ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Ngân hàng
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN (BIDV)
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Phương Thảo
Mã sinh viên : 0853030157
Lớp : Anh 3 - Khối1 TCNH
Khóa : 47
Người hướng dẫn khoa học : ThS. Nguyễn Thị Thanh Phương
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BIDV : Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
ODA : Official Development Assistance- đầu tư nước ngoài
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
TMQT : Thương mại quốc tế
TMCP : Thương mại cổ phần
D/P (Document against payment) : Nhờ thu chứng từ trả ngay
ICC (Internationnal Chamber of Commerce) : Phòng thương mại quốc tế
ISBP
L/C : Tín dụng thư
UCP (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits): Quy tắc thực
hành thống nhất về tín dụng chứng từ
URC ( The Uniform Rules for Collections): Quy tắc thống nhất về nhờ thu
URDG ( The Uniform Rules for Demand Guarantees ): Quy tắc thống nhất về bảo
lãnh
quả kinh doanh của Ngân hàng. Tuy nhiên, để tạo ra lòng tin đối với các ngân hàng
nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước thì BIDV một mặt phải
tiếp tục phát huy những ưu điểm và mặt khác quan trọng hơn là phải phát hiện kịp
thời, đầy đủ những mặt yếu kém trong lĩnh vực tài trợ thương mại quốc tế. Nhận
thức được tầm quan trọng đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Phát triển hoạt
động tài trợ thương mại quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát
triển – BIDV” làm đề tài ngiên cứu
Mục đích của đề tài :
Mục đích nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là giới thiệu đầy đủ hơn một số
nội dung của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế và làm rõ thực trạng, phân tích,
đánh giá và đề ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
tại BIDV
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng
thương mại.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tài trợ thương mại quốc tế tại BIDV
Phương pháp nghiên cứu
-Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng học thuyết kinh tế chính trị
Mác- Lê Nin, các lý thuyết kinh tế học hiện đại về tiền tệ, tín dụng và hiệu quả kinh
tế xã hội, quán triệt tư tưởng và quan niệm đổi mới kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt
Nam
- Phương pháp nghiên cứu: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tiếp cận hệ
thống và phân tích hệ thống, dùng lý luận để đánh giá thực tiễn, ứng dụng lý luận và
thực tiễn vào khoa học quản lý kinh doanh ; phương pháp so sánh và phân tích kết
hợp với phương pháp chọn mẫu và hệ thống hóa khoa học.
Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 3 chương:
3
Chương I : Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế của
các ngân hàng thương mại
thiệt bị, hàng tiêu dùng … Thứ hai, hình thức cung ứng dịch vụ tiền tệ - tín dụng,
thông thường được thực hiện thông qua các dịch vụ thanh toán quốc tế ( Như
chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu hay tín dụng chứng từ …), bảo lãnh , bao thanh toán,
thuê mua tài chính …
Còn nếu căn cứ vào người cung ứng tài trợ thương mại quốc tế
1
có thể chia
1
Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương- GS Đinh Xuân Trình
5
thành : Thứ nhất là tài trợ thương mại quốc tế của nhà nước, đặc trưng của hình
thức tài trợ này là tài trợ gián tiếp thông qua ngân hàng trung ương, các tổ chức tín
dụng ngân hàng và phi ngân hàng, các cơ quan chính phủ …bằng các biện pháp
bình ổn giá, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ xúc tiến phát triển …dưới các hình thức bảo
lãnh, tái chiết khấu và thông qua các chính sách tài chính- tiền tệ ở tầm vĩ mô. Thứ
hai là tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng trung ương, ở hình thức này ngân
hàng trung ương trở thành người thực hiện các chính sách cho vay tái cấp vốn, tái
chiết khấu, cấp bảo lãnh nhà nước, thực hiện các chính sách tài chính –tiền tệ như tỷ
giá, lãi suất , phá giá tiền tệ …Thứ ba là tài trợ thương mại quốc tế của các các tổ
chức tín dụng, đặc trưng của hình thức tài trợ này là tài trợ trực tiếp từ người tài trợ
đến người nhận tài trợ, không phải qua các kênh trung gian khác, thông qua cho
vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, thuê mua tài chính, tín dụng chứng từ,
nhờ thu…Thứ tư là tài trợ thương mại của các doanh nghiệp, với công cụ sử dụng
thường là tín dụng thương mại như hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ, ứng tiền
trước khi giao hàng …
Ngày nay, khi quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa ngày càng được mở rộng
và đi vào các cam kết thực chất thì các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của các
chủ thể như nhà nước và ngân hàng trung ương ngày càng bị hạn chế và thu hẹp.
