PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, Tiếng Anh là một ngôn ngữ giao tiếp quốc tế, được sử dụng rộng
rãi trong nhiều linh vực như kinh tế, khoa học, y học, kỹ thuật…trên toàn thế
giới. Chính vì vậy, bộ môn Tiếng Anh đã được đưa vào giảng dạy trong các
trường: tiểu học, THCS, THPT… việc dạy và học ngoại ngữ ngày càng được coi
trọng.Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy và học tập thầy và trò gặp rất nhiều
khó khăn về nhiều mặt: Một phần học sinh chúng ta đều là con nhà nông,việc
quan tâm lo lắng của phụ huynh còn hạn chế, đa số các em còn yếu kém về năng
lực học tập. Mặt khác, các em chưa thực sự ý thức sự cần thiết của việc học
Ngoại Ngữ dẫn đến chất lượng học tập của các em còn yếu kém. Từ thực tế trên
việc nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục là vô cùng cấp bách, việc đổi mới
phương pháp dạy học là một vấn đề được ngành giáo dục đề cập và đặt lên hàng
đầu.
Như chúng ta đã biết, trước đây theo phương pháp dạy học cũ, thầy giáo đóng
vai trò trung tâm là người truyền đạt kiến thức, còn học sinh là đối tượng tiếp
nhận kiến thức một cách thụ động. Phương pháp này ít mang lại hiệu quả giáo
dục, nó không còn phù hợp với tình hình phát triển của nước ta hiện nay. Bây
giờ yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh là học sinh phải biết tự giác chủ động và sáng tạo, chiếm lĩnh làm
chủ kiến thức. Thực hiện được yêu cầu này giáo viên phải là người có vai trò
trong việc hướng dẫn, điều khiển, tổ chức cho học sinh hoạt động. Do vậy, việc
vận dụng các phương pháp mới luôn luôn đòi hỏi mỗi giáo viên phải nỗ lực
Hoạt động cặp, nhóm là một phương pháp dạy học mới đã được nhiều thầy cô
giáo áp dụng trong phần luyện tập của học sinh giúp học sinh hướng tới việc học
tập chủ động, chống lại thói quen thụ động.Theo chương trình cải cách hiện nay,
môn Tiếng Anh đòi hỏi ở học sinh rèn luyện về kỹ năng giao tiếp hay nói đúng
hơn kỹ năng nghe nói được đặt biệt coi trọng. Qua nhiều năm giảng dạy theo
phương pháp mới, bản thân tôi đã tự rút ra kinh nghiệm: hoạt động nhóm góp
phần tăng cường sự giao tiếp, trao đổi hợp tác giữa các đối tượng học sinh. Tổ
chức hoạt động nhóm là một trong những khâu quan trọng trong một tiết học
• Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn học sinh nhằm rỳt ra những kết luận
chớnh xỏc
• Phương pháp quan sát: Thông qua quá trình hoạt động của học sinh , GV rút
ra được những nhận định cụ thể
2
• Phương pháp kiểm tra đánh giá: Kiểm tra đánh giá học sinh dưới nhiều hỡnh
thức như : KT Miệng, 15’, 1 tiết
7. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.
- Đề tài được nghiên cứu trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm học
2012- 2013
PHẦN THỨ HAI - NỘI DUNG
CHƯƠNG I -CƠ SỞ LÍ LUẬN .
Ở Việt Nam, phương pháp học tập hợp tác nhóm đã được tổ chức dạy học từ
lâu như: “Học thày không tày học bạn”. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945,
chúng ta từng có phong trào học tập dân chủ “Bình dân học vụ” học tập tổ,
nhóm. Phong trào: “Đôi bạn cùng tiến” được Hội đồng đội Trung ương phát
động trong thời gian dài cả trong kháng chiến và đến tận bây giờ vẫn được duy
trì. Trên thực tế ở những vùng dân cư thưa thớt như vùng sâu vùng xa, vùng núi
cao hẻo lánh, chúng ta đã tổ chức dạy học theo các lớp ghép 2, 3 đến 4 trình độ
trong một lớp. Việc tổ chức dạy học lớp ghép như vậy cũng là dựa trên nền tảng
của tổ chức dạy học theo nhóm cùng trình độ.
