BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI-HẢI PHÒNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN TRỌNG ĐỨC
MÃ SINH VIÊN : A16427
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH
HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ
NỘI-HẢI PHÒNG
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trọng Đức
Mã sinh viên : A16427
Chuyên ngành : Tài Chính
HÀ NỘI – 2013
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
CP Cổ phần
TSNH Tài sản ngắn hạn
TSDH Tài sản dài hạn
VCSH Vốn chủ sở hữu
biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Đánh giá thực trạng tài chính và phân tích hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động sản xuất và nâng cao hiệu
quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công
ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Bia
Hà Nội – Hải Phòng trong ba năm 2010, 2011, 2012.
Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các phương pháp điều tra thực tế kết hợp với phương pháp lý luận
chung, đề tài sử dụng phương pháp toán học, biểu đồ, phương pháp thống kê, phỏng
vấn, phân tích, tổng hợp, đánh giá và tổng kết thực tiễn, phương pháp nghiên cứu so
sánh và phương pháp nghiên cứu khoa học về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khóa luận này được tiếp cận dưới góc độ phân tích tài chính của một sinh viên
chuyên ngành tài chính doanh nghiệp, do vậy đi sâu vào phân tích tình hình tài chính
của công ty để rút ra những ưu điểm cũng như hạn chế của công ty trong hoạt động
kinh doanh, và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nội dung khoá luận bao gồm những phần sau
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP.
Chương II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI – HẢI PHÒNG
Chương III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI – HẢI PHÒNG.
Em xin chân thành cám ơn sứ hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy giáo
TS.Nguyễn Thanh Bình, cùng các cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần bia Hà Nội
- Hải Phòng đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Do hạn chế về lý luận
và thời gian nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót , em rất mong nhận được sự góp ý
khả năng huy động và vận dụng các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp.
Có thể kết luận: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp nhằm
tối đa hóa kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời giảm thiểu chi phí ở mức thấp nhất.
8
1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả của hoạt động sản
xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả trong hoạt động sản
xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền
vốn…) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp - mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Tuy nhiên để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động
sản xuất kinh doanh:
- Trước hết, hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại
lượng cân đong đo đếm được như: số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận,
thị phần… và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có
tính chất định tính như: uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm… Như thế kết
quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp.Và kết quả còn phản ánh quy mô sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nữa.
- Trong khi đó theo công thức
Hiệu quả (H) =
Người ta sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (đầu vào) để đánh
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai
chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị.
Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn
là giữa đầu vào và đầu ra không có cùng một đơn vị đo lường còn đơn vị giá trị luôn
hiện ở những lý do sau đây:
- Thứ nhất: nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm. Trước kia, dân cư còn ít mà
của cải trên trái đất lại phong phú, chưa bị cạn kiệt vì khai thác sử dụng. Khi đó loài
người chỉ chú ý phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ
sở gia tăng các yếu tố sản xuất như: tư liệu sản xuất, đất đai… Nhưng thực tế, mọi
nguồn tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng sản, hải sản, lâm sản… đều là hữu
hạn và ngày càng khan hiếm, cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng chúng. Và
với dân số gần bảy tỷ người như hiện tại đòi hỏi con người phải nghĩ đến việc lựa chọn
kinh tế, khan hiếm tăng dẫn đến vấn đề kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm
túc. Việc lựa chọn kinh tế tối ưu ở đây chính là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
mà không cần sử dụng quá nhiều tài nguyên thiên nhiên.
- Thứ hai: khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển. Với sự phát triển của kỹ thuật
sản xuất thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra sản
phẩm. Kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất
10
định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều này cho phép các
doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế: lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm
(cơ cấu sản phẩm) tối ưu. Lựa chọn sản xuất kinh doanh tối ưu chính là sử dụng tối
thiểu các nguồn lực đầu vào để thu được lợi ích cao nhất. Vì vậy giúp doanh nghiệp có
thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực.
