Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
~~~~~~~~~~~~
TRNGHIấN CU PHT TRIN DU LCH SINH THI
KHU V
C M
U SN, TNH LNG SN
Luận văn thạc sĩ du lịch
Luận văn thạc sĩ du lịch
Ngd: PGS.TS.
H
Hà Nội - 2013
1
5
1. Lý do chọn đề tài 5
30
2.2.1. Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên của Mẫu Sơn . 30
2.2.2. Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn của
Mẫu Sơn 35
48
2.3.1. Các hoạt động du lịch 48
2.3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 51
2.3.3. Khách du lịch 61
2.3.4. Doanh thu 62
2.3.5. Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch theo các nguyên tắc của du
lịch sinh thái 62
T. 69
70
-
70
3.1.1. Sự cần thiết của định hướng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn 70
3.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của định hướng 72
73
3.2.1. Quan điểm 73
3.2.2. Mục tiêu 74
74
3
3.3.1. Dự báo lượng khách du lịch đến Mẫu Sơn đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030 74
3.3.2. Dự báo doanh thu từ du lịch của Mẫu Sơn đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030 77
3.3.3. Dự báo nhu cầu lao động du lịch ở Mẫu Sơn 79
79
5
Du lịch tạo cơ hội lớn cho các nƣớc đang phát triển và kém phát
triển. Tuy nhiên việc vận dụng và khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ
cho du lịch nhiều lúc, nhiều nơi còn chƣa hiệu quả. Các địa phƣơng của
quốc gia không những không khai thác đƣợc hết tiềm năng của các dạng tài
nguyên mà còn dẫn tới những tác động không tốt cho môi trƣờng. Do vậy,
trong những thập kỷ gần đây, việc phát triển kinh tế du lịch phải đƣợc gắn
với bảo vệ môi trƣờng, phát triển du lịch phải theo hƣớng bền vững. Du
lịch sinh thái đƣợc xem nhƣ một hƣớng đi có hiệu quả, một xu thế phát
triển ngày càng chiếm đƣợc sự quan tâm của nhiều ngƣời, bởi đó là loại
hình du lịch thiên nhiên có trách nhiệm hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn tự
nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng mà vẫn đảm bảo
nguồn lợi về kinh tế.
Trong những năm trở lại đây, du lịch Lạng Sơn thực sự đã có đƣợc
sức hút đối với du khách gần xa. Số lƣợt du khách mỗi năm đến với tỉnh
ngày càng tăng. Lạng Sơn đang nỗ lực để du lịch hấp dẫn du khách hơn
trong việc tạo điểm nhấn cho hành trình, gây ấn tƣợng tốt với mỗi du khách
ghé qua đây. Có thể nói, một số loại hình du lịch của tỉnh nhƣ: du lịch mua
sắm, du lịch tín ngƣỡng, tâm linh tích cực, vãn cảnh di tích danh thắng, du
lịch lễ hội, du lịch biên giới đã và đang thực sự có chỗ đứng trong lòng du
khách. Ngay từ đầu năm, các ngành chức năng đã tích cực đẩy mạnh các
hoạt động nhằm không ngừng tạo điểm nhấn về điểm đến và các loại hình
du lịch ý nghĩa trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phƣơng.
Vùng núi Mẫu Sơn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn, địa hình đa
7
* Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ các tài liệu, kết quả nghiên
cứu trƣớc đó về loại hình du lịch sinh thái hay các loại hình liên quan tới du
lịch sinh thái, các tài liệu về Mẫu Sơn và các hoạt động du lịch tại Mẫu
Sơn.
* Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các dữ liệu, thông tin
từ các nguồn thứ cấp và sơ cấp nhằm định lƣợng chính xác và đầy đủ phục
vụ cho mục đích điều tra và nghiên cứu từ đó tổng hợp thành các nhận
định, báo cáo hoàn chỉnh nhằm đƣa ra một cái nhìn tổng thể về phát triển
du lịch sinh thái tại khu du lịch Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
* Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực tế đƣợc tiến hành tại 3 xã: Mẫu Sơn, Công Sơn huyện
Cao Lộc và Mẫu Sơn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Khảo sát đƣợc tiến hành 2 đợt:
- Đợt 1 (Tháng 12/2011): mục đích tìm hiểu giá trị các tài nguyên du
lịch, dịch vụ sẵn có, cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có và đời sống trình độ
nhận thức về du lịch sinh thái của cƣ dân địa phƣơng tại khu vực Mẫu Sơn.
- Đợt 2 (Tháng 07/2012): tìm hiểu thực trạng khai thác các điều kiện
phát triển du lịch sinh thái tại khu vực, đánh giá và tìm thêm các yếu tố có
thể tạo nên các sản phẩm cho loại hình du lịch sinh thái.
* Phương pháp điều tra xã hội học
Phƣơng pháp điều tra xã hội học là phƣơng pháp quan trọng và
không thể thiếu trong đánh giá mức độ chính xác của vấn đề nghiên cứu.
Phƣơng pháp điều tra xã hội học đƣợc sử dụng hiệu quả trong đánh giá nhu
cầu của du khách, tìm hiểu những tác động của du lịch tới đời sống của
9
1.1.
1.1.2. Khái niệm Du lịch sinh thái (DLST)
Du lịch sinh thái là một khái niệm mà nó có những quan niệm khác
nhau, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một học giả lại đƣa ra những ý kiến
khác nhau về vấn đề này. Nhìn chung, đây là một khái niệm rộng, đƣợc
hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau. Có ngƣời quan niệm DLST là
loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có tác động tiêu cực đến sự tồn tại
và phát triển của các hệ sinh thái nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Có
những ý kiến lại cho rằng DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có
trách nhiệm, du lịch xanh có lợi cho sự bền vững của môi trƣờng. Mặc dù
những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đƣa ra một định nghĩa chung đƣợc
chấp nhận về DLST nhƣng đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế chính thức
về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ
trợ các hoạt động bảo tồn và đƣợc quản lý bền vững về mặt sinh thái. Du
khách sẽ đƣợc hƣớng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi
trƣờng để nâng cao hiểu biết, cảm nhận đƣợc những giá trị thiên nhiên và
văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các
hệ sinh thái và văn hóa bản địa. Dƣới đây là một số khái niệm về DLST:
- Định nghĩa DLST của Hector Ceballos - Lascurains đƣợc đƣa ra
năm 1987 : “ Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít
bị thay đổi với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức
trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa đƣợc khám phá” [9,
tr.8].
- DLST là một dạng bền vững của du lịch dựa vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên, chú trọng chủ yếu vào việc trải nghiệm và học hỏi từ tự nhiên,
với môi trƣờng, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng” [10, tr. 11].
Luật du lịch Việt Nam 2005 cũng đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Du
lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn
hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.
Đây là cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu và quy hoạch phát triển du lịch
sinh thái ở Việt Nam.
Trên thực tế hiện nay, khái niệm về du lịch sinh thái vẫn còn đƣợc
hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể nêu ra những
đặc tính cơ bản của du lịch sinh thái gồm :
+ Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên (những cảnh quan thiên
nhiên và văn hóa ít bị thay đổi) với các mục đích khác nhau.
+ Là hoạt động du lịch có trách nhiệm, thu hút đƣợc sự tham gia của
nhân dân địa phƣơng, các tổ chức hoạt động du lịch, chính quyền, chủ nhà
và khách du lịch vào hoạt động bảo vệ môi trƣờng với mức độ giáo dục cao
về môi trƣờng.
+ Mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phƣơng và các bên tham gia.
1.1.2. Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái
Để hiểu rõ về tài nguyên du lịch sinh thái thì trƣớc hết chúng ta tìm
hiểu về tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài
nguyên nói chung.
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên
nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao
động sáng tạo của con ngƣời có thể đƣợc sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu
12
du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm
tạo sự hấp dẫn du lịch”.
Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài
nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái
mang đến lợi ích tối đa cho những ngƣời dân thƣờng ở địa phƣơng, làm
thỏa mãn tối đa nhu cầu thăm quan, nghỉ ngơi, giải trí của khách du lịch khi
tham gia vào hoạt động du lịch.
Trên thực tế, chuyến du lịch sinh thái đầu tiên đƣợc tổ chức tại Châu
Âu và tại Mỹ vào những năm 1980, thành phần du khách là tầng lớp
thƣợng lƣu, điểm đến là những công viên quốc gia nhƣ Yellowstone,
Yosemit, họ phải trả chi phí gấp 3 lần so với một chuyến du lịch Châu Âu
trong cùng thời điểm. Qua đó có thể thấy đƣợc tầm quan trọng trong nhận
thức của con ngƣời về một loại hình du lịch phải trả tiền để bảo vệ môi
trƣờng thiên nhiên, nói một cách khác đây là một sự bù đắp cho những mất
mát của tự nhiên để nó đƣợc bảo tồn tốt hơn trong tƣơng lai.
Chúng ta cần phải hiểu rằng du lịch sinh thái không đồng nghĩa với
du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh. Khi nói đến những loại du lịch trên là
chỉ nói đến đối tƣợng của chúng còn không đề cập gì đến việc chúng có
đƣợc tiến hành theo phƣơng thức bền vững hay không bền vững. Hơn nữa
những loại hình du lịch này chƣa chú trọng vào nâng cao nhận thức về
thiên nhiên, văn hóa, môi trƣờng cho khách du lịch và những ngƣời tham
gia hoạt động du lịch. Chỉ khi những đặc điểm cơ bản của du lịch sinh thái
đƣợc gắn với những dạng du lịch này thì chúng mới chuyển thành các dạng
cơ bản của du lịch sinh thái. Cũng không nên coi hoạt động du lịch sinh
14
thái chỉ diễn ra tại các vƣờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên mặc dù
đây là loại hình rất phổ biến.
Du lịch sinh thái mang những đặc trƣng cơ bản sau:
- Tính đa ngành: thể hiện ở đối tƣợng đƣợc khai thác phục vụ du
lịch. Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành
kinh tế khác nhau.
- Tính đa thành phần: biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần
khách du lịch, những ngƣời phục vụ du lịch, cộng đồng địa phƣơng, các tổ
chặt chẽ và nghiêm túc nhằm đảm bảo DLST hoạt động có hiệu quả về mọi
mặt, đạt sự cân bằng giữa phát triển và bảo tồn. Đó là:
1.3.1. Có hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường,
Hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi
trƣờng, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn, giảm thiểu các
tác động tiêu cực đến môi trƣờng
Khi tham gia DLST, du khách đƣợc cung cấp những kiến thức, kinh
nghiệm và thông tin đầy đủ, có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng
của du khách đối với môi trƣờng tự nhiên, xã hội và văn hóa bản địa, góp
phần thỏa mãn nhu cầu của du khách. Từ đó, du khách sẽ có thái độ tích
cực và nỗ lực hơn trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của khu
vực. Với nguyên tắc này, DLST đảm bảo đƣợc sự cân bằng giữa phát triển
du lịch và bảo vệ môi trƣờng. Đây chính là điểm khác biệt nổi bật giữa
DLST với các hoạt động du lịch khác. Để diễn giải thành công, các nhà
hoạch định, các nhà quản lý và những nhà trực tiếp diễn giải cần phải quan
tâm tới điểm sau: Đó là mỗi du khách đều có những đặc điểm, sở thích và
khả năng cảm nhận khác nhau vì thế họ phải nhận ra sự khác nhau này
cũng nhƣ những nét chung để diễn giải thích hợp với nhu cầu đông đảo du
16
khách. Để thu đƣợc kết quả tốt, họ phải thƣờng xuyên cập nhật thông tin,
kinh nghiệm với du khách mà còn có thể nhận đƣợc sự phản hồi từ phía du
khách.