Những năm cuối của thế kỷ XX, học tập nhóm ở Việt Nam luôn diễn ra dưới
nhiều hình thức khác nhau: như nhóm tự quản, nhóm học tập, ở một số môn học
như: thể dục, thủ công, âm nhạc, ngoại khoá, sinh hoạt câu lạc bộ vv. Gần đây,
với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động
của người học, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đưa ra bốn đặc trưng cơ bản:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động độc lập của học sinh.
- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể kết hợp học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò.
Ở Việt Nam, phương pháp học tập hợp tác nhóm đã được tổ chức dạy học từ
lâu như: “Học thày không tày học bạn”. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945,
chúng ta từng có phong trào học tập dân chủ “Bình dân học vụ” học tập tổ,
nhóm. Phong trào: “Đôi bạn cùng tiến” được Hội đồng đội Trung ương phát
động trong thời gian dài cả trong kháng chiến và đến tận bây giờ vẫn được duy
trì. Trên thực tế ở những vùng dân cư thưa thớt như vùng sâu vùng xa, vùng núi
cao hẻo lánh, chúng ta đã tổ chức dạy học theo các lớp ghép 2, 3 đến 4 trình độ
trong một lớp. Việc tổ chức dạy học lớp ghép như vậy cũng là dựa trên nền tảng
của tổ chức dạy học theo nhóm cùng trình độ.
Những năm cuối của thế kỷ XX, học tập nhóm ở Việt Nam luôn diễn ra dưới
nhiều hình thức khác nhau: như nhóm tự quản, nhóm học tập, ở một số môn học
như: thể dục, thủ công, âm nhạc, ngoại khoá, sinh hoạt câu lạc bộ vv. Gần đây,
với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động
của người học, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đưa ra bốn đặc trưng cơ bản:
4
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động độc lập của học sinh.
- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể kết hợp học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò.
Trong số các nhà giáo dục đã nghiên cứu vấn đề học tập nhóm có bài viết:
“Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “Phương pháp cùng tham gia” của tác
giả Trần Bá Hoành đã đề cập tới việc tổ chức học tập hợp tác theo nhóm với ý
nghĩa là một trong những phương pháp dạy học tích cực.Theo tác giả thì “học
sinh cần học bằng cách làm chứ không chỉ bằng cách nghe giáo viên giảng.
Dạy học theo nhóm tạo nên môi trường hợp tác trò- trò; thầy trò giúp đỡ lẫn
nhau, trong đó học sinh là trung tâm, giáo viên không còn độc chiếm diễn đàn”.
Trong quá trình dạy học, để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh thì
hoạt động tổ, nhóm là một hình thức hoạt động học tập tốt. Thông qua hình
thức học tập này các em có điều kiện trình bày, trao đổi và bộc lộ những suy
nghĩ của mình về các lượng thông tin về bài học mà mình hiểu, mình cảm nhận
như: thể dục, thủ công, âm nhạc, ngoại khoá, sinh hoạt câu lạc bộ vv. Gần đây,
với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động
của người học, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đưa ra bốn đặc trưng cơ bản:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động độc lập của học sinh.
- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể kết hợp học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò.
Trong số các nhà giáo dục đã nghiên cứu vấn đề học tập nhóm có bài viết:
“Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “Phương pháp cùng tham gia” của tác
giả Trần Bá Hoành đã đề cập tới việc tổ chức học tập hợp tác theo nhóm với ý
nghĩa là một trong những phương pháp dạy học tích cực.Theo tác giả thì “học
sinh cần học bằng cách làm chứ không chỉ bằng cách nghe giáo viên giảng.
Dạy học theo nhóm tạo nên môi trường hợp tác trò- trò; thầy trò giúp đỡ lẫn
nhau, trong đó học sinh là trung tâm, giáo viên không còn độc chiếm diễn đàn”.
Trong quá trình dạy học, để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh thì
hoạt động tổ, nhóm là một hình thức hoạt động học tập tốt. Thông qua hình
thức học tập này các em có điều kiện trình bày, trao đổi và bộc lộ những suy
nghĩ của mình về các lượng thông tin về bài học mà mình hiểu, mình cảm nhận
và từ đó trả lại lượng thông tin mà cá nhân xử lý.Lượng thông tin của từng học
sinh có thể đúng hoặc có thể sai một phần. Thông qua cặp , nhóm các em trả lại
thông tin cho người dạy. Từ đó người dạy nắm bắt được mức độ tư duy, hiểu
biết của các em. Quá trình này được diễn ra theo quan hệ hai chiều. Xét về lý
luận dạy học thì đây là mối quan hệ biện chứng. Ngoài ra được trao đổi cặp ,
nhóm học sinh được rèn luyện thêm về kỷ năng và thói quen suy nghĩ, diễn đạt
và trình bày một vấn đề trước một tập thể. Thông qua hoạt động này, các kỷ
năng nghe,nói, đọc, viết của học sinh ngày càng được nâng cao.