Thứ ba: sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế kinh tế khác
nhau là khác nhau.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, việc lựa chọn kinh tế thường không đặt ra
cho cấp doanh nghiệp. Mọi quyết định kinh tế: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào?
và sản xuất cho ai? đều được giải quyết từ một trung tâm duy nhất là Nhà nước. Doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo sự chỉ đạo từ trung
tâm đó và vì thế mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là hoàn thành kế hoạch mà Nhà
nước giao. Do những hạn chế nhất định của cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà không
phải chỉ là các doanh nghiệp ít quan tâm tới hiệu quả hoạt động kinh tế của mình mà
trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch bằng mọi giá.
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu sẽ có bao nhiêu đồng lời
nhuận được sinh ra. Chỉ tiêu này càng cao có nghĩa doanh nghiệp đang sử dụng hiệu
quả vốn chủ sở hữu, đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư quan tâm, có thể giúp doanh
nghiệp thu hút nguồn vốn để gia tăng phạm vi hoạt động kinh doanh.
1.2.1.2. Tỷ suất sinh lời của tài sản
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng tài sản doanh nghiệp bỏ ra thì có bao nhiêu
đồng lợi nhuận thu về ( sau thuế). Thể hiện mức độ hiệu quả trong việc phân chia sử
dụng nguồn tài sản của doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời của tài sản
( ROA )
=
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản bình quân
1.2.1.3. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu được tính dựa trên lợi nhuận sau thuế và doanh
thu thuần, trong đó doanh thu thuần bao gồm doanh thu thuần hoạt động bán hàng,
cung cấp dịch vụ và doanh thu từ hoạt động tài chính.
Chỉ tiêu cho thấy được hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp, chi phí được
sử dụng hợp lý làm tăng lợi nhuận sau thuế đến mức gần với doanh thu thuần.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
( ROS )
=
Lợi nhuận sau thuế
Tổng doanh thu
1.2.1.4. Tỷ suất sinh lời trên chi phí hoạt động
Chi phí hoạt động là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được kết quả hoạt động
kinh doanh trong kỳ, bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và quản lý doanh
nghiệp, chi phí hoạt động tài chính, chi phí khác.
Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ lợi nhuận đạt được sau thuế gấp nhiều lần chi phí, hoàn
thành mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu cho biết cứ 100 đồng tài sản ngắn hạn sử dụng trong kỳ sinh ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Số vòng quay
của tài sản ngắn hạn
=
Tổng số luân chuyển
TSNH bình quân
Chỉ tiêu này thể hiện tốc độ vận động của tài sản ngắn hạn trong chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp.chỉ số càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng càng cao.
Số vòng quay hàng tồn kho =
Tổng giá vốn hàng bán
HTK bình quân
Chỉ tiêu này đánh giá tốc độ vận động của hàng tồn kho
Thời gian 1 vòng quay của hàng tồn kho =
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay hàng tồn kho
Thời gian 1 vòng quay HTK càng thấp thì số vòng quay trong kỳ càng nhiều, góp
phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
13
1.2.3. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
1.2.3.1. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lời
của VCSH
=
LNST
x
DTT
x
TS bình quân
DTT TS bình quân VCSH bình quân
=
Tổng lợi nhuận sau thuế
Tổng lao động bình quân trong kỳ
1.2.5. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí
Tỷ suất sinh lời trên tổng chi phí đánh giá mức độ tiết kiệm chi phí dựa vào độ
lớn của lợi nhuận đối với tổng chi phí
Tỷ suất sinh lời = LNTT
14
trên tổng chi phí Tổng chi phí
Tỷ suất sinh lời của GVHB cho biết với mỗi 100 đồng GVHB , doanh nghiệp tạo
ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ suất sinh lời
trên GVHB
=
Lợi nhuận gộp
GVHB
Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng cho biết với mỗi 100 đồng chi phí bỏ ra
phục vụ cho hoạt động bán hàng thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất sinh lời của chi phí
bán hàng
=
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
Chi phí bán hàng
Tỷ suất sinh lời của chi phí quản lý doanh nghiệp cho biết cứ 100 đồng chi phí
quản lý doanh nghiệp bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất sinh lời của chi phí
quản lý doanh nghiệp
=
Lợi nhuận thuần từ HĐKD
Chi phí quản lý DN
phát triển kinh doanh của mình, tránh những đổ vỡ không cần thiết, có hại cho xã hội.
