Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
MỤC LỤC
1.1 Tín d ng ngân h ng i v i DNNVVụ à đố ớ 5
1.1.1 Khái ni m v c i m DNNVVệ àđặ để 5
1.1.1.1 Khái ni m DNNVVệ 5
1.1.1.2 c i m c a DNNVVĐặ để ủ 7
M t l , DNNVV có v n u t ban u ít, thu h i v n nhanh v hi u ộ à ố đầ ư đầ ồ ố à ệ
qu : S v n ng ký ban u c a DNNVV không quá 10 t ng v chu ả ố ố đă đầ ủ ỷđồ à
k SXKD c a doanh nghi p ng n nên kh n ng thu h i v n nhanh, t ng ỳ ủ ệ ắ ả ă ồ ố ă
t c quay vòng u t v o công ngh m i, tiên ti n, hi n i t o ố độ đểđầ ư à ệ ớ ế ệ đạ ạ
i u ki n cho doanh nghi p kinh doanh hi u qu .đề ệ ệ ệ ả 7
1.1.2 Tín d ng ngân h ng i v i DNNVVụ à đố ớ 8
1.1.2.1 Khái ni mệ 8
1.1.2.2 c i m c a tín d ng ngân h ng i v i DNNVVĐặ để ủ ụ à đố ớ 9
1.1.2.3 Vai trò c a tín d ng ngân h ng i v i các DNNVVủ ụ à đố ớ 10
2.1.1.Gi i thi u chung v ngân h ng nông nghi p v phát tri n nông ớ ệ ề à ệ à ể
thôn huy n L c Ng n.ệ ụ ạ 39
Đồng Minh Tú TC15A
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
BCTC Báo cáo tài chính
CBTD Cán bộ tín dụng
CBTĐ Cán bộ thẩm định
DN Doanh nghiệp
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng thương mại
HTQHKH Hỗ trợ quan hệ khách hàng
QHKH Quan hệ khách hàng
TCTD Tổ chức tín dụng
ngừng tăng. Năm 2013 cũng hứa hẹn một năm khó khăn cho nền kinh tế.
Trước tình hình đó NHNN đang có các chính sách thiết thực nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp, đặt biệt các DNNVV. Điển hình là việc giảm lãi xuất thời gian
vừa qua. Khi mà doanh nghiệp hoạt động được một phần nhờ vốn vay, trong
Đồng Minh Tú TC15A
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
đó vay ngân hàng chiếm tỷ trọng không nhỏ. Vì vậy làm thế nào để ngân hàng
vừa đảm bảo lợi nhuận vừa hạn chế rủi ro trong tình hình hiện nay là một điều
không dễ.
Mặt khác, bản thân các ngân hàng thương mại trong nước cũng như
nước ngoài đang có sự cạnh tranh quyết liệt với nhau nên càng gây ra
nhiều khó khăn, buộc hệ thống ngân hàng phải nới lỏng các yêu cầu khi
cho vay cũng như cắt giảm lãi xuất gây nhiều nguy cơ rủi ro trong hoạt
động tín dụng. Bên cạnh đó sự cạnh tranh ảnh hưởng đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp cũng gián tiếp ảnh hưởng đến ngân hàng. Các
doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận có thể sử dụng vốn vay ngân hàng
không đúng mục đích hoặc đầu tư không hiệu quả, lợi nhuận không đủ bù
đắp chi phí…dẫn đến không trả được nợ ngân hàng khi đến hạn, tất cả
những điều đó gián tiếp gây ra rủi ro tín dụng. Vì vậy việc hạn chế rủi ro
tín dụng là thực sự có ý nghĩa và luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu
đối với ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.
Trong thời gian thực tập tại NHNo&PTNT huyện Lục Ngạn, em nhận
thấy cũng như đại bộ phận các ngân hàng, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng là
chủ yếu và đặc biệt từ cho vay DNNVV. Khi mở rộng hoạt động cho vay, rủi
ro tín dụng là không thể tránh khỏi. Từ những luận điểm trên em thực hiện đề
tài “Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT huyện Lục Ngạn” không chỉ
có ý nghĩa lý luận mà còn có tính cấp thiết về thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu.
Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín
1.1.1.1 Khái niệm DNNVV
Đồng Minh Tú TC15A
5
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
Muốn hiểu DNNVV là gì trước hết ta cần tìm hiểu thế nào là doanh
nghiệp. Theo luật Doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp là một TCKT có
tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh.
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa,
nhưng nhìn chung doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có số
vốn, lao động hay doanh thu ở một mức giới hạn nào đó.