6
Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ
không đơn giản là chỉ áp dụng một cách máy móc phương pháp này vào quá
trình dạy học. Nó tuỳ thuộc vào môn học, điều kiện học tập, đối tượng học sinh,
tôi nhận thấy học sinh học rất trầm, trong một lớp chỉ có vài học sinh hoạt động
7
tích cực còn lại thì ngồi im, làm cho không khí lớp học rất căng thẳng. Qua thực
tế giảng dạy, tôi phát hiện thấy trình độ các em khá chênh lệch, trong những tiết
học đầu tiên, chỉ những em khá trở lên hay phát biểu xây dựng bài còn lại thì
không tham gia các hoạt động, một số học sinh không chịu chép bài, đôi lúc các
em chán học đến nổi ngủ trong giờ học. Tuy nhiên đa số các em thường rất hứng
thú với các trò chơi, hoặc khi được hoạt động cặp nhóm các em được bày tỏ ý
kiến của mình mà không sợ mình mắc lỗi, các em được tự do suy nghĩ và tranh
luận rút ra được nhiều bài học bổ ích
Để hoạt động theo cặp, nhóm của học sinh có hiệu quả trong công việc dạy-
học ngoại ngữ nói chung và dạy học Tiếng Anh nói riêng cần phải hiểu thế nào
là hoạt động theo nhóm, cặp; cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc gỡ và yờu
cầu giỏo viờn, học sinh phải làm gỡ? Vấn đề này được đề cập cụ thể ở phần tiếp
theo.
Có lẽ không ai trong chúng ta phủ nhận tầm quan trọng của Tiếng Anh đối với
Việt Nam trong việc hội nhập kinh tế, chính trị và văn hoá thế giới, nhất là khi
quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra với tốc độ chóng mặt. Biết tiếng Anh, giỏi
tiếng Anh giúp ta tự tin hơn trong giao tiếp. Thực tế trong quá trình giảng dạy,
tôi nhận thấy học sinh học rất trầm, trong một lớp chỉ có vài học sinh hoạt động
tích cực còn lại thì ngồi im, làm cho không khí lớp học rất căng thẳng. Qua thực
tế giảng dạy, tôi phát hiện thấy trình độ các em khá chênh lệch, trong những tiết
học đầu tiên, chỉ những em khá trở lên hay phát biểu xây dựng bài còn lại thì
không tham gia các hoạt động, một số học sinh không chịu chép bài, đôi lúc các
em chán học đến nổi ngủ trong giờ học. Tuy nhiên đa số các em thường rất hứng
thú với các trò chơi, hoặc khi được hoạt động cặp nhóm các em được bày tỏ ý
kiến của mình mà không sợ mình mắc lỗi, các em được tự do suy nghĩ và tranh
luận rút ra được nhiều bài học bổ ích
Để hoạt động theo cặp, nhóm của học sinh có hiệu quả trong công việc dạy-
học ngoại ngữ nói chung và dạy học Tiếng Anh nói riêng cần phải hiểu thế nào
công việc học sinh vừa thực hiện theo cặp
f/ Tất cả học sinh đều phải tham gia vào hoạt động này trong một cặp nào đó.
Khi bị lẻ học sinh thì yêu cầu học sinh đó tham gia vào cặp ngồi gần mình nhất
2/ Các bước tiến hành luyện tập theo cặp.
Bước một: Chuẩn bị
Cần chuẩn bị hết sức cẩn thận thông qua việc giới thiệu và thực hành ngữ liệu,
làm cho tất cả học sinh đều tự tin khi sử dụng ngoại ngữ. Sau bước giới thiệu và
thực hành ngữ liệu nên để lại các thông tin trên bảng.