1.3.1.3. Môi trường xã hội
Xã hội phát triển kéo theo sự phát triển của trình độ dân trí , cơ sở khoa học kỹ
thuật phát triển, đời sống của cong người được nâng cao kèm theo các xu hướng kinh
tế , thói quen tiêu dùng mới v.v Những thay đổi đó đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh
nhạy nắm bắt kịp thời các xu hướng này. Các phong tục tập quán, các nếp văn hóa xã
hội của mỗi quốc gia vùng miền có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại của một sản
phẩm hay dịch vụ mà một công ty tạo ra. Không những thế, các chiến dịch marketing
và quảng bá của công ty cũng phần nhiều phải dựa trên đặc điểm văn hóa xã hội mà
doanh nghiệp đó nhắm đến.
Tựu chung, muốn phát triển và đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp cần hiểu rõ môi trường văn hóa xã hội xung quanh mình.
Hãy nhìn vào một môi trường xã hội cụ thể và gần gũi nhất đó là Việt Nam. Tại
Việt Nam, nguồn lao động rẻ nhưng trình độ chuyên môn cao chiếm số lượng rất ít,
chủ yếu là lao động phổ thông, phù hợp với quy trình sản xuất. Việt Nam cũng là nước
coi trọng các phong tục tập quán của những thế hệ đi trước để lại. Do vậy, nhiều doanh
nghiệp đã có những thiết kế sản phẩm hay mẫu quảng cáo đánh vào đặc điểm này.Ví
dụ như quảng cáo của Nestle: ”Trong 100 năm qua Nestle luôn chú trọng các giá trị
truyền thống, uống nước nhớ nguồn…”
Với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì còn cần nghiêm cứu văn hóa và xã hội
nơi quốc gia tiêu thụ sản phẩm và có sự điều chỉnh phù hợp.
1.3.1.4. Trình độ khoa học kỹ thuật
Kỹ thuật và công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào áp dụng kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh. Ngày nay vai trò của kỹ thuật và
16
công nghệ được các doanh nghiệp đánh giá cao. Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là
đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
Đầu tư vào khoa học ký thuật sẽ giúp nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm,
Một bộ máy tổ chức hợp lý, chặt chẽ sẽ là cái khung vững chắc cho doanh
nghiệp, đảm bảo cho mọi hoạt động, dễ dàng tiếp cận được mục tiêu và tiên chỉ đề ra,
trong đó có hiệu quả sản xuất kinh doanh.Trong giai đoạn kinh tế suy thoái và gặp
nhiều khó khăn như hiện nay, vai trò của nhà quản trị càng lớn hơn, giúp doanh nghiệp
phát triển vững vàng vượt qua những sóng gió của thị trường trong nước và quốc tế.
Chính vì vậy ngày nay, môi trường trong công ty và cơ cấu quản lý là điều mà các
doanh nghiệp từ khi mới thành lập đều có mối quan tâm rất cao.
1.3.2.2. Tình hình tài chính doanh nghiệp
Tình hình tài chính tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Khả năng tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của doanh nghiệp, tới khả
năng chủ động sản xuất kinh doanh, tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách chủ động khai
thác sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào. Nguồn vốn luôn là yếu tố đầu tiên được
nhắc đến khi thành lập một doanh nghiệp. Đây chính là nguồn lực chính và quan trọng
nhất để duy trì hoạt động doanh nghiệp.
Khả năng tài chính thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp cả về tốc độ, tiềm lực,
mức độ rủi ro. Một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt có thể thu hút nhiều nhà
đầu tư trên thị trường, các nhà cung cấp uy tín và cả những khách hàng khó tính.Việc
duy trì tình hình tài chính ổn định hay linh hoạt tùy theo những quyết định sản xuất
của công ty, mỗi kế hoạch tài chính đều có những tác động nhất định, nâng cao hiệu
quả sản xuất, phát triển thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút đầu tư, v.v
1.3.2.3. Lao động và tiền lương
Lao động là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi
hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu người lao động có đủ trình độ để sử
dụng máy móc thì góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Còn trình độ của người lao
động hạn chế thì cho dù máy móc thiết bị hiện đại đến đâu cũng không mang lại năng
suất cao, gây tốn kém tiền của mua sắm thiết bị. Do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình sản xuất kinh doanh. Với các doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh ra thị trường quốc tế, cần xem xét môi trường lại động tại nước đó. Ngược lại,
đặc điểm lao động của một khu vực ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của toàn bộ khu
giá nhất định. Việc giảm giá thành sản phẩm sẽ giúp sản phẩm dễ dàng tiếp cận người
tiêu dùng hơn, tăng lượng hàng bán ra được.