Cho đến nay, vẫn chưa có một tiêu chuẩn chung quốc tế để phân loại
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo tiêu chuẩn của ngân hàng thế giới World
Bank, các doanh nghiệp được chia theo quy mô như sau:
Doanh nghiệp siêu nhỏ (Micro enterprise): Có đến 10 lao động, tổng
giá trị tài sản trị giá không quá 100.000 USD và doanh thu hàng năm không
quá 100.000 USD.
Doanh nghiệp nhỏ (Small enterprise): Có không quá 50 lao động,
tổng giá trị tài sản không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm
không quá 3 triệu USD.
Doanh nghiệp vừa (Medium enterprise): Có không quá 300 lao
động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm
không quá 15 triệu USD.
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là doanh nghiệp nhỏ
và vừa là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia và nó thay
đổi theo từng giai đoạn và thời kì phát triển kinh tế.
Ở Việt Nam, hiện nay, theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp doanh nghiệp nhỏ
và vừa phát triển, định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa: doanh nghiệp nhỏ
20 tỷ đến
100 tỷ
đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
2.Công
nghiệp và xây
dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ
đống trở
xuống
Trên 10
người đến
200 người
Từ
trên 20 tỷ
đến 100 tỷ
đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
3.Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ
mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít, quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh. Mặt khác
do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên chỉ cần không thích ứng
được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này thì nó sẽ
chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường.
Bốn là, năng lực kinh doanh còn hạn chế: Do quy mô vốn nhỏ nên các
DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy
móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại. Việc sử dụng các công
nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị
trường kém. DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm
nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công
tác marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của Doanh
nghiệp vừa và nhỏ khó tiêu thụ trên thị trường.
Năm là, năng lực quản lý còn thấp: Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ
nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng như của người lao
động còn hạn chế. Số lượng DNNVV có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi,
trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn
chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài
bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế-xã hội và kỹ năng
quản trị kinh doanh.
1.1.2 Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
1.1.2.1 Khái niệm
Theo K.Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
người sở hữu này sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về
Đồng Minh Tú TC15A
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Như vậy tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi
vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình
thức tiền tệ hoặc hàng hóa.
DN lớn vì số lượng giao dịch ít. Chính vì thế, trong NH một CBTD có thể
quản lý nhiều khoản vay, giao dịch của nhiều DNNVV.
Về rủi ro tín dụng
Hoạt động kinh doanh của NH là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặt biệt
là trong hoạt động tín dụng. Các khoản vay của DNNVV thường là các khoản
vay nhỏ, thời gian ngắn hạn và đi kèm với tài sản bảo đảm, nên khi gặp rủi ro
với DNNVV, NH sẽ phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ. Do đó, rủi ro xảy
ra trong cho vay DNNVV thường nhỏ, chỉ ảnh hưởng đến thu nhập NH mà
không mang tính hệ thống.
Về khả năng sinh lời
NH có thể thu được nguồn lợi lớn từ việc cho vay đối với DNNVV.
Đây chính là thị trường tốt để các NH hoạt động. Nếu tính trên tổng các
khoản vay DNNVV, ngoài nguồn lãi, các NH còn thu thêm được nhiều
khoản chi phí khác đi kèm nhờ cung cấp các dịch vụ: Bảo lãnh, thanh toán,
chuyển tiền, L/C
1.1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các DNNVV
Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ sự ra đời và phát triển
của các DNNVV
Nguồn vốn có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của DN trước nhà
nước và pháp luật. Với hoạt động đi vay đối tượng kinh tế thừa vốn nhàn rỗi
để sau đó lại cho vay những đối tượng kinh tế khác thiếu vốn kinh doanh, NH
đã tạo cơ hội cho các chủ DN muốn thành lập công ty hoặc mở rộng sản xuất
kinh doanh với lượng vốn vay hợp lý. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn
bẩy để DN tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các DNNVV do hạn chế
Đồng Minh Tú TC15A
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì với lượng vốn
hạn hẹp tự huy động thì việc sử dụng sẽ làm tăng giá vốn, sản phẩm khó được
thị trường chấp nhận. Để đạt hiệu quả nhất định thì DN cũng cần phải có một
dụng của NH nhờ đó đã tạo điều kiện cho các DN đầu tư xây dựng cơ bản,
mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh; góp phần thúc
đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh liên tục.