Bước hai: Giáo viên làm mẫu với một học sinh
Giáo viên cùng một học sinh khá trong lớp đóng vai làm mẫu trọn gói một bài
tập để cho học sinh hiểu được yêu cầu và biết cách thức luyện tập
9
Bước ba: Hai học sinh làm mẫu
Gọi hai học sinh khá giỏi lên làm mẫu trước lớp một lần, to, rõ ràng cho cả lớp
nghe
Bước bốn: Quy định thời gian
Báo cho học sinh biết họ sẽ có bao nhiêu thời gian để thực hiện bài tập này
Bước năm: Học sinh làm bài theo cặp
Ra hiệu lệnh cho tất cả học sinh làm bài cùng một lúc. Giáo viên theo dõi và
giúp đỡ họ khi cần thiết
Bước sáu: Kiểm tra trước lớp
Hết giờ làm bài, yêu cầu học sinh dừng lại. Chọn vài cặp bất kì và yêu cầu học
sinh trình bày lại trước lớp.
3. Thời điểm nên cho HS làm theo cặp:
• Luyện mẫu câu sau phần giới thiệu ngữ liệu mới và một vài phút luyện tập
cho cả lớp
• Luyện các bài tập ngữ pháp theo mẫu câu.
• Luyện các bài hội thoại ngắn, đóng vai lại bài hội thoại mẫu với gợi ý cho sẵn
( practice short dialogues, make up similar ones using the prompts)
• Các bài tập luyện tập giao tiếp, xây dựng hội thoại ( dialogue building)
Nội dung chủ điểm xoanh quanh các vấn đề gần gũi với các chủ điểm đã học và
đời sống của học sinh từ đơn giản đến phức tạp như , tuỳ theo trình độ như : sở
thích, thói quen, các hoạt động giải trí, các phương tiện thông tin đại chúng,
phương tiện đi lại
• Đóng vai : Học sinh đóng vai của chính mình hoặc đóng vai của của một
người khác trong một tình huống cụ thể . Mục đích tạo cho học sinh những tình
huống như thật trong môi trường lớp học, giúp học sinh làm quen sử dụng ngôn
ngữ . Đóng vai luôn thực hiện theo cặp, nhóm. Sau đó đưa ra lớp có nhận xét
góp ý của giáo viên. Sau đay là một số ví dụ về các hình thức hoạt động đóng
vai :
Mẫu hội thoại và gợi ý cho sẵn : GV cung cấp bài hội thoại sẵn cho học
sinh để trống hoặc gạch chân một số từ , yêu cầu học sinh nhìn vào các từ gợi ý
và thực hành lắp ghép vào bài hội thoại.
Khung hội thoại cho sẵn :
VD : It’s a hot day. Plan the day with your friend, follow the frame below.
You Your friend
11
• Đóng vai theo tình huống cho sẵn:
GV đưa ra một số tình huống để học sinh xử trí:
VD: You are walking down the street. You meet a friend. You ask how the
person is and suggest having a cup of coffee.
VD2 : Your friend has just seen a good film. You want to ask her about this
film. What would you say?
GV có thể soạn sẵn các mẫu lời nói có thể sử dụng trong từng tình huống - mẫu
cấu trúc - từ vựng tuỳ theo trình độ cụ thể của từng đối tượng học sinh. Hoặc
đặt câu hỏi gợi ý cho học sinh đóng góp ý kiến riêng của mình, viết lên bảng
các khả năng ứng xử- cách phát ngôn và khă năng phản ứng
• Các hoạt động có khoảng trống thông tin :
Là những hoạt động luyện tập mà GV tạo ra những thiếu hụt hay “khoảng
trống” về thông tin bằng cách cung cấp cho học sinh những thông tin không đầy
People friendly, open
Founded? 1624
Area ? 1610 square km
Transport? convenient
HS B :
Country
Information
The USA England
Capital ? London
Population? 7 million
People formal, reserved
Founded? 43 AD
Area ? 946 square km
Transport? Convenient
b. Bài luyện thay thế.
Sau khi giới thiêu các mẫu câu và cho luyện tập thể thật nhanh, giáo viên viết
các từ để thay thế lên bảng rồi yêu cầu HS luyện tập theo cặp. Nên để nhiều chỗ
trống ở phần gợi ý để HS phát huy khả năng sáng tạo của mình
c. Thực hành ngữ pháp.
