vai trò và lợi ích kinh
tế du lịch cộng đồng đem lại cho người dân địa phương.
Theo Hsien Hue Lee, Đại học cộng đồng Hsin-Hsing, Đài Loan: “Du lịch cộng
đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển bền
vững lâu dài. Đồng thời khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du
lịch và có cơ chế tạo ra các cơ hội cho cộng đồng”. [9, tr.17]
Có quan điểm thì cho rằng: “Du lịch cộng đồng là một quá trình tương tác giữa
cộng đồng và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía mang lại lợi ích
kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương” [6, tr.18]. Tác giả của quan

15
niệm này thiên về khía cạnh xã hội học, nhìn hoạt động du lịch như một môi trường
nảy sinh và phát triển các quan hệ xã hội.
Tại Hội thảo “Chia sẻ Bài học Kinh nghiệm Phát triển du lịch cộng đồng” được
Tổng cục Du lịch tổ chức tại Hà Nội năm 2003 đã xác định: “Phát triển du lịch có sự
tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận
thức và tăng quyền lực cho cộng đồng. Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du
lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức quốc tế”.
Từ việc nghiên cứu các khái niệm về du lịch cộng đồng, TS Võ Quế đã rút ra
khái niệm “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng
đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo
tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về
vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”. [16, tr.34]
Ngoài ra còn nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về du lịch cộng đồng, tuy
nhiên những hướng tiếp cận trên đều chú ý đến tính bền vững của hoạt động du lịch
này, xem nó cũng là một bộ phận của phát triển bền vững. Đại diện là hai định nghĩa:
“Du lịch cộng đồng là du lịch chú ý đến tính bền vững của môi trường tự nhiên, văn
hóa và xã hội. Du lịch cộng đồng được sở hữu và quản lý bởi cộng đồng địa phương và
phục vụ chính cộng đồng, với mục tiêu tăng cường nhận thức và hiểu biết của du khách

khâu quản lý, làm việc, ra quyết định và bảo vệ.
- Hoạt động du lịch phải thu hút cộng đồng địa phương và đem lại lợi ích cho
họ, tạo cơ hội việc làm và cải thiện điều kiện sống của họ.
- Du lịch gắn liền với phát triển bền vững, các loại hình du lịch sinh thái, du
lịch khám phá văn hóa của cộng đồng địa phương, du lịch mạo hiểm, du lịch thể thao…
1.1.3. Mục tiêu và nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
1.1.3.1. Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
Phát triển du lịch cộng đồng nhằm đạt đến 4 mục tiêu cơ bản về mặt kinh tế, xã
hội và môi trường:
- Góp phần bảo vệ tài nguyên (tự nhiên và nhân văn) và môi trường. Phát triển
du lịch cộng đồng nhằm phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, vì vậy
có đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường du lịch.
- Đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu du
lịch và những lợi ích kinh tế khác cho cộng đồng địa phương (tạo cơ hội việc làm tăng

17
thu nhập cho cộng đồng địa phương, nâng cao trình độ lao động khu vực này; địa
phương hưởng lợi từ việc phát triển hạ tầng du lịch…).
- Khuyến khích và hỗ trợ sự tham gia của cộng đồng.
- Mang đến cho du khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi
trường và xã hội.
1.1.3.2. Nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng
Một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển du lịch cộng đồng bao gồm:
- Có sự đồng thuận của cộng đồng địa phương và các bên tham gia (bao gồm
chính quyền địa phương, cơ quan quản lý khác, các doanh nghiệp du lịch, các nhà
nghiên cứu, các tổ chức phi lợi nhuận và chính cộng đồng).
- Có sự đa dạng về vai trò tham gia của cộng đồng. Các thành viên của cộng
đồng sẽ tham gia vào việc lên kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch tại
cộng đồng. Ở đây, cần nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình
tổ chức và thực hiện các hoạt động du lịch. Một số trường hợp có thể trao quyền làm

hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể
được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du
lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch. [12, tr.2]
Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định, vì tài nguyên du lịch chính là tiền đề
hay cơ sở để tổ chức các hoạt động du lịch. Điều kiện tài nguyên du lịch cũng nói lên
mức độ hấp dẫn thu hút khách du lịch đến thăm quan ở hiện tại và tương lai.
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch
nhân văn.
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu,
thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du
lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn
nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động
sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử
dụng phục vụ mục đích du lịch. [12, tr.2]
Tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định tạo nên giá trị của điểm đến. Các điểm
đến càng chứa nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc thì càng có sức hút khách du lịch, thúc
đẩy hoạt động du lịch tại địa phương. Để đáp ứng nhu cầu của du khách sản phẩm du