1.3.2. Bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và đa dạng sinh học
Đối với DLST, đây đƣợc coi là một trong những nguyên tắc cơ bản
quan trọng cần tuân thủ, bởi vì:
- Việc bảo vệ môi trƣờng và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu
hoạt động của DLST.
- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trƣờng tự nhiên và các hệ
sinh thái điển hình. Sự xuống cấp của môi trƣờng, sự suy thoái các hệ sinh
- Du lịch ngày càng khẳng định mình là một ngành kinh tế quan
trọng, nó góp phần giải quyết việc làm và có doanh thu ngày càng tăng.
DLST phát triển mang lại nguồn thu nhập đáng kể. Vì thế, DLST có thể
mang lại cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập và giải quyết đƣợc tình trạng
nghèo đói cho ngƣời dân địa phƣơng.
- Cộng đồng địa phƣơng là những ngƣời sinh sống trên mảnh đất của
họ nhƣng lại không đƣợc hƣởng bất kỳ quyền lợi nào. DLST chính là giải
pháp mang lại sự công bằng và chia sẻ lợi ích, trách nhiệm với cộng đồng
địa phƣơng.
- Cộng đồng địa phƣơng phải tham gia hoạt động du lịch với nhiều
vai trò khác nhau. Họ là những ngƣời am hiểu các điều kiện cũng nhƣ tài
nguyên ở đó nên họ có thể là hƣớng dẫn viên, là ngƣời cung cấp các dịch
vụ cho DLST, bán hàng lƣu niệm cho khách; đồng thời là những ngƣời
tuyên truyền cho công tác bảo tồn. Tuy nhiên, một điều kiện rất quan trọng
18
là ngƣời dân địa phƣơng phải tham gia vào công tác quy hoạch, quản lý
DLST. Họ sẽ đƣa ra nhiều ý kiến đóng góp bổ ích, và các nhà quy hoạch
phải lắng nghe để xem cộng đồng địa phƣơng có chấp nhận những thay đổi
và tác động mà du lịch mang đến. Một khi không đạt đƣợc sự đồng thuận
của cộng đồng địa phƣơng thì DLST và công tác bảo tồn sẽ thất bại. Ngƣời
dân sẽ chống đối bằng các hoạt động tiêu cực nhƣ không chấp nhận sự có
mặt của du khách hoặc có thái độ không thân thiện, săn bắn động vật hoang
dã, chặt phá rừng…
- Khi du lịch sinh thái thực sự đem lại nguồn thu nhập đáng kể trong
cộng đồng địa phƣơng thì công tác giáo dục và chăm sóc sức khỏe ở địa
phƣơng cũng đƣợc cải thiện. Trình độ dân trí đƣợc nâng cao góp phần làm
giảm sự gia tăng dân số.
Con ngƣời là mục tiêu quan trọng của hoạt động phát triển, DLST
luôn hƣớng tới đem lại lợi ích cho con ngƣời. DLST không chỉ có ý nghĩa
*Khí hậu
Những nơi có khí hậu ôn hòa thƣờng đƣợc du khách ƣa thích. Nhiều
cuộc thăm dò đã cho kết quả là du khách du lịch thƣờng tránh những nơi
quá lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô. Những nơi có nhiều gió cũng
không thích hợp cho sự phát triển của du lịch. Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi
những điều kiện khí hậu khác nhau. Ví dụ du khách đi nghỉ biển mùa hè
thƣờng chọn những dịp không mƣa, nắng nhiều nhƣng không gắt, nƣớc
mát, gió vừa phải.
Số ngày mƣa phải tƣơng đối ít vào thời vụ du lịch biển. Điều đó có
nghĩa là địa điểm, vùng hoặc đất nƣớc du lịch cần có mùa du lịch tƣơng đối
khô. Mỗi một ngày mƣa đối với du khách là một ngày hao phí cho mục
20
đích của chuyến đi du lịch và nhƣ vậy làm giảm hiệu quả của chuyến đi
nghỉ biển.