Mặt khác, tín dụng Ngân hàng cũng tác động mạnh mẽ vào quá trình tiêu
thụ sản phẩm cho các DN thông qua việc mở rộng tín dụng tiêu dùng, cho vay
hoặc bảo lãnh để các tổ chức kinh tế, cá nhân hoạt động trong mọi lĩnh vực
lưu thông mua bán hàng hóa. Như vậy, tín dụng Ngân hàng đã góp phần
không nhỏ vào quá trình sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm cho các DNNVV,
một tiền đề giúp gia tăng sức mạnh nội tại của các DN này trên trường cạnh
trạnh nội địa cũng như quốc tế.
Tín dụng Ngân hàng góp phần gia tăng nguồn vốn, nâng cao khả
năng cạnh tranh của các DNNVV
Xu hướng hiện nay của loại hình DNNVV là tăng cường liên doanh, liên
kết, tập trung vốn đầu tư để mở rộng sản xuất, trang bị kỹ năng hiện đại để
tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có được một lượng vốn hóa đủ lớn để đầu
tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích lũy thấp thì
phải mất nhiều năm cố gắng các doanh nghiệp này mới hy vọng đạt được, và
có thể trong trường hợp xấu, cho tới lúc lượng vốn đã tăng lên đủ thì cơ hội
kinh doanh lại không còn nữa. Như vậy, để có đủ lượng vốn cần thiết và thật
kịp thời, các DNNVV buộc phải tìm đến với tín dụng Ngân hàng như một
kênh cung vốn hợp lý nhất. Khi yêu cầu về vốn của DN được đáp ứng, sức
mạnh tài chính của DN đã gia tăng đáng kể thì mục đích chiếm lĩnh thị
trường, tạo lợi thế cạnh tranh sẽ không còn là bài toán khó giải của các
DNNVV nữa.
1.2 Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm:
Đồng Minh Tú TC15A
12
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
Mọi hoạt động kinh doanh đều có thể gặp rủi ro, rủi ro và kinh doanh là
hàng: Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, hoạt động tín dụng luôn đi liền
với rủi ro. Khi một khoản tín dụng được thiết lập thì đồng thời với nó là một
mức rủi ro tiềm ẩn. Vì không có sự cân xứng thông tin giữa ngân hàng và
khách hàng: Ngân hàng thì muốn tìm hiểu toàn bộ thông tin về khách hàng
một cách chính xác, còn khách hàng luôn muốn làm đẹp các thông tin trước
khi cung cấp cho ngân hàng. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh của khách
hàng còn bị tác động bởi nhiều yếu tố khách quan như kinh tế - xã hội, pháp
luật và các yếu tố chủ quan như năng lực quản lý của các nhà lãnh đạo Vì
vậy khoản tín dụng đó luôn tiềm ẩn rủi ro.
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Là loại rủi ro tín dụng có nguyên nhân từ hạn chế trong quá trình giao
dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm các
bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro phát sinh từ việc ngân hàng lựa chọn
những phương án vay vốn không có hiệu quả để ra quyết định cấp tín dụng.
Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo (tài sản đảm
bảo, chủ thế đảm bảo, hình thức đảm bảo….).
Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay của ngân hàng.
Rủi ro danh mục
Là loại rủi ro tín dụng phát sinh từ hạn chế trong quản lý danh mục cho
vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm hai bộ phận chính: rủi ro nội tại
và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại: xuất phát từ đặc điểm hoạt động và đặc điểm sử dụng vốn
của khách hàng vay vốn.
Đồng Minh Tú TC15A
14
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
Rủi ro tập trung: xuất phát từ việc ngân hàng tập trung vốn vay quá
sản, lứa tuổi, nghề nghiệp và địa điểm.
- Đối với cho vay doanh nghiệp, có thể lựa chọn các chỉ tiêu:tỷ lệ
Nợ/Vốn tự có,tỷ lệ lợi nhuận/Tổng tài sản,Lợi nhuận/Vốn tự có,Doanh
thu/Tổng tài sản.
Sau khi các dữ liệu đã được xác định,kỹ thuật thống kê sẽ được sử dụng
để tính toán sác xuất rủi ro tín dụng hoặc để phân loại rủi ro tín dụng.
1.2.5 Các tiêu chí để đánh giá rủi ro tín dụng
Các mô hình điểm số, mô hình xác định giá trị rủi ro tới hạn trên đây
nhằm đo lường rủi ro tín dụng của từng khoản cho vay, hoặc của một danh
mục cho vay của ngân hàng, nhưng các mô hình đó chỉ là dự đoán khả năng
rủi ro trước khi ra quyết định cho vay, chính vì vậy trên thực tế có thể có
những sai lệch. Vì vậy ngân hàng còn sử dụng một số chi tiết để đánh giá việc
hạn chế rủi ro tín dụng dựa trên các số liệu lịch sử. Từ đó đưa ra được kết quả
của công tác hạn chế rủi ro tín dụng qua từng thời kì đã đạt được kết quả như
thế nào.