Sau khi häc sinh nắm được vấn đề ngữ pháp và đã được luyện tập tập thể .Bằng
các bài tập nhắc lại hay chuyển đổi, chia học sinh từng cặp và yêu cầu các em
trao đổi với nhau về chính bản thân mình hoặc có liên quan đến cuộc sống.
d.Tìm dầu đề cho bài đọc.
Trước khi cả lớp học một bài đọc, yêu cầu từng cặp học sinh đọc lướt qua, sau
đó đặt cho bài đọc một đầu đề. Tuỳ độ dài của bài mà ấn định thời gian, không
được quá nhiều vì đây thực chất là loại hình bài tập luyện kỹ năng đọc lướt lấy ý
chính. Hơn thế nữa, hoạt động này rất hay vì nó cho học sinh một cơ hội đọc có
13
mục đích thực tế, đọc để lấy thông tin thực sự. Kết quả đọc có thể được kiểm tra
miệng với từng học sinh hoặc cả lớp.
He / carry / a lady / DongXuan market
14
+ Sau đó HS thảo luận và sắp xếp lại các câu theo đúng trât tự phù hợp với tiến
trình câu chuyện trong tranh.
+ Đại diện lên viết và sắp xếp đúng thứ tự
+ GV và HS cùng thảo luận và sửa bài, thống nhất câu trả lời trước khi nghe
chính thức
III/ THẾ NÀO LÀ HOẠT ĐỘNG THEO NHÓM:
Hoạt động nhóm là : Học sinh làm việc theo những nhóm nhỏ ( 4 hoặc 5 )
cần có sự hợp tác trao đổi thông tin lẫn nhau.Tất cả các nhóm làm việc cùng một
thời điểm. Giáo viên đi quanh lắng nghe chỉ can thiệp nếu thật cần thiết.
IV. TỔ CHỨC LUYỆN TẬP THEO NHÓM.
Do đặc điểm lớp học ở Việt Nam không thể di chuyển quanh lớp học được vì
vậy chỉ có thể yêu cầu HS bàn trên quay xuống bàn dưới tạo thành các nhóm từ 4
đến 6 người, sau khi chia xong nên chỉ định hoặc để thành viên các nhóm tự bầu
ra nhóm trưởng hoặc thư kí nhóm. Học sinh này sẽ trực tiếp liên hệ với giáo viên
khi nhóm gặp khó khăn trong việc thực hiện các yêu cầu của bài tập, điều này sẽ
giúp cho việc kiểm soát tất cả các nhóm nhẹ nhàng, dễ làm hơn. Nên chỉ định
hoặc hướng dẫn học sinh có khiếu khẩu ngữ linh hoạt hơn để làm việc này hoặc
15
cũng có thể để cho các thành viên trong nhóm lần lượt làm nhóm trưởng, công
việc nay cần phải làm nhanh gọn, dứt khoát và HS phải được thông báo ngay ai
là nhóm trưởng của họ để không bị lãng phí thời gian. Việc chia nhóm có thể
thực hiện bằng tiếng mẹ đẻ. Nếu dùng tiếng Anh thì trước đó phải cho HS làm
quen, hiểu rõ được các mệnh lệnh
1/ Vai trò của giáo viên.
Giáo viên là người quản lí mọi hoạt động của lớp học. Do vậy, phải đặt kế
hoạch cho nó, tổ chức, bắt đầu, theo dõi và cách dùng thời gian, kết thúc nó.
Giáo viên có thể đi từ nhóm nọ sang nhóm kia, kiểm tra HS xem có thực hiện
đúng yêu cầu bài tập không. Giáo viên cần tích cực và nhạy cảm với bầu không
Tên của các nhân vật này sẽ được ghi ra các mẩu giấy giáo viên và ban'' tổ
chức''sẽ bí mật dán những mẩu giấy đó vào lưng của các bạn tham gia , sau đó
mọi người sẽ đi lại xem nhân vật mình được dán tên là gì ' ví dụ
- Am I a man ?
- Am I still alive today ?
- Am I a pop star ?
- Do I live here in Viet Nam ?
- Was I a King ?
- Am I a character in a story?.vv
Sau khi mỗi người đã đoán tên của mình ở lưng được một thời gian sẽ được phép
quay giấy dán tên của mình về đằng trước ngực áo
b/ Đặt câu hỏi.
