Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài gòn công thương chi nhánh Hà Nội - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
MỤC LỤC
Sơ đồ 1: Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp 20
Sơ đồ 2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp 21
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHTM
Ngân hàng Thương mại
SAIGONBANK
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn
Công Thương và Phát triển Việt Nam
CBCNV Cán bộ công nhân viên
NH Ngân hàng
NHNN Ngân hàng nhà nước
TMCP
thương mại cổ phần
CVTD Cho vay tiêu dùng
KT-XH Kinh tế xã hội
CN Chi nhánh
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 1: Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp 20
Sơ đồ 2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp 21
BẢNG:
Bảng 2.1 Tình hình nguồn huy động vốn của SaiGonBank Chi Nhánh Hà
Nội 38
Bảng 2.2 Tỷ trọng nguồn huy động vốn của SAIGONBANK Hà Nội 40
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng vốn của SAIGONBANK Hà Nội 42

khá mới mẻ ở Việt Nam bởi người dân nước ta vẫn có thói quen suy nghĩ rằng ngân
hàng là một kênh đầu tư tiền nhàn rỗi.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Ngân hàng TMCP Sài gòn công thương chi
nhánh Hà Nội đã triển khai loại hình cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá
nhân và hộ gia đình, tuy nhiên phạm vi cho vay tiêu dùng còn hẹp, chưa đáp ứng
được nhu cầu của người tiêu dùng và làm giảm khả năng cạnh tranh với các ngân
hàng bạn. Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Mở rộng cho vay tiêu dùng
tại Ngân hàng TMCP Sài gòn công thương chi nhánh Hà Nội” làm đề tài
nghiên cứu cho chuyên đề thực tập của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là mở rộng cho vay tiêu dùng của NHTM
Phạm vi nghiên cứu là mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài
gòn công thương chi nhánh Hà Nội trong thời gian từ năm 2010- 2012
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng. Trên cơ sở đó phân tích,
đánh giá thực trạng mở rộng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng TMCP Sài gòn công
thương chi nhánh Hà Nội. Đánh giá những kết quả, những tồn tại và tìm ra nguyên
nhân của những tồn tại đó. Đồng thời nêu ra một số giải pháp nhằm mở rộng cho vay
tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài gòn công thương chi nhánh Hà Nội.
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong chuyên đề thực tập bao gồm: phương
pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic, phương pháp duy vật lịch sử, tổng
hợp, phương pháp so sánh kết hợp với bảng biểu và đồ thị để phân tích, đánh giá.
5. Kết cấu của đề tài
Chương I/ Tổng quan về cho vay tiêu dùng của NHTM
Chương II/ Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài gòn
công thương chi nhánh Hà Nội

ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn.Ngân hàng thương mại là cầu nối
giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu.
Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc
biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và
phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại.Hoạt động
của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân
chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Có thể nói Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế.Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh
tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng
lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các Ngân hàng.
Một cách hiểu về NHTM khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay là định nghĩa
Ngân hàng dựa trên các hoạt động chủ yếu của nó.Theo đó NHTM là tổ chức kinh
doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi với trách
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, làm nghiệp vụ chiết khấu và làm
các phương tiện thanh toán.
Một cách tiếp cận thận trọng hơn là có thể xem xét các tổ chức này trên
phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.NHTM là một tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so
với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Tuy nhiên cách định nghĩa dựa trên bản chất của các NHTM là đầy đủ nhất,
theo đó các NHTM là các tổ chức kinh tế hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, với nội
dung hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng để cho
vay, đồng thời thực hiện các uỷ thác của khách hàng và cung cấp các dịch vụ tài
chính khác.
Luật tổ chức tín dụng do Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