Tình hình dư nợ quá hạn
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x100%
Tổng dư nợ cho vay
Trong đó, nợ quá hạn được định nghĩa là khoản nợ mà một phần hoặc
toàn bộ nợ gốc và(hoặc) lãi quá hạn. Một cách tiếp cận khác, NQH là những
khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép hoặc không đủ
điều kiện để gia hạn nợ.
Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Đồng Minh Tú TC15A
16
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
(chiếm tỷ trọng chủ yếu): Là khoản cho vay có mức độ rủi ro chấp nhận được
và có thể mang lại thu nhập ở mức trung bình.
Tỷ lệ mất vốn
Dư nợ có khả năng mất vốn
Tỷ lệ mất vốn = x 100%
Tổng dư nợ
Theo Quyết định 493/QĐ-NHNN: Nợ có khả năng mất vốn chính là các
khoản nợ thuộc nhóm 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7.
Tỷ lệ này càng cao thì thiệt hại cho ngân hàng càng lớn vì nó phản ánh
những khoản tín dụng mà ngân hàng có khả năng bị mất vốn và phải dùng
quỹ dự phòng để bù đắp.
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Theo Quyết định 493/QĐ-NHNN: Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng
chung và dự phòng cụ thể.
Số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức:
R = max { 0,(A-C)} x r
Trong đó:
R: Là số tiền dự phòng cụ thể phải trích. C: Là giá trị của tài sản
đảm bảo.
A: Là giá trị của khoản nợ. r: Là tỷ lệ trích lập dự
phòng cụ thể
Tỷ lệ trích lập dự phòng chung: Tổ chức tín dụng thực hiện trích lập và
duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1
đến nhóm 4 quy định tại Điều 6 và Điều 7 quy định này.
Hai tỷ lệ này càng cao thì chứng tỏ rủi ro tín dụng càng cao vì dự phòng
trích lập nhiều sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận,
thậm chí là gây thua lỗ cho ngân hàng.
Mức độ tập trung tín dụng
Mức độ tập trung tín dụng là tỷ trọng đầu tư vốn tín dụng phân theo đối
hoạt động, có mặt trong hầu hết tất cả các nghành nghề các lĩnh vực và có tầm
Đồng Minh Tú TC15A
19
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
quan trọng trong nền kinh tế, các vấn đề của nền kinh tế như tính chu kỳ của
nền kinh tế, vấn đề lạm phát thất nghiệp tác động trực tiếp đến các hoạt động
của các doanh nghiệp, đó có thể là nguyên nhân sâu xa của rủi ro đọng vốn và
rủi ro mất vốn.
Môi trường văn hóa xã hội thay đổi, xu thế của thị trường cũng thay đổi.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong hầu hết các nghành nghề các lĩnh
vực, đáp ứng đầu đủ nhu cầu tiêu thụ của xã hội. Tuy nhiên nó cũng chịu tác
động rất lớn bởi yếu tố văn hóa xã hội. Một khi văn hóa xã hội thay đổi làm
thay đổi xu thế tiêu thụ, giảm sức tiêu thụ một mặt hàng nào đó thì các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất lưu thông mặt hàng đó chắn chắn sẽ
gặp khó khăn do đó không bán được hàng, hàng tồn kho tăng, giảm thu nhập
và sẽ lâm vào tình trạng không có đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng, rủi ro
cho ngân hàng tăng nhanh.
Môi trường công nghệ trong nước và thực trạng ứng dụng công nghệ của
từng doanh nghiệp cũng tác động trực tiếp đến hoạt động, khả năng tiêu thụ,
doanh thu lợi nhuận. Doanh nghiệp nào có công nghệ tiên tiến ứng dụng khoa
học kỹ thuật hiện đại, sản phẩm sản xuất ra có chất lượng tốt tính cạnh tranh
trên thị trường cao được người tiêu dùng ưa chuộng sẽ làm tăng doanh thu,
tăng khả năng trả nợ cho ngân hàng. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
hiện nay, thực trạng áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất là rất
hạn chế do tiềm lực lực tài chính có hạn do đó làm giảm sức cạnh tranh của
hàng hóa trên thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của doanh
nghiệp nhỏ và vừa làm tăng rủi ro cho ngân hàng.