19
lịch cần phải đa dạng phong phú, đặc sắc trong đó có sự góp phần không nhỏ của tài
nguyên du lịch. Sự đa dạng của tài nguyên du lịch sẽ tạo nên sự đa dạng của sản phẩm
du lịch.
Các loại hình du lịch ra đời đều dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch. Du lịch cộng
đồng muốn phát triển cũng không nằm ngoài quy luật này. Các khu, điểm du lịch muốn
phát triển du lịch cộng đồng cần phải có tài nguyên du lịch đa dạng, hấp dẫn, đặc sắc.
1.1.4.2. Cộng đồng dân cư
Xác định phạm vi cộng đồng là những dân cư sống, sinh hoạt và lao động cố
định, lâu dài hoặc liền kề vùng có tài nguyên thiên nhiên. Không bao gồm cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp từ nơi khác đến làm việc hay kinh doanh.

Chính sách là do Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp ban hành. Có cơ
chế chính sách hợp lý sẽ tạo môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch và sự tham gia
của cộng đồng. Nhà nước cần coi trọng vai trò của kinh tế du lịch trong sự phát triển
kinh tế của đất nước, coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, chủ trương phát triển đa
dạng loại hình du lịch, đầu tư theo chiều sâu các loại hình đó.
Có chủ trương chính sách hỗ trợ cho hoạt động du lịch cộng đồng như: hỗ trợ
ngân sách cho các dự án khu bảo tồn thiên nhiên, văn hóa; Nâng cấp, trùng tu các di
tích lịch sử văn hóa; cấp kinh phí đào tạo lao động du lịch cho địa phương.
Phát triển du lịch cộng đồng cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ, tổ chức phi
chính phủ trong và ngoài nước về nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch
dựa vào cộng đồng và các công ty lữ hành trong vấn đề tuyên truyền, quảng cáo thu hút
khách du lịch đến tham quan.
1.1.4.7. Công tác xúc tiến, quảng bá
Chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý về du lịch cần có chính sách hỗ
trợ công tác xúc tiến, quảng bá du lịch; có các chương trình xúc tiến, quảng bá giới
thiệu điểm đến trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng các ấn phẩm quảng
bá điểm đến…
1.1.5. Ý nghĩa phát triển du lịch cộng đồng
Nhiều hội thảo, diễn đàn quốc tế về du lịch cộng đồng đã nêu lên ý nghĩa phát
triển du lịch cộng đồng đối với nhiều vấn đề như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an
ninh quốc phòng, bản thân cộng đồng …, thể hiện rõ nét nhất các vấn đề:

21
- Đối với công tác bảo tồn: du lịch cộng đồng phát triển sẽ gia tăng thu nhập
cho cộng đồng địa phương đặc biệt là ở vùng nông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao.
Đây sẽ là yếu tố tích cực góp phần làm giảm tác động của cộng đồng đến các giá trị
cảnh quan, tự nhiên, qua đó sẽ góp phần bảo tồn tài nguyên, môi trường đảm bảo cho
phát triển du lịch bền vững.
- Đối với cộng đồng: Du lịch phát triển góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng
đồng, làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động từ đó hạn chế tình trạng di cư