gửi, giấy nợ nhằm thu hút được nhiều vốn trong nền kinh tế. Các NHTM thực hiện
kinh doanh loại “hàng hóa đặc biệt” – tiền tệ trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn
ngắn hạn), thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn)
Vì vậy, ngoài vốn ban đầu khi thành lập theo quy định của pháp luật, các ngân hàng
phải thường xuyên tìm mọi biện pháp tăng trưởng vốn trong quá trình hoạt động
kinh doanh. Ngân hàng có thể huy động vốn từ các nguồn sau :
● Tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác.
Đây là nguồn tài chính chủ yếu dùng để tài trợ cho các khoản vay, đầu tư của
ngân hàng đảm bảo cho sự phát triển vững mạnh của ngân hàng. Tiền gửi là nguồn
vốn huy động quan trọng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng. Để có được nguồn tiền gửi lớn và chất lượng đòi hỏi các ngân hàng phải
không ngừng đưa ra các sản phẩm mới, đa dạng để thu hút khách hàng như: tiền gửi
thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm trả lãi trước,
trả lãi sau hay trả lãi định kỳ…
● Nguồn tiền vay.
Các NHTM có thể huy động nguồn tiền vay bằng cách vay Ngân hàng nhà
nước, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn…
Trong cơ cấu vốn của các NHTM thì nguồn tiền vay thường chiếm tỷ trọng
thấp hơn nguồn tiền gửi. Các khoản đi vay thường có thời hạn và quy mô xác định
nên tạo thành nguồn tiền ổn định cho ngân hàng.
● Vốn chủ sở hữu.
Các NHTM có thể huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá như: cổ
phiếu, trái phiếu, các chứng chỉ tiền gửi, chứng chỉ nợ để huy động vốn từ tổ chức
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
và cá nhân trong và ngoài nước. Hiện nay, việc huy động theo cách này trở thành
phổ biến tại các ngân hàng nói riêng và cả các doanh nghiệp khác
● Nguồn vốn khác.
Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ như: ủy thác cho vay, ủy thác

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
Đầu tư tài chính: các NHTM dùng vốn của mình để mua các loại chứng khoán
khác nhau có độ rủi ro thấp, năng lực thị trường cao. Hoạt động này mang lại thu
nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản, các Ngân hàng thương mại có
thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân
hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được
phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập,
quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên Ngân hàng thương mại chỉ được đầu tư chứng
khoán có giới hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.
Đầu tư trực tiếp: là hình thức ngân hàng bỏ vốn đầu tư trực tiếp quản lý và sử
dụng phần vốn của mình, để tạo ra lợi nhuận. Các hình thức đầu tư này có thể là
hùn vốn để liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác hay mua cổ phần của các
công ty, đơn vị kinh tế… Hiệu quả hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại thể
hiện ở tỷ lệ sinh lời của các khoản đầu tư, sự tăng giá các chứng khoán và sự an
toàn của các khoản đầu tư đó.
- Hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính, và hoạt động khác
Đây là hoạt động của ngân hàng thực hiện các dịch vụ cho khách hàng thông
qua đó nhận được các khoản thu dưới hình thức hoa hồng. Nền kinh tế càng phát
triển thì dịch vụ này càng mở rộng, có thể kể các hoạt động ra ở đây như là hoạt
động bảo quản vật có giá, cung cấp các khoản giao dịch, thực hiện thanh toán, quản
lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cho thuê thiết bị trung và dài hạn,
cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn,cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán,
bảo hiểm, dịch vụ đại lý
1.1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm
Cho vay là hoạt động mang tính truyền thống và là chức năng kinh tế hàng
đầu của các Ngân hàng giúp Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiết kiệm thành
đầu tư. Ngân hàng thương mại có thể cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản suất kinh doanh, đời sống và cũng có thể cho
các tổ chức, cá nhân vay trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát

thế chấp hay cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với các khách
hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng, nên khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm
bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai, bổ
xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
+ Cho vay không có đảm bảo: là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp.
cầm cố hoặc sự đảm bảo của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh,
có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín
dụng dựa vào uy tín bản thân khách hàng, mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai
bổ sung.
- Theo mục đích sử dụng vốn:
+ Cho vay nhằm mục đích sản suất kinh doanh: Ngân hàng cho các tổ chức,
doanh nghiệp hay các công ty vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự án
đầu tư, các phương án sản suất.
+ Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho các cá nhân hay hộ gia đình vay để đáp
ứng nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận
chuyển
Cho vay tiêu dùng là một trong những dịch vụ Ngân hàng mới phát triển gần
đây nhưng mà đã tỏ rõ được ưu thế của nó so với các khoản cho vay khác của Ngân
hàng. Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành xu hướng tất yếu để các
Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính.
- Theo thời hạn tín dụng
+ Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân.
+ Cho vay trung hạn: Có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng trung
hạn dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, mở rộng