Yêu cầu các nhóm đọc bài khoá,sau đó đặt câu hỏi về bài đó. Sau vài phút các
nhóm gấp sách lại, lần lượt trưởng nhóm hoặc thư ký đứng lên đặt một vài câu
hỏi, các thành viên nhóm khác có nhiệm vụ trả lời. Để HS có hứng thú hơn, nên
tổ chức nó như một cuộc thi, các câu trả lời được chấm điểm dựa vào độ chính
xác về ngôn ngữ cũng như thông tin.
c/ Tiên đoán.
Trước khi đọc một bài khoá yêu cầu các nhóm đoán trước về nội dung của
bài hoặc nghĩa từ vựng có thể gặp trong bài
VD1: Trước khi HS đọc một bài về nạn ô nhiễm, có thể đoán trước được rằng
bài đó sẽ nói đến các vấn đề được liên quan đến biển, rừng, các tài nguyên, khói
xe…
d/ Trả lời các câu hỏi suy đoán.
Sau mỗi bài đọc, GV có thể đưa ra một số câu hỏi để HS suy đoán về những
tình tiết xảy ra trong bài. Câu trả lời chỉ dựa trên suy luận của HS chứ không có
trong bài. HS trong nhóm thảo luận và đi tới một câu trả lời chung cho cả nhóm.
VD : What is this passage cut from ?
What is the the next paragraph of this passage ?
17
- Khi công việc kết thúc GV yêu cầu đại diện của nhóm lên bảng viết bài luận
của minh
h.Đặt câu có nghĩa
Chia học sinh thành từng nhóm, lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào tổng số học sinh
trong lớp. GV cung cấp từ để tạo thành câu không theo trật tự và giải thích câu
18
cho học sinh ( từ vựng, nghĩa của câu ). Yêu cầu HS viết lại thành câu đúng, đại
diện đọc to câu đó lên rồi viết lên bảng
i/ Viết câu nối tiếp:
Đây là một hoạt đông rất vui vẻ tạo một câu chuyện theo nhóm. Mỗi học sinh
cần một tờ giáy và một cái bút, nếu có thể ngồi theo vòng tròn để chơi . Mỗi học
sinh viết một đoạn ngắn của câu chuyện ( 2-3câu ) rồi gập lại che đoạn thông tin
đó đi rôi chuyển giấy cho HS bên phải.
VD :
Mục đích yêu cầu : Viết 1 câu chuyện theo chỉ dẫn của GV
Thời gian : 20’
Chuẩn bị : Giấy, bút
Tiến trình :
+ GV chia HS thành nhóm 6 hoặc 7
+ GV đọc to nhằm cung cấp HS lời chỉ dẫn sau đây :
- Write the name of a man. It can be a famous man or a man everyone in
the class knows ( Cho phép họ đặt tên cho nhân vật)
- Write the name of a woman. It can be a famous womanor a woman
everyone in class knows (Cho phép họ đặt tên cho nhân vật)
- Write the name of the place where two people meet.
- When they meet, he says something to her.What does he say? ( HS viết
những gì anh ta nói )
- She replies to the man .What does she say?
- What’s the consequence of this meeting? What happens?
- What’s the opinion of the whole story? What do you say as a comment?
giúp đỡ hỗ trợ kịp thời khi cần thiết. Giáo viên ghi lại những lỗi sai điển hình để
chỉ ra cho học sinh và giúp học sinh sửa sau đó.
• Giáo viên cần quy định thời gian cụ thể cho từng hoạt động.
• Giáo viên nên linh động phân cặp, nhóm hợp lý có thể chọn học sinh làm việc
với nhau tuỳ theo từng ý đồ và tính chất của từng bài tập, mẫu câu. Việc phân
nhóm này nên quy định cho học sinh theo thói quen.
• Sau khi học sinh thực hành bài tập theo cặp, nhóm cần có sự kiểm tra, nhận
xét, góp ý kiến kịp thời từ bạn mình ở nhóm khác. Chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu
đúng.
• Khuyến khích học sinh mạnh dạn làm việc theo cặp, nhóm.
2. Học sinh - Người thực hiện hoạt động để chủ động lĩnh hội kiến thức
qua hình thức hoạt động này cần phải xây dựng thói quen tuân theo một số
những quy định cần thiết.