Thay vào đó là nổi lên vai trò của các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp với các
hình thức tài trợ đa dạng, linh hoạt và đảm bảo tính cạnh tranh công bằng cho hoạt
hàng sẽ chịu trách nhiệm đối với các rủi ro như rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro
thương mại… Đương nhiên các doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm trong việc
chi trả nhữn chi phí cho việc “chuyển rủi ro” này.
Cuối cùng, hoạt động tài trợ thương mại quốc tế góp phần nâng cao uy tín
doanh nghiệp trong kinh doanh. Trong quá trình tìm kiếm đối tác, rất nhiều doanh
nghiệp vấp phải vấn đề uy tín đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mới
7
thành lập. Đó chính là cơ sở để ngân hàng cho ra đời hình thức tài trợ dưới hình
thức bảo lãnh. Với hình thức này ngân hàng đã thay mặt doanh nghiệp đứng ra bảo
đảm khả năng hoàn thành nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hợp đồng, tôn thêm được
hình ảnh của doanh nghiệp, tăng thêm niềm tin với bạn hàng, giành được ưu thế cạnh
tranh từ các đối thủ và dễ dàng dành được hợp đồng thương mại quốc tế.
1.2.2 Vai trò đối với ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại bằng việc thực hiện tài trợ thương mại đã tạo ra
một khoản thu lớn từ các chi phí dịch vụ, phí bảo lãnh rủi ro. Các khoản thu này
thường có giá trị không nhỏ bởi lẽ bản thân giá trị của các hợp đồng tài trợ thương
mại quốc tế bao giờ cũng ở mức khá cao. Hơn thế nữa, phát triển hoạt động tài trợ
thương mại quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triển nói chung của các loại hình
dịch vụ khác của ngân hàng thương mại như: nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ thanh
toán quốc tế, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối đồng thời tạo ra mối liên hệ gắn kết
giữa các loại hình dịch vụ này với nhau. Nhờ vậy, ngân hàng thương mại sẽ thực
hiện hiệu quả việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng theo
đó nâng cao được sức cạnh tranh và tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tài trợ thương mại quốc tế giúp các ngân hàng thương mại nâng cao độ an
toàn và hạn chế rủi ro. Thông qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, ngân hàng
thương mại có thể kiểm soát được các nguồn thanh toán một cách tập trung bằng
các tài khoản thanh toán mở tại chính ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng thương
mại cũng có thể hạn chế được rủi ro từ việc hạn chế tình trạng sử dụng vốn sai mục
đích của bên được thanh toán.
Hoạt động tài trợ thương mại quốc tế giúp ngân hàng thương mại tiếp cận được
mại quốc tế cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ nhiều yếu tố. Các yếu tố này có thể ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, song nhìn
chung muốn phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế thì các ngân hàng không
thể không quan tâm đến các yếu tố này.
1.3.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng.
9
* Mô hình tổ chức quản lý hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Đối với bất kỳ một hoạt động nào các khâu bố trí, tổ chức, thực hiện và giám
sát đều có những tác động mạnh mẽ đến kết quả thu được. Việc bố trí, quản lý hoạt
động tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại như thế nào ảnh hưởng
trực tiếp đến doanh thu từ hoạt động này của ngân hàng.Việc bố trí, quản lý tốt hoạt
động tài trợ thương mại quốc tế sẽ tiết kiệm chi phí, thời gian, mang lại cho khách hàng
một cảm giác chuyên nghiệp của ngân hàng. Bên cạnh đó, còn chiếm được niềm tin tối
đa của khách hàng, và sẽ là một trong những nhân tố thu hút khách hàng đến với ngân
hàng càng nhiều. Đó là tiền đề quan trọng để phát triển hoạt động tài trợ thương mại
quốc tế của ngân hàng.