Chất lượng sản phẩm là nhân tố thứ ba: chất lượng sản phẩm tạo ra uy tín cho
doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm tốt đủ để đáp ứng nhu cầu khách hàng sẽ giúp
doanh nghiệp dành lấy thị phần trên thị trường .
1.3.2.6. Môi trường làm việc và cơ sở vật chất bên trong doanh nghiệp
Môi trường bên trong doanh nghiệp bao gồm con người và cơ sở vật chất. Môi
trường con người hay văn hóa doanh nghiệp là một yếu tố biến động linh hoạt.
Văn hoá doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của
mỗi doanh nghiệp, bất kỳ doanh nghiệp nào thiếu đi yếu tố văn hoá, ngôn ngữ, tư liệu,
thông tin nói chung thì khó có thể đứng vững và tồn tại được. Trong khuynh hướng xã
hội ngày nay, con người là một nguồn lực của doanh nghiệp mà văn hoá doanh nghiệp
19
là cái liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng nguồn lực riêng lẻ. Do vậy, có
thể khẳng định văn hoá doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp.
Thứ hai đó là cơ sở vật chất: để mở rộng hay duy trì hoạt động kinh doanh thì
doanh nghiệp cần có cơ sở vật chất đủ để đáp ứng. Cơ sỏ vật chất tốt sẽ đảm bảo được
chất lượng sản phẩm, an toàn của người lao động, giảm thời gian sản xuất
Việc doanh nghiệp liên tục đầu tư cơ sở vật chất , cập nhật trình độ khoa học kỹ
thuật công nghệ sẽ giúp tạo nền tảng và củng cố sức mạnh cho doanh nghiệp.
1.3.2.7. Marketing
Với nền kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì hoạt động marketing không
có gì là xa lạ, thậm chí là bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp. Marketing làviệc tìm
cách đưa sản phẩm đến với người khách hàng thông qua nhiều hình thức, điều kiện
khác nhau. Thông qua hoạt động marketing, doang nghiệp dựa vào những điểm mạnh
sẵn có, giới thiệu sản phẩm tới khách hàng và thiết lập được thị phần riêng cho mình.
Đối với mỗi nhóm khách hàng, khu vực địa lý doanh nghiệp sẽ có một chiến lược
marketing riêng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng tại bộ phận đó.
Vì vậy nếu nhà quản trị doanh nghiệp có thể vạch ra chiến lược marketing tốt thì
hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ được nâng cao.
bia Hải Phòng với số vốn điều lệ là 25.500.200.000 VNĐ, tỷ lệ vốn của các cổ đông
nhà nước là 65%, vốn của các cổ đông trong doanh nghiệp là 29,5%, vốn của các cổ
đông ngoài doanh nghiệp là 5,5%. Công ty cổ phần Bia Hải Phòng chính thức hoạt
21
động theo mô hình Công ty cổ phần theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0203001024 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp ngày 20/09/2004.
- Tháng 10 năm 2005, UBND Thành Phố Hải Phòng đồng ý chuyển nhượng
phần vốn Nhà nước tại Công ty cổ phần bia Hải Phòng cho Tổng Công ty Bia – Rươụ
– Nước giải khát Hà Nội (theo thông báo số 4510/UBND-KHTH, ngày 24/8/2005) và
Hội đồng Quản trị Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội đồng ý nhận
chuyển nhượng phần vốn nhà nước tại Công ty cổ phần bia Hải Phòng (số 45/QĐ-
TCKT ngày 06/09/2005). Công ty cổ phần bia Hải Phòng gia nhập Tổng công ty Bia –
Rượu – Nước giải khát Hà Nội hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con.
- Theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bất thường họp ngày 23/10/2005: Công
ty cổ phần Bia Hải Phòng đổi tên thành Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng.
2.1.3. Hoạt động kinh doanh sản xuất
Công ty cổ phần bia Hà Nội - Hải Phòng kinh doanh trong các ngành nghề sau
- Sản xuất nước uống có cồn và không cồn: bia các loại, rượu, nước ngọt.
- Khai thác, xử lý và cung cấp nước
- Sản xuất nước uống tinh khiết có chai
- Vận tải hàng hóa bằng đường bộ
- Khách sạn
- Nhà hàng, quán ăn, nhà ăn uống
22
2.1.4. Cơ cấu tổ chức và quản lý
CƠ CẤU BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức
Hiện nay cơ cấu bộ máy quản lý Công ty Cổ phần bia Hà Nội – Hải Phòng gồm:
- Đại hội đồng cổ đông.
- Hội đồng quản trị.
5%, không gây nhiều tác hại cho người sử dụng và nếu biết sử dụng sản phẩm này một
cách hợp lý thì bia sẽ đem lại nhiều tác dụng tốt. Trong bất kể mùa nào, những cuộc
hội họp đều không thể thiếu loại đồ uống này.
Chính những đặc điểm và tác dụng nêu trên đã khiến sản phẩm này ngày càng
được người tiêu dùng chấp nhận cao, do vậy, tiềm năng phát triển là rất lớn.
- Các sản phẩm bia của công ty cổ phần bia Hà Nội có giá thành rẻ , phù hợp với
mức thu nhập chung của đại bộ phân người tiêu dùng hiện nay, ưu điểm này giúp cho
việc các sản phẩm bia của Bia Hà Nội – Hải Phòng dễ dàng tiếp cận thi trường hơn.
Nhược điểm
- Tính thời vụ là một nhược điểm của thị trường bia, nhất là đối với bia miền
Bắc. Thị trường bia chịu ảnh hưởng rất lớn từ đặc điểm địa lý và khí hậu vùng miền. Ở
khu vực phía Bắc, thời tiết chia ra đủ bốn mùa. Khí hậu nóng và mùa hạ là điều kiện lý
tưởng cho thị trường bia do khách hàng có xu hướng giải khát và tiêu dùng trong các
buổi gặp gỡ, đây là thời điểm lượng tiêu thụ bia cao nhất. Đến mùa đông, thời tiết
chuyển lạnh, sản lượng bia tiêu thụ giảm đáng kể. Khác với khu vực miền Bắc, miền
Nam lại chia khí hậu thành mùa mưa và mùa khô, thời tiết phần lớn nắng nóng nhất là
vào mùa khô vì vậy mà bia hơi, bia chai được sử dụng quanh năm, từ đó cho thấy sức
tiêu thụ bia tại thị trường miền nam có phần lớn hơn.
24
- Ngành sản xuất bia chịu một đặc điểm lớn là hạn ngạch sản xuất (Quotas). Hạn
ngạch này do chính phủ đề ra nhằm giới hạn khối lượng sản xuất của các doanh nghiệp
bia, đảm bảo tính kiểm soát trong thị trường. Tùy theo quy mô doanh nghiệp mà hạn
ngạch được thay đổi. Đối với các doanh nghiệp hàng đầu thị trường bia như Habeco,
Sabeco, Heineken hạn ngạch luôn thấp hơn mức doanh nghiệp sản xuất được.
- Các sản phẩm bia của công ty cổ phần bia Hà Nội - Hải Phòng còn chưa đánh
dấu được trên thị trường về mặt chất lượng và thương hiệu, trong khi các sản phẩm
của các công ty cạnh tranh như HABECO Hà Nội, SABECO,… đã dần hình thành
được vị thế trên thị trường với mùi vị và hình ảnh được ưa chuộng thì các sản phẩm
của công ty cổ phần bia Hà Nội – Hải Phòng vẫn còn nhiều khuyết điểm.
2.1.5.2. Đặc điểm trình độ công nghệ