20
• Cần phải nghe những yêu cầu của bài tập: Yêu cầu này thể hiện trong sách
giáo khoa là một phần mà phần lớn là hướng dẫn và yêu cầu của giáo viên, người
điều khiển hoạt động. Có thể yêu cầu về hoạt động, thời gian hoạt động, nhiệm
vụ của từng nhóm, cá nhân trong nhóm.
• Cần làm việc tự giác không gây quá ồn ào.
• Cần phải bắt đầu và ngừng ngay hoạt động khi giáo viên yêu cầu.
• Không cố hoàn thành phần đang làm dở.
3. Cách thức tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm.
Hoạt động theo cặp (pair work).
• Cặp giữa thầy và một trò (teacher and a student).
Giáo viên có thể gọi những học sinh khá thực hành với mình làm mẫu. Sau đó
gọi học sinh yếu hơn làm lại. Những học sinh yếu giáo viên có thể đưa ra những
câu hỏi dễ, để kích thích và lôi cuốn toàn bộ học sinh vào hoạt động ai cũng phải
suy nghĩ và trả lời.
• Cặp mở (open pair) giữa hai học sinh không ngồi gần kề nhau.
o Có thể gọi hai học sinh đóng vai nhân vật trong bài hội thoại (1 học sinh bên
thể kiểm soát tất cả lời nói được sử dụng. Để hạn chế những lỗi này giáo viên
cần:
+ Có sự chuẩn bị chu đáo, sử dụng đồ dùng thiết bị ( picture cues, word cues,
posters…) Nên tận dụng tối đa đồ dùng ở từng cặp, nhóm. Để thêm sinh động,
dễ nhập vai có thể yêu cầu học sinh chuẩn bị tranh, đồ dùng đơn giản, gần gũi
cho từng tiết thực hành
+ Kiểm tra một vài cặp/ nhóm và chữa lỗi nếu cần thiết. Giáo viên hiểu rằng các
em là đối tượng trung tâm, cho các em thực hành theo cặp, nhóm để các em giao
tiếp với nhau giúp các em thực hành dễ dàng và sửa lỗi cho nhau kịp thời.
• Giáo viên quản lớp khó hơn thông thường. Giáo viên cần:
+ Đưa lời chỉ dẫn rõ ràng: when to start, what to do, and when to stop.
+ Nêu nhiệm vụ trọng tâm rõ ràng.
+ Lên một lộ trình làm việc để học sinh biết cách làm việc theo nhóm/ cặp và
họ biết chính xác họ phải làm gì.
22
• Một số nhóm/ cặp có học sinh yếu, không tự giác có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ
hoặc làm việc riêng. Giáo viên cần kiểm soát, giúp đỡ, khích lệ họ làm nhiệm
vụ. Năng động sáng tạo trong việc phân nhóm học sinh thành nhóm cặp dảm
bảo trong một nhóm học sinh có cả học sinh yếu, có học sinh trung bình, có học
sinh khá và giỏi.
23
CHƯƠNG 4 . BÀI HỌC SƯ PHẠM.
Việc tổ chức luyện tập ngoại ngữ theo cặp, nhóm còn giúp cho HS mạnh
dạn hơn trong việc sử dụng ngoại ngữ. HS yếu kém thường lo sợ sẽ mắc lỗi
trước mặt thầy cô nhưng nếu chỉ có các bạn cùng lớp thì sự e dè đó sẽ ít hơn
nhiều, HS sẽ vượt qua được những nhược điểm về tính cách của bản thân để học
tốt hơn. Ngoài ra HS cũng có cơ hội để giúp đỡ học hỏi lẫn nhau nhiều hơn. Các
kết quả thu được từ việc quan sát, lắng nghe và chấm các bài viết sẽ hết sức quý
giá vì giúp HS hiểu sâu hơn về quá trình học tập của mình, GV sẽ nắm được các
điểm yếu, điểm mạnh của HS, những vấn đề cần bổ sung cho các bài sau, những
10A1 38 7 18,
4
15 39,4 15 39,4 1 0,26
Cuối học kỳ I
Lớp TSHS
Giỏi Khá T.Bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
12A4 41 15 36,
5
21 51,2 5 12,1
12A5 38 2 5,2 17 44,7 13 34,2 6 15,7
10A1 38 12 31,
5
18 47,3 8 21,0
25