•Uy tín của ngân hàng thương mại
Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, uy tín đã trở thành nhân tố không
thể tách rời. Một ngân hàng có uy tín lớn là ngân hàng có thể chiếm được lòng tin của
khách hàng. Đối với hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, uy tín của ngân hàng càng
đóng vai trò quan trọng, một ngân hàng có uy tín lớn đứng ra bảo lãnh, tài trợ cho
doanh nghiệp thì đương nhiên sẽ nhanh chóng chiếm được niềm tin từ phía các đối tác
nước ngoài, quy trình thực hiện sẽ nhanh chóng và thuận lợi hơn. Cam kết do ngân
hàng uy tín phát hành dễ dàng được chấp nhận hơn, đây là động lực lớn khiến các
doanh nghiệp luôn muốn tìm đến các ngân hàng uy tín. Đôi khi đây cũng chính là
những yêu cầu từ đối tác nước ngoài. Do vậy, uy tín của ngân hàng là nhân tố ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói
chung và tài trợ thương mại quốc tế nói riêng. Uy tín của ngân hàng được đánh giá qua
các tiêu chí như là khả năng thanh toán, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ. quy mô của nguồn
vốn huy động và cho vay, sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, thái độ phục vị của
ngân hàng có thể tiến hành hoạt động tài trợ thương mại quốc tế một cách suôn sẻ đáp
ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng, tạo niềm tin nơi khách hàng. Mặt khác, trình độ
cán bộ vững sẽ xử lý các kỹ thuật nghiệp vụ một cách chính xác và hạn chế rủi roc ho
ngân hàng, nâng cao chất lượng hoạt động.
11
•Mạng lưới đại lý
Thương mại quốc tế tiềm ẩn nhiều rủi ro trong đó có rủi ro xuất phát từ sự thiếu
thông tin về thị trường và doanh nghiệp, khi đó mạng lưới đại lý của ngân hàng sẽ là
một sự hỗ trợ đắc lực. Mạng lưới đại lý có thể giúp ngân hàng mở rộng thị trường hoạt
động, phạm vi giao dịch, đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của khách hàng và giảm thiểu
rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế. Nhờ vậy, mà năng lực cạnh tranh của
ngân hàng được tăng cường và nâng cao uy tín của ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
a) Chính sách vĩ mô của Nhà nước
- Chính sách vĩ mô của Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, và theo đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động
tài trợ thương mại quốc tế của các ngân hàng thương mại. Do đó, các ngân hàng
thương mại phải có sự theo dõi sát sao các chính sách này để có thể điều chỉnh hướng
phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế cho phù hợp.
- Chính sách kinh tế đối ngoại : Các định hướng mang tính chiến lược về bảo hộ
mậu dịch hay tự do mậu dịch có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của doanh nghiệp.
Chính phủ các nước cũng thường sử dụng biện pháp này trong quản lý và điểu hành
kinh tế vĩ mô. Trong hoạt động ngoại thương, ngân hàng với vai trò là trun gian thanh
toán, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế. Đồng thời cũng nhờ
hoạt động tài trợ thương mại quốc tế phát triển đã tác động làm cho hoạt động này diễn
ra một cách sôi nổi, trôi chảy, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
- Chính sách thuế : Chính sách thuế của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt các doanh nghiệp tham gia vào thương
mại quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thuế xuất nhập khẩu, nhà nước có thể thực
hiện chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất khẩu hay nhập khẩu thông qua chính
Năm 1995, Uỷ ban Pháp luật và thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc đã soạn
thảo: “ Công ước Liên hiệp quốc về bảo lãnh độc lập và Tín dụng dự phòng” nhưng
cho đến nay nó vẫn chưa có hiệu lực thi hành. Công ước là sự tổng hòa của các Bộ
Luật Quốc Gia về giao dịch bảo lãnh độc lập và tín dụng dự phòng. Công ước ra đời
tạo ra một cách thức phù hợp với tập quán và thông lệ quốc tế. Tùy thuộc vào hệ thống
13
pháp luậ của từng nước, các quốc gia có thể phê chuẩn Công ước nhằm tạo một hành
lang pháp lý trong giao dịch quốc tế về bảo lãnh độc lập và tín dụng dự phòng. Lợi thế
của Công ước là việc phê chuẩn Công ước là cả hai bên đều nắm hiểu và áp dụng
thông thạo một điều luật chung trong giao dịch, trách tình trạng một trong hai đối tác
lựa chọn luật của nước mình áp dụng cho giao dịch, tạo bất lợi cho phía bên kia.
b) Các văn bản của Phòng thương mại quốc tế ( ICC) ban hành
Sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch cam kết bảo lãnh trong thập kỷ 60 đã bắt
buộc các tổ chức thương mại, tài chính quốc tế nghĩ đến một hành lang pháp lý cho
công bảo đảm được coi là linh hoạt, uyển chuyển này. Trong số đó, phòng thương mại
quốc tế ( The International Chamber of Commerce- ICC), một tổ chức phi chính phủ
về Thương mại- Ngân hàng- Bảo hiểm- Vận tải lớn nhất thế giới có những đóng góp
đáng kể vào công trình trên.