nghiệp kinh doanh du lịch.
1.2. Kinh nghiệm của một số địa phƣơng trên thế giới và Việt Nam về phát triển
du lịch cộng đồng
1.2.1. Du lịch cộng đồng tại làng Ghandruk thuộc khu bảo tồn quốc gia Annapurna
– Nepan
Đặc điểm làng Ghandruk
Làng Ghandruk là một trong hai làng thuộc dự án bảo tồn vùng Annapura-
Nepan. Dân trong vùng thuộc nhiều sắc tộc và tôn giáo khác nhau bao gồm các dân tộc
thiểu số là Gurung, Thakali và Managba…, họ đã sinh sống ở đây qua nhiều thế kỷ,
nên hình thành nền văn hóa, phong tục tập quán và nhiều lễ hội lâu đời, hấp dẫn du
khách. Làng Annapurna nằm trong điều kiện khí hậu khác nhau từ cận đới đến ôn đới,
sa mạc và khô. Khu bảo tồn có nhiều điều kiện tự nhiên phong phú như hệ động thực
vật phát triển đặc biệt ở đây có các loài Báo Tuyết, Cừu Xanh, hàng trăm loài phong
lan và nơi có khu rừng cây Đỗ Quyên lớn nhất thế giới.
Địa hình vùng Annapurna có rất nhiều núi cao, hiểm trở như đỉnh núi
Hymalaya cao nhất thế giới, nhưng lại rất độc đáo phù hợp cho những cuộc đi bộ thám
hiểm.
Hoạt động du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn Annapurna
Năm 1986, được sự hỗ trợ của Dự án bảo tồn thiên nhiên tại vùng Annapurna,
vùng đã bắt đầu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng với mục đích chính là bảo tồn
thiên nhiên, bảo vệ môi trường với phát triển cộng đồng bền vững. Phát triển du lịch
cộng đồng tại làng Ghandruk đặt ra các tiêu chí:
- Xóa đói giảm nghèo cho người dân trong vùng, đặc biệt là các cộng đồng chỉ
sống dựa vào điều kiện tự nhiên.

23
- Tạo ra thu nhập, giải quyết công ăn việc làm cho cộng đồng bằng các dịch vụ
du lịch thay cho việc đốn củi, khai thác săn bắn các loại động vật.
- Bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên và văn hóa truyền thống dân tộc.
Thành phần tham gia vào mô hình du lịch cộng đồng: Đơn vị tổ chức ACAP

thích thiên nhiên, cuộc sống làng quê mộc mạc và văn hóa Tây Tạng. Người dân ở đây
chủ yếu mưu sinh bằng nghề nông, một số nhà hoạt động kinh doanh cho khách thuê
nhà ở cùng.
Các nhà leo núi, du khách ưa mạo hiểm, người đi bộ đường dài và các nhà
nhiếp ảnh đã đến chinh phục và thám hiểm Yubeng. Yubeng ngày càng được nhiều
người biết đến và trở thành một điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới.
Đây là điểm du lịch ưa thích của những du khách yêu thích thiên nhiên, du lịch sinh
thái, phong tục tập quán và văn hóa tín ngưỡng truyền thống.
Hoạt động du lịch cộng đồng tại làng Yubeng
Từ giữa năm 1990, dân làng bắt đầu hoạt động kinh doanh loại hình ở nhà dân
và cưỡi ngựa, cung cấp cho khách du lịch dịch vụ nhà ở, giao thông và một số dịch vụ
cơ bản khác. Với số lượng khách du lịch đến Yubeng ngày càng cao, những người dân
ở làng bắt đầu kinh doanh khách sạn gia đình nhiều hơn. Doanh thu về phòng ở và thu
nhập đánh xe ngựa mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho dân làng. Điều này, đến một
mức độ nhất định đã dẫn đến phe phái và thậm chí xung đột giữa các người dân trong
làng. A-Rong là một giáo viên tiểu học, khi tham quan Yubeng vào năm 2002, ông xây
dựng một đề án và kêu gọi dân làng đón khách du lịch theo lượt quay vòng. Ban đầu đề
án của ông không được chấp thuận. Ông giải thích nếu không làm như vậy thì một số
người sẽ không kiếm được tiền và nghèo hơn nhiều. Sau đó, đề án của ông được chấp
thuận. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế hiệu quả cho việc phối hợp các hoạt động cạnh
tranh hoặc để hòa giải các xung đột, các mối quan hệ đơn giản giữa những người dân
trong làng sẽ bị de dọa và phong tục dân gian tự nhiên sẽ không còn tồn tại. Do đó môi
trường nhân văn thu hút khách du lịch và khuyến khích phát triển du lịch của Yubeng
sẽ suy thoái. Họ đã hình thành một “hệ thống phân phối cân bằng doanh thu du lịch”
sau một số cuộc họp của một vài gia đình, để chia sẻ thu nhập từ hoạt động khách sạn
gia đình, cung cấp thực phẩm và đồ uống cũng như điều khiển ngựa. Thu nhập hộ gia
đình sẵn có thực tế đã tăng, trong khi đó giảm sự bất bình thu nhập do sự khác biệt của
các hoạt động trong kinh doanh du lịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status