Khách du lịch thƣờng chuộng những nơi có nhiều ánh nắng mặt trời, do
vậy họ đổ đến những nƣớc phía nam có khí hậu điều hòa và có biển. Những
nơi có số giờ nắng trung bình trong ngày cao thƣờng đƣợc ƣa thích và có
sức hút hơn đối với du khách.
Nhiệt độ cao khiến con ngƣời có cảm giác khó chịu. Nhiệt độ không khí
phải ở mức cho phép khách du lịch phơi mình đƣợc ở ngoài trời nắng là nhiệt
độ thích hợp.
Trong các yếu tố của khí hậu, nhiệt độ và độ ẩm có liên quan chặt chẽ với
nhau và có ảnh hƣởng chính đến cảm giác của con ngƣời. Qua quan trắc và
nghiên cứu, ngƣời ta đã rút ra đƣợc mối quan hệ giữa điều kiện khí hậu (chủ
yếu là độ ẩm và nhiệt độ) với cảm giác hay sức chịu đựng của con ngƣời. Các
nhà khoa học đã xác lập đƣợc một số chỉ tiêu gọi là chỉ tiêu sinh khí hậu để
đánh giá mức độ thuận lợi về mặt khí hậu đối với hoạt động du lịch ở các nơi.
*Thủy văn
Nƣớc là một là một yếu tố không thể thiếu đƣợc để duy trì sự sống của con
dẫn thứ cấp này sẽ mất đi một lƣợng không nhỏ những du khách cần đến
chúng nhƣ một điều kiện cho chuyến đi của mình. Thành phần của cơ sở
vật chất kỹ thuật trong bao gồm: các cơ sở, công trình kỹ thuật thuộc ngành
du lịch và các cơ sở, công trình thuộc các ngành khác có tham gia vào hoạt
động du lịch nhƣ giao thông, thƣơng nghiệp, dịch vụ công cộng
Tuy nhiên xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ DLST nên sử dụng
các công nghệ hợp môi trƣờng và mang tính tự nhiên. Các phƣơng tiện phục
vụ nên xây dựng từ các nguyên liệu và sử dụng các kiến trúc địa phƣơng hạn
chế tối đa việc tác động đến môi trƣờng tự nhiên và hệ sinh thái.
22
* Nhân lực
Nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời
tích lũy đƣợc, có khả năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai, là tổng thể các
tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một
công việc lao động nào đó, khi nói đến nguồn nhân lực ngƣời ta bàn đến
trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với nhu cầu thị trƣờng lao động. Chất lƣợng
nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của
ngƣời lao động.
Cũng nhƣ bất kỳ một ngành kinh tế nào khác, nhân lực trong ngành du
lịch cũng bao gồm hai nguồn nhân lực chính đó là nguồn nhân lực hoạt
động trực tiếp và nguồn nhân lực hoạt động gián tiếp tạo ra những sản
phẩm du lịch phục vụ cho nhu cầu của con ngƣời và nhu cầu phát triển xã
hội. Trong đó nguồn nhân lực trực tiếp hoạt động trong ngành du lịch giữ
vai trò quyết định sự thành công của ngành kinh tế này. Nguồn nhân lực
trực tiếp hoạt động trong ngành du lịch, bao gồm:
- Những ngƣời làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nƣớc về du lịch.
Nguồn nhân lực này làm việc trong các cơ quan chuyên ngành của Chính
phủ, các Bộ, ngành của Trung ƣơng và địa phƣơng. Đó là các cán bộ
chuyên môn thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch; các cá nhân và tập thể
văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”.
Các di tích lịch sử văn hóa có sức thu hút đặc biệt đối với những khách
DLST có trình độ cao, ham hiểu biết.
*Các lễ hội
Trong các dạng của tài nguyên nhân văn, lễ hội truyền thống là tài
nguyên có giá trị phục vụ du lịch rất lớn. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt
văn hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc. Lễ hội là một
hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả,