Giun lươn (Strongyloides Stercoralis)-một bệnh tiêu hóa do ký sinh trùng mang tính thời sự
hiện nay
Tổng quan về bệnh giun lươn
Trong thực tiễn lâm sàng điều trị bệnh nhiệt đới và nội khoa, các thầy thuốc đã ghi nhậnkhá
nhiều bệnh nhân nhập viện với bệnh cảnh rối loạn tiêu hóa kéo dài, diễn tiến tái đi tái lại, đến khám và
điều trị rất nhiều cơ sở y tế tư nhân lẫn nhà nước với nhiều phác đồ điều trị khác nhau (viêm đại tràng
kích thích, viêm đại tràng giả mạc, rối loạn nhu động, nhiễm nấm, loạn khuẩn,…) song bệnh chẳng có gì
khả quan hơn, đôi khi còn gây ra nhiều biến chứng đe dọa tính mạng và cuối cùng bệnh nhân đó được
phát hiện và chẩn đoán ra được tác nhân gây ra những rắc rối và “vònglẩn quẩn” trên là do họ bị nhiễm
một loại ký sinh trùng (KST), có tên khoa học là Strongyloides stercoralis. Giun lươn Strongyloides
stercoralis được tác giả Bavay tìm ra năm 1876, đặt tên là Anguillula stercoralis hayAnguillula
intestinalis (Bavay.,1876) hoặc Strongyloides intestinalis (Bavay.,1876 và Grassi.,1879). Bệnh do chúng
gây ra có tên gọi là bệnh giun lươn(Strongyloidiasis) hoặc bệnh tiêu chảy Cochin-China.
Theo một số nghiên cứu đã được công bố và đang tiến hành tiếp tục nghiên cứu trong nước cho
biết: [1] theo nghiên cứu tại khoa nội tiêu hóa Bệnh viện Nhân dân 115 trong thời gian từ năm 2004-2005
ghi nhận rằng trong nhóm những bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa kéo dài hay tái đi tái lại có đến 82% bị
nhiễm giun lươn, đây quả là một tỷ lệ khá lớn. [2] Phân tích số bệnh nhân nhiễm KSTkhám và điều trị tại
Bệnh viện bệnh Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh, một nhóm bác sĩ của bệnh viện và bộ mônKST của
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy nếu trong năm 2002 chỉ có 40 ca nhiễm giun lươn
được phát hiện, thì năm 2003 có đến 80 trường hợp (tăng gấp 2 lần). Giải thích điều này, các chuyên gia
KST cho rằng đó là do sự quan tâm ngày càng nhiều của bác sĩ lâm sàng đối với bệnh lý giun, sán cho
nên các thầy thuốc đã chỉ định bệnh nhân xét nghiệm kịp thời. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng số
người nhiễm giun lươn trong cộng đồng là rất cao. [3] Tại Phòng khám và điều trị bệnh chuyên khoa của
Viện Sốt rét KST-CT Quy Nhơn, trong năm 2006-2007 và 6 tháng đầu năm 2008 đã ghi nhận có gần 160
ca bệnh nhiễm giun lươn đến khám và điều trị, theo dõi tại đây, phần lớn bệnh nhân đến từ các tỉnh
thành miền Trung và Tây Nguyên (Gia Lai, Đăk Lăk, Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên), một số khác ở
các tỉnh miền nam (Bình Phước, Tiền Giang). Không những bệnh nhân nhiễm giun lươn mà có thể đồng
nhiễm một số loại KST khác như giun móc, giun đũa chó, mèo, sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ, giun tóc,
giun đũa, giun kim và đặc biệt trên những bệnh nhân nhiễm giun lươn (có triệu chứng lâm sàng và chẩn
đoán huyết thanh ELISA dương tính voiứ hiệu giá kháng thể ≥ 1/1600) thường có hội chứng loét tiêu hóa
lên đến 65-72% (H.H.Quang và cs., 2007) đến 78% (H.H.Quang và cs.,2008); rất ít gặp bệnh nhân có hội
đây và tại Viện Sốt rét KST-CT Qui Nhơn thì hơn 50% số bệnh nhân mắc giun lươn có dùng thuốc kháng
acide dạ dày trước đó.
Lịch sử bệnh giun lươn và phân bố địa lý
Năm 1876, tác giả Normand ghi nhận có một loài giun nhỏ nằm trong thành hồi tràng, ống mật và
ống tụy khi giải phẩu tử thi 5 bệnh nhân bị tử vong do tiêu chảy không rõ nguyên nhân ở Cochin-China.