1.2.6.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng
Khả năng quản lý doanh nghiệp yếu kém thể hiện ở những chiến lược sai
lầm, thiếu tầm nhìn, thiếu tập trung và thiều kiểm soát. Do hạn chế kinh
1.2.6.3 Các nguyên nhân từ phía khách hàng
Chính sách tín dụng không hợp lý và khả năng phân tích tín dụng
yếu
Đồng Minh Tú TC15A
21
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
Thể hiện ở chỗ ngân hàng quá đề cao mục tiêu lợi nhuận mà không để ý
đến mục tiêu an toàn, lành mạnh. Ngân hàng quá quan tâm đến doanh số đến
lợi nhuận mà đơn giản hóa việc phân tích khách hàng để thu hút nhiều khách
hàng đến với ngân hàng, nhưng trong đó số khách hàng đó có những khách
hàng không đủ khả năng tính toán điều này làm tăng rủi ro tín dụng cho ngân
hàng. Hay chính sách tín dụng của ngân hàng có thay đổi liên tục nhưng
khách hàng vẫn chưa cập nhập kịp thời những thay đổi đó.
Thiếu sự giám sát và quản lý cho vay
Các ngân hàng thường tập trung vào việc thẩm định trước khi cho vay
mà nới lỏng quán trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi
ngân hàng cho vay thì khoản vay cần quản lý một cách chủ động để đảm bảo
sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng
nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Tuy nhiên,
trong thời gian qua các ngân hàng thương mại chưa thực hiện tốt công tác
này. Điều này do một phần hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh
của ngân hàng quá lạc hậu, không cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin
mà ngân hàng yêu cầu.
Cán bộ thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Cán bộ tín dụng thiếu năng lực, nhiều khi chưa bắt kịp thị trường luôn
biến động dẫn đến hạn chế trong cho vay. Hoặc do trình độ còn hạn chế, thiếu
kinh nghiệm trong việc thẩm định, đánh giá tín dụng nên cho vay những
khách hàng có chất lượng kém. Trong một số trường hợp, là do động cơ trục
lợi cá nhân, cán bộ tín dụng không có thái độ thận trọng đối với vấn đề rủi ro,
hoặc do thiếu thông tin trong quá trình đưa ra quyết định cho vay. Đây là
kiếm thiết lập quan hệ tín dụng với các khách hàng mới có chất lượng tín
dụng tốt. Do đó các doanh nghiệp đó không có được nguồn vốn tài trợ từ bên
ngoài một cách kịp thời gây chậm chễ khó khăn trong việc mở rộng sản xuất
theo chiều rộng và chiều sâu, kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp có
Đồng Minh Tú TC15A
23
Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính-Ngân hàng
tiềm năng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có vốn cho mua sắm thiết bị
đổi mới công nghệ dẫn tới chất lượng sản phẩm không được cải thiện, cộng
với không có vốn cho mở rộng các kênh phân phối làm cho sức cạnh tranh
của sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường giảm, sức cạnh tranh của
doanh nghiệp vì thế cũng đi xuống.
Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến nhau. Một doanh nghiệp dù không có
quan hệ tín dụng với ngân hàng nhưng khách hàng của ngân hàng là doanh
nghiệp khác có quan hệ với doanh nghiệp này, khi doanh nghiệp chịu tác
động do rủi ro tín dụng thì các doanh nghiệp khác cũng chịu ảnh hưởng.
Chính vì vậy mà rủi ro tín dụng tác động tới tất cả các doanh nghiệp trong nền
kinh tế.
1.2.7.3 Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên
quan đến rất nhiều thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức
kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của
ngân hàng phản ánh kết quả của nền kinh tế và đương nhiên nó phụ thuộc rất
lớn vào tình hình tổ chức kinh doanh của các Doanh nghiệp. Hoạt động kinh
doanh của ngân hàng không thể có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của
nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác hoạt động của ngân hàng sẽ có nhiều
rủi ro khi hoạt động kinh tế có nhiểu rủi ro.
Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó được
coi là mạch máu của nền kinh tế. Rủi ro tín dụng gây hậu quả nghiêm trọng
Việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại là
một việc hết sức quan trọng bởi vì khi rủi ro tín dụng xảy ra không những ảnh
hưởng trực tiếp đến hậu quả kinh tế mà còn ảnh hưởng to lớn về mặt xã hội
1.3.2 Nội dung phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
1.3.2.1 Công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng
a/ Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý
Đồng Minh Tú TC15A
25