Năm 1978, phòng thương mại quốc tế đã ban hành Quy tắc thống nhất về bảo
lãnh hợp đồng, ấn phẩm số 325. Ngoài việc, đưa ra những tiêu chuẩn chung, mục đích
URDG 325 là làm giảm bớt khả năng phát sinh tranh chấp trong hoạt động bảo lãnh
bằng việc đưa ra các quy tắc công bằng, hợp lý. Mục đích quy tắc này là một chuẩn
mực thực hành bảo lãnh và tạo đà phát triển cho giao dịch thương mại. Nhưng thực tế
URDG lại không được đón nhận rộng rãi, nhược điểm của nó là yêu cầu người thụ
hưởng khi đòi thanh toán phải xuất trình phán quyết của tòa án hay quyết định của
trọng tài, thậm chí cả văn bản chấp nhận đòi tiền của người được bảo lãnh.
Đến tháng 12/1991, ICC đã hoàn tất ấn bản số 458- Các quy tắc thống nhất về
bảo lãnh theo yêu cầu ( The Uniform Rules for Demand Guarantee- gọi tắt là URDG )
và có hiệu lực vào tháng 4/1992. Đây thật sự là một bước hoàn thiện mới những quy
tắc bảo lãnh. Các quy tắc này tổng hợp những điểm tiến bộ của “ Các quy tắc thống
bán. Theo Luật các tổ chức tín dụng thì bảo lãnh ngân hàng được định nghĩa : “Bảo
lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự
cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ hoặc hoàn trả
15
cho ngân hàng số tiền đã được trả thay”
- Mục đích của bảo lãnh ngân hàng : Để bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia
thương mại quốc tế, tránh được các rủi ro có thể phát sinh trong các dịch vụ mua bán
không thường xuyên, đòi hỏi phải có sự đảm bảo của bên thứ ba cam kết bồi thường
cho bên bị thiệt hại do bên đối tác gây ra. Người thứ ba thông thường là người phải uy
tín, có khả năng tài chính và có đủ điều kiện thực hiện ngay việc bồi thường. Thực
tế,người có khả năng đứng ra vai trò là người thứ ba thì thường là ngân hàng. Chính vì
vậy mà trong hợp đồng kinh tế, khi nói đến bảo lãnh người ta thường hay nghĩ đến Bảo
lãnh ngân hàng. Cam kết bồi thường của ngân hàng bằng văn bản và thường được gọi
là “ Thư bảo lãnh ngân hàng – Bank Guarantee”
2.1.3 Các loại bảo lãnh ngân hàng:
a) Bảo lãnh dự thầu : Trong thương mại quốc tế, đấu thầu thường được sử dụng
để tìm được nguồn cung cấp tối ưu nhất . Thông thường, đó là những hợp đồng lớn,
đặc biệt là những hợp đồng xây dựng, thiết kế hay cung cấp thiết bị. Mục đích của loại
bảo lãnh này là nhằm bù đắp thiệt hại về thời gian và chi phí cho chủ thầu do những vi
phạm của người dự thầu gây ra như : rút đơn thầu, trúng thầu nhưng bỏ không ký tiếp
hợp đồng cung ứng… Bảo lãnh dự thầu có tác dụng để cho bên chủ thầu thấy đơn dự
thầu là một cam kết nghiêm túc và bên dự thầu sẽ ký hợp đồng dự thầu nếu trúng thầu.