đã dẫn đến giá trị món vay tiêu dùng thường rất nhỏ, phân tán nên chi phí quản
lý cao. Tuy vậy, trên thực tế tổng quy mô vay tiêu dùng của Ngân hàng lại rất
lớn, đó là vì tuy mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ, nhưng do đây là nhu cầu
vay vốn khá phổ biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư nên
số lượng khách hàng tìm đến Ngân hàng vay vốn là rất đông, khiến cho tổng quy
mô vay tiêu dùng lại trở nên khá lớn.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí cao
Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục cho vay có chi phí cao nhất
trong danh mục cho vay của ngân hàng. Xuất phát từ thực tế là các khoản vay tiêu
dùng có quy mô nhỏ, số lượng nhiều nên chi phí cho khoản vay như lập hồ sơ, thẩm
định là lớn và tất cả các quy trình này là không thể rút ngắn. Mặt khác do khách
hàng đến vay vì mục đích tiêu dùng thường là cá nhân, thời gian vay không dài nên
công tác thu thập thông tin là khó khăn, không rõ ràng, khó đảm bảo tính chính xác.
Vì vậy, việc ra quyết định cho vay cũng như thanh tra, kiểm tra, giám sát và thu nợ
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
gây tốn kém nhiều chi phí của ngân hàng.
Ngoài ra, một nguyên nhân khác khiến cho chi phí của các khoản vay này
cao là cho vay tiêu dùng chưa được đông đảo người dân biết đến, gần đây mới
được các ngân hàng chú trọng nhiều hơn. Cho nên, ngân hàng phải tiến hành các
chương trình quảng cáo giới thiệu sản phẩm dịch vụ cũng như hình ảnh của ngân
hàng. Các hoạt động này cũng góp phần làm cho chi phí của các khoản cho vay
tiêu dùng tăng thêm.
- Lãi suất cho vay tiêu dùng còn khá cao so với lãi suất cho vay thương mại
Thông thường, các khoản cho vay tiêu dùng được định giá rất cao. Lý do
chính được đưa ra để lí giải cho việc áp dụng mức lãi suất cao với các khoản cho
vay tiêu dùng là các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí lớn nhất, rủi ro cao nhất
trong danh mục cho vay của ngân hàng. Hơn nữa, quy mô của từng hợp đồng vay
thường nhỏ, chi phí tổ chức cho vay cao cũng là một yếu tố làm lãi suất các

gian (đơn vị, tổ chức có cán bộ công nhân viên vay vốn, các đơn vị chủ quản ), đặc
biệt là hình thức cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm cũng mang lại rủi ro
rất nhiều đối với loại hình cho vay này.
Tóm lại, khả năng trả nợ sẽ thay đổi nhanh chóng khi khách hàng thay đổi
điều kiện làm việc hoặc sức khoẻ, khả năng bù đắp từ các nguồn khác trong trường
hợp có rủi ro hầu như không có.
1.2.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.2.2.1 Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với khách hàng.
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
người tiêu dùng. Do vậy, khách hàng của cho vay tiêu dùng cũng chính là người
tiêu dùng và đặc biệt là những người có thu nhập trung bình. Nhờ những khoản cho
vay tiêu dùng, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị cao, thoả mãn
nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính hiện tại của
họ chưa cho phép.
Trong thực tế, ta thấy rằng có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có
ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống đối với các cá nhân và hộ gia đình. Những nhu
cầu này không sớm thì muộn người tiêu dùng cũng phải thoả mãn. Ví dụ như nhu
cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm
các phương tiện như xe máy, ô tô, du lịch, học hành
Tuy rằng những nhu cầu thiết yếu nhưng của cải thì được tích luỹ theo thời
gian, do vậy khả năng tài chính thường bị giới hạn. Vì vậy, mà làm nảy sinh sự thật
là người ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt khi lớn tuổi. Khi lợi ích
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
cảm thụ được từ sự hưởng thụ đều có xu hướng giảm xuống. Và do đó, người tiêu
dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo giữa việc thoả mãn các nhu cầu là yếu tố thời
gian và khả năng thanh toán của hiện tại và tương lai. Điều này có nghĩa là người
tiêu dùng sẽ tìm cách để hưởng thụ trước số tiền sẽ có trong tương lai. Nếu phân
tích theo khía cạnh tài chính, việc mượn tiền trước của Ngân hàng để tiêu dùng

đặc biệt, lại có nhiều sản phẩm tín dụng tiêu dùng nên xét trên toàn cục của các
khoản cho vay tiêu dùng thì rủi ro cũng không còn là một vấn đề lớn. Trên thực tế,
các khoản cho vay tiêu dùng thường có lợi nhuận cao do mức lãi suất tính trên các
khoản cho vay tiêu dùng cao. Vì vậy, các Ngân hàng thương mại cũng có thể kỳ
vọng tăng lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng.
- Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động
các loại tiền gửi cho Ngân hàng.
Thị trường cho vay tiêu dùng là một lĩnh vực mới được phát hiện, chỉ đến sau
chiến tranh thế giới lần thứ hai, hoạt động cho vay tiêu dùng mới được phát triển,
lớn mạnh.
Hoạt động này giúp Ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng ,từ đó giúp
Ngân hàng có những thuận lợi trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt là huy
động vốn từ dân cư. Hơn nữa tính lan truyền trong dân cư là rất cao, nên các
Ngân hàng có thể thông qua các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về mình,
từ đó thu hút các khách hàng đến với các dịch vụ khác của Ngân hàng. Trong khi
đó các khoản tín dụng tiêu dùng tuy là những khoản tín dụng nhỏ nhưng nhu cầu
về chúng lại rất lớn nên nếu khai thác được thị trường này thì các Ngân hàng có
thể sử dụng được một số lượng vốn lớn. Hơn nữa, dân cư là khách hàng tiềm
năng lớn của Ngân hàng, Ngân hàng muốn phát triển bền vững thì nên dựa vào đối
tượng khách hàng này.
Trong khi cấp các khoản tín dụng tiêu dùng thì các Ngân hàng cũng góp phần
đẩy mạnh tiêu dùng, và từ đó tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và các ngân hàng
có thêm những khoản cho vay mới phục vụ cho các nhà sản xuất. Sản xuất phát
triển lại cung cấp ra thị trường những sản phẩm mới, làm nảy nở nhu cầu tiêu dùng.
Quá trình này được lặp đi lặp lại không ngừng làm cho thị trường tiêu dùng ngày
càng phát triển.
1.2.2.3. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế
Cho vay tiêu dùng có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo điều kiện thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, nhu cầu là vô hạn song “nhu cầu có khả năng
thanh toán” mới đáng quan tâm. Cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng được

hoặc thu nhập từng định kì của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một
lần số nợ vay. Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các Ngân hàng thường chú ý tới
các vấn đề cơ bản sau:
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
+ Loại tài sản được tài trợ: thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu
tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu, lâu dài trong tương lai như:
nhà ở, xe cộ… Cho nên, ngân hàng thường muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm
những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài.
+ Số tiền trả trước: khách hàng phải trả một phần tiền, phần còn lại ngân
hàng sẽ cho vay và số tiền ngân hàng cho vay khoảng 60%- 70% giá trị hàng hóa,
dịch vụ. Trong trường hợp khách hàng không trả nợ, ngân hàng buộc phải phát mại
tài sản để thu nợ.
+ Chi phí tài trợ là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho
việc sử dụng vốn vay. Chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm lãi vay, các chi phí khác
liên quan.
• Cho vay tiêu dùng phi trả góp
Cho vay tiêu dùng phi trả góp còn gọi là cho vay trả một lần là các khoản
vay ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời, được
thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng
phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có quy mô nhỏ với thời hạn không dài.
• Cho vay tiêu dùng tuần hoàn
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân
hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép
thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này thì trong thời hạn cho
vay được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng kỳ khách
hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần
hoàn, theo một hạn mức cho vay xác định.
Lãi trả mỗi thời kỳ đối với khoản vay này có thể được tính trên số dư nợ đã

đồng với công ty bán lẻ, cùng các điều kiện ràng buộc thì trong trường hợp người
tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng, ngân hàng có quyền truy đòi nhà cung
cấp về khoản nợ trên.
Bên cạnh một số ưu điểm trên, cho vay tiêu dùng gián tiếp còn có một số
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
(2)
(1)
(5)
(3)
(4)
Ngân hàng
Công ty bán lẻ
Người tiêu dùng
(6)
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
nhược điểm sau:
+ Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu
do đó không thể nắm được tình hình thực tế của khách hàng mà ngân hàng tài trợ.
+ Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hóa.
+ Kĩ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
Do những nhược điểm kể trên nên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà với
cho vay tiêu dùng gián tiếp. Còn những ngân hàng nào tham gia vào hoạt động này,
thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó
ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ
từ người này.
Sơ đồ 2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp

ngân hàng có thể xử lý, giải quyết linh hoạt những vướng mắc của khách hàng. Việc
khách hàng tiếp xúc trực tiếp với ngân hàng cũng giúp cho quan hệ giữa khách
hàng, ngân hàng gần gũi hơn, quảng bá được hình ảnh của ngân hàng đến với nhiều
người hơn
Tuy nhiên, với hình thức này, ngân hàng phải tiếp xúc với từng khách hàng
nhỏ lẻ do vậy chi phí sẽ cao thời gian để ngân hàng tăng quy mô khách hàng là
chậm và ngân hàng sẽ là người duy nhất gánh chịu rủi ro.
1.2.3.4 Căn cứ vào thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách
hàng một khoản cho vay thường được xác định cụ thể ngày, tháng hoặc năm và ghi
trong hợp đồng cho vay. Hay thời hạn cho vay còn được hiểu là thời hạn được tính
từ lúc đồng vốn đầu tiên của ngân hàng, được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi
cuối cùng phải thu về. Căn cứ theo thời gian, cho vay được phân thành 3 loại:[1]
- Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ 12 tháng
trở xuống được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân hoặc
để bổ sung vào tài sản lưu động của các doanh nghiệp, bởi vì tài sản lưu động thường
có vòng quay trên một vòng thấp hơn một năm. Do vậy, trong một năm doanh nghiệp
có thể hoàn trả được số tiền vay ở ngân hàng.
- Cho vay tiêu dùng trung hạn: là hình thức cấp tín dụng từ 1 năm đến 5 năm.
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
Hình thức cho vay này được sử dụng chủ yếu để đầu tư sửa chữa, đổi mới thiết bị,
phương tiện sản xuất, phương tiện vận tải…. các trang thiết bị nhanh hao mòn hay
xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh từ 1 năm
đến 5 năm.
- Cho vay tiêu dùng dài hạn: là hình thức cấp tín dụng trên 5 năm. Mục đích
của hình thức cho vay này nhằm đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà xưởng,
mua sắm máy móc thiết bị công nghiệp nặng, xây dựng cầu đường… những công
trình lớn, thu hồi vốn lâu từ 5 năm đến 10 năm có khi lên đến 20 năm.

- Nhóm III: Nhóm cá nhân có thu nhập thấp.
Nhu cầu về tín dụng của nhóm người này thường rất hạn chế do thu nhập của
họ thường không đủ để thoả mãn những nhu cầu chi tiêu đa dạng của họ. Tuy nhiên,
những người này cũng có các mong muốn, chi tiêu không khác mấy so với những
người có thu nhập cao hơn. Vì vậy, nếu có những chính sách và biện pháp phù hợp
cũng có thể hình thành được các món tín dụng hợp lý đến nhóm khách hàng này.
Nói chung, nhu cầu về tiêu dùng của hai nhóm đầu là rất cao, thường chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng mức cầu tiêu dùng của cá nhân. Vì lẽ đó, nhu cầu cho vay
tiêu dùng chủ yếu đến từ những người có thu nhập trung bình, thu nhập cao,
nhưng không vì thế mà các nhà quản trị Ngân hàng, các nhà kinh doanh lại bỏ
ngỏ nhu cầu tín dụng tiêu dùng của nhóm khách hàng có thu nhập thấp mà phải
có những chính sách và sản phẩm phù hợp để phục vụ mọi nhu cầu của mọi
nhóm đối tượng khách hàng.
1.2.5 Sự cần thiết của mở rộng cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng thương mại
1.2.5.1 Quan niệm về mở rộng cho vay tiêu dùng
Mở rộng cho vay tiêu dùng được xác định trên cơ sở việc thực hiện đa dạng
hóa đối tượng khách hàng, đa dạng hóa các hình thức cho vay tiêu dùng, tăng giá trị
các khoản vay tiêu dùng… trong một thời gian nhấtđịnh. Mức tăng trưởng cho vay
được tính bằng số tương đối hay số tuyệt đối của số lượng cho vay kỳ sau so với kỳ
trước. Số tương đối thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm, số tuyệt đối thể
hiện quy mô tăng trưởng cho vay.
Nói cách khác, mở rộng cho vay tiêu dùng là gia tăng về dư nợ , gia tăng về
doanh số, gia tăng thị phần,tạo ra sự tăng trưởng về mặt quy mô, khối lượng, số
lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng. Nói đến mở rộng cho vay tiêu dùng là nói đến
sự tăng trưởng theo chiều rộng của các khoản tín dụng tiêu dùng.
Mở rộng cho vay tiêu dùng thể hiện ở các khía cạnh:
Nguyễn Trung Hải Lớp: NH3A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa ngân hàng thương mại
- Đối với người tiêu dùng : mở rộng cho vay tiêu dùng là thỏa mãn ngày

25

Trích đoạn Biểu đồ 2.4: Dư nợ cho vay tiêu dùng năm 2010 – 2012
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status