Bảo lãnh dự thầu là một hình thức tài trợ của ngân hàng vì việc ngân hàng cấp
bảo lãnh dự thầu hàm ý năng lực tài chính của người dự thầu là lành mạnh. Ngoài ra,
nếu trúng thầu ngân hàng sẽ xét cấp tiếp các bảo lãnh như bảo lãnh thực hiện hợp đồng,
bảo lãnh đặt cọc. Thời hạn bảo lãnh dự thầu kết thúc trong trường hợp : người dự thầu
trúng thầu và đã ký được bảo lãnh thực hiện hợp đồng, hoặc khi người dự thầu không
trúng thầu.
chưa nhận được B/L thì để tránh các rủi ro như phí lưu kho bãi, chi phí cơ hội,tổn thất
…người mua sẽ yêu cầu ngân hàng của mình phát hành một cam kết( thay thế cho
B/L) với hang vận tải để nhận hàng. Cam kết này là một bảo lãnh nhận hàng của ngân
hàng. Bằng việc ký kết trên bảo lãnh nhận hàng, ngân hàng đã cam kết thực hiện
chuyển giao vận đơn cho công ty vận tải. Do đó, bảo lãnh nhận hàng cũng chính là một
17
hình thức tài trợ của ngân hàng cho người mua vì ngân hàng đã dùng chữ tín của mình
để cam kết cho hãng vận tải sẽ chịu trách nhiệm đối với lô hàng, và người mua chưa
phải trả tiền lô hàng cho người xuất khẩu đã nhận được hàng hóa.
2.2 Cho vay tài trợ thương mại quốc tế
Có thể nói nghiệp vụ cho vay là một trong những nghiệp vụ truyền thống của các
ngân hàng thương mại. Khác với cho vay thông thường , cho vay tài trợ thương mại
quốc tế thể hiện rất rõ tính chất tài trợ của mình. Nếu như mục đích cho vay thông
thường đơn thuần là thu về lợi nhuận thì mục đích của cho vay tài trợ thương mại quốc
tế ngoài mục tiêu lợi nhuận còn có mục tiêu mang tính chất kinh tế- xã hội, đó là hỗ trợ
đẩy mạnh sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế. Như vậy, cho vay tài trợ
thương mại quốc tế là chỉ việc hỗ trợ cho những phương tiện tài chính hoặc những
phương tiện thay thế tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương
mại quốc tế nhằm hoàn tất nghĩa vụ thanh toán phát sinh trong quá trình từ sản xuất
đến lưu thông hàng hóa.
Cho vay tài trợ thương mại quốc tế thực hiện chức năng tài trợ cho cả nười xuất
khẩu lẫn người nhập khẩu
- Cho vay tài trợ xuất khẩu :
Trong hoạt động thương mại quốc tế, đối với những hợp đồng kinh tế có giá trị
lớn thì thời gian tạo thành sản phẩm dài nên người xuất khẩu thường thiếu vốn lưu
động để chuẩn bị cho lô hàng xuất khẩu. Chính từ yêu cầu thực tiễn này mà hình thức
cho vay tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thương mại đã ra đời . Hình thức cho vay tài
trợ xuất khẩu là một hình thức cho vay theo quá trình sản xuất, lưu thông, do vậy, tùy
theo tính chất ngành hàng, mặt hàng xuất khẩu mà có thể phân thành các thời hạn cho
vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và có thể phân thành cho vay tài trợ xuất khẩu trước
quá trình lắp đặt, chạy thử chưa đưa vào sản xuất để tạo ra sản phẩm…
Thời hạn cho vay tài trợ nhập khẩu có thể là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tùy
thuộc vào đối tượng nhập khẩu . Nếu nhập khẩu hàng hóa là nguyên nhiên vật liệu,
hàng tiêu dùng …thì do vòng quay vốn nhanh nên ngân hàng thường sẽ cấp vốn ngắn
hạn. Còn nếu nhập khẩu hàng hóa là máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất …thì do
vòng quay vốn chậm nên ngân hàng sẽ cấp vốn trung hạn hoặc dài hạn. Đồng tiền cấp
vón thường bằng ngoại tệ để thanh toán cho người bán nước ngoài. Tuy nhiên, khi bán
19
hàng trong nước, đồng tiền thu về lại là nội tệ nên vấn đề rủi ro về tỷ giá hối đoái cần
phải được ngân hàng thương mại và người xuất khẩu hưởng tài trợ hết sức lưu tâm.
2.3 Tài trợ trên cơ sở phương thức tín dụng chứng từ
2.3.1 Bộ tập quán quốc tế điều chỉnh phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
a) Sự cần thiết ra đời UCP 600 và ISBP 681, 2007 ICC
UCP và sự cần thiết ra đời UCP
UCP là tên viết tắt của Uniform Customs and Practice for documentary Credits,
tức Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ. UCP là một tập hợp các
nguyên tắc và tập quán quốc tế được phòng thương mại Quốc tế ( International
Chamber of Commerce Commission- ICC) soạn thảo và phát hành, quy định quyền
hạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong giao dịch tín dụng chứng từ với điều kiện
L/C có dẫn chiếu tuân thủ UCP.
Ngày nay, thương mại quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển
chung của mỗi Quốc gia. Buôn bán giữa các nước phát triển kéo theo sự phong phú của
các phương thức thanh toán quốc tế, trong đó phương thức tín dụng chứng từ được sử
dụng rộng rãi hơn cả. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có hệ thống pháp luật và tập quán
riêng nên việc cho ra đời một quy tắc chung để điều chỉnh phương thức thanh toán
bằng L/C là vô cùng cần thiết. UCP cũng ra đời trên tinh thần đó. Năm 1993, ICC đã
ban hành bản UCP đầu tiên và được áp dụng rộng rãi trên thế giới và trở thành cơ sở
cho thanh toán quốc tế bằng L/C. Song, trong một thế giới năng động và không ngừng
phát triển, thương mại quốc tế luôn được mở rộng thì việc sửa đổi UCP để phù hợp với
thực tiễn là điều hết sức cần thiết. Tính đến nay, UCP đã qua sáu lần sửa đổi vào các
khoản UCP 600 để tất cả các ngân hàng trên thế giới áp dụng, để các bên liên quan đến
giao dịch L/C như người chuyên chở, người bảo hiểm…khi phát hành chứng từ cũng
phải hành động theo. Như vậy, việc ra đời ISBP 681 có ý nghĩa quan trọng trong việc
giúp L/C được thực hiện trôi chảy hơn, trở thành một công cụ thanh toán hữu ích chứ
không phải công cụ từ chối thanh toán.
c) Tính chất pháp lý của UCP 600 và ISBP 681, 2007 ICC
UCP 600 và ISBP 681 đều là các văn bản do ICC phát hành, mà ICC là một tổ
21
chức xã hội, phi chính phủ, do đó các văn bản do ICC ban hành không có tính chất
pháp lý bắt buộc mà có tính chất pháp lý tùy ý. Tính chất pháp lý tùy ý của UCP 600
được nêu rõ trong điều 1, UCP 600 “ Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng
chứng từ , bản sửa đổi 2007, ICC xuất bản số 600 là các Quy tắc áp dụng cho bất cứ tín
dụng chứng từ nào( bao gồm cả thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà các Quy
tắc này có thể áp dụng) nếu nội dung của tín dụng chỉ ra một cách rõ rang là có dẫn
chiếu đến các Quy tắc này. Các Quy tắc này rằng buộc tất cả các bên , trừ khi tín dụng
loại trừ hoặc sửa đổi một cách rõ rang”. Như vậy, L/C dẫn chiếu áp dụng UCP 600 thì
nó mới trở nên có giá trị pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên tham gia, nó rang buộc
nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả các bên, trừ khi các bên có thỏa thuận khác về việc
không thực hiện, thực hiện khác đi một số điều trong UCP 600 hoặc bổ sung những
điều mà UCP 600 không đề cập đến, nhưng tất cả những thỏa thuận nayfcaanf được
quy định rõ rang trong L/C. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng tham gia thanh toán quốc
tế trên thế giới đều sử dụng hệ thống Swift để gửi, nhận L/C. Mà theo quy định của
Swift thì trừ khi có quy định khác trong L/C, tất cả các L/C phát hành qua Swift đều
được điều chỉnh bởi UCP – bản mới nhất đang có hiệu lực tại thời điểm phát hành L/C.
Vì ISBP 681 ra đời nhằm mục đích giải thích rõ hơn điều 14, UCP 600 nên việc
áp dụng ISBP 681 cũng mang tính chất pháp lý tùy ý. Việc dẫn chiếu ISBP vào L/C là
không có giá trị, vì việc tuân thủ các điều khoản của ISBP 681 chính là tuân thủ ucp
600. Do vậy khi áp dụng ISBP 681 cần xem xét các điều khoản của L/C liên quan có
điều kiện nào loại trừ, sửa đổi hoặc bổ sung UCP 600 hay không để có cách vận dụng
hiệu quả nhất.