Tác giả Bavay đã đặt tên loài KST đó là giun ở trong phân (stercoral worm) với tên gọi là Anguillula
stercoralis hoặc giun đường ruột Anguillula intestinalis. Tiếp đó, người ta phát hiện 2 chủng cấu thành
nên những bộ phận khác nhau trong cùng một chu kỳ, gọi là heterogonic bao gồm cả con trưởng thành
(KST) và một thể tự do. Nhiễm loại KST này đã lan rộng hầu khắp các quốc gia trên thế giới, phổ biến
hơn là ở các vùng nhiệt đới châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ. Nhìn chung, bệnh giun lươn phân bố song
song với bệnh giun móc, mỏ nhưng tỷ lệ nhiễm bệnh ít hơn so với giun móc, mỏ. Ngược lại, tại một số
vùng khác thì bệnh giun móc, mỏ không xảy ra nhưng bệnh giun lươn rất phổ biến (hiện chưa có lý giải
thỏa đáng và vẫn là mối tranh luận của các nhà khoa học, đặc biệt các nhà KST)
Tại việt Nam, giun lươn được tìm thấy đầu tiên ở các người lính viễn chinh Pháp hồi hương từ
Việt Nam năm 1876, khi đó các bệnh nhân được ghi nhận các triệu chứng đầu tiên (trong y văn) là rối
loạn tiêu hóa, tiêu lỏng, đau bụng quặn từng đợt và tiêu chảy tái đi tái lại.
Hiện nay, theo phân loại về KST thì có khoảng 140 loài giun lươn, trong đó 52 loài thường gặp và
hầu hết các loại này đều có thể gây bệnh cho người ở các mức độ khác nhau. Tình hình nhiễm giun lươn
hiện nay như thế nào? Bệnh giun lươn lưu hành hầu khắp các vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, số ca mắc
bệnh chung khoảng chứng 35 triệu ca mỗi năm, tỷ lệ nhiễm có thể lên đến 40% ở một số vùng. Qua số
liệu nghiên cứu về giun lươn hiện có người ta nhận thấy nơi nào có giun móc là nơi đó có giun lươn, nhất
là vùng có khí hậu nóng ẩm, nhiều nơi trên thế giới. Ngoài ra, giun lươn còn xuất hiện ở những cộng
đồng di dân và các cựu chiến binh từ các nước có bệnh giun lươn lưu hành trở về.
-Trên thế giới: tại Châu Âu,giun lươn có nhiều ở các vùng có khí hậu bán ôn đới có độ ẩm cao
quanh năm; nhưng châu Mỹ, giun lươn có nhiều ở các nước Nam Mỹ vì nơi đây có khí hậu nhiệt
đới ẩm và tại tại Châu Á giun lươn có mặt ở hầu hết các quốc gia (Việt Nam, Lào, Campuchia,
Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Philipines, Malaysia…)
-Tại Việt Nam: tỷ lệ nhiễm chung giun lươn khoảng 1-2%, được xếp vào vùng nội dịch của dịch tễ
học giun lươn, tập trung nhiều ở các tỉnh phía nam Việt Nam như Củ Chi, Thủ Đức, Hóc Môn,
Long An, Bình Dương, Sông Bé (T.T Hồng và cs., 2006), các tỉnh miền Trung Tây Nguyên như
trong niêm mạc ruột non, phần trên của ruột non là nơi ưa thích nhất của chúng (favorite spot). Con giun
cái đẻ trứng trong niêm mạc ruột, trứng phát triển và tiếp tục đẻ trong vòng vài giờ sau khi phát triển một
cách hoàn chỉnh. Ấu trùng hình gậy (rhabditiform) đầu tiên được phóng thích ra trước, chúng di trú đến
thành ruột non rồi thải ra phân. Bản thân chúng rất hoạt động, tiêu hóa bằng cách ăn các mảnh vụn tế
bào chết xung quanh rồi phát triển dần trong phân và trong đất.
Dưới điều kiện tối ưu, khí hậu ẩm và ẩm với đầy đủ chất dinh dưỡng, chu kỳ tự do diễn ra, ấu
trùng thay lông một lần nữa và phát triển thành thể trưởng thành sống tự do trong 36 giờ. Những con
trưởng thành có thực quản dài, sau khi giao phối, con cái đẻ trứng và chúng phát triển thành ấu trùng giai
đoạn gây nhiễm (filariform) mà thể này có khả năng nhiễm và gây bệnh cho người (Chandler và cs.,
1961; Muller và cs., 1975; Beaver và cs., 1984).
Trong một vài điều kiện, chu kỳ ký sinh xảy ra, ấu trùng giai đoạn 1 (Rhabditiform) lột vỏ 2 lần để
tạo ra thể nhiễm trong vòng vài ngày; ấu trùng giai đoạn nhiễm sống trên bề mặt của lớp đất, trên các
thực vật và tồn tại khoảng vài ngày. Khi tiếp xúc với da người, chúng xâm nhập gây ra viêm da ở vi trí
xuyên vào. Chúng tấn công vào mạch máu nhỏ hoặc hệ mạch lympho, đi đến tim rồi đến phổi. Sau khi
xuyên qua phế nang, chúng đến hệ hô hấp, đến hầu họng rồi xuống thực quản đến ruột non. Quá trình lột
vỏ có thể diễn ra trong suốt quá trình di chuyển đến hệ hô hấp và/ hoặc khi chúng đến ruột non và trưởng
thành ở đó. Con giun cái đào hàm trong niêm mạc ruột và đẻ trứng trong thời gian 17 ngày kể từ khi ấu
trùng tiếp xúc/ xuyên da. Lượng trứng đẻ ra không vượt quá 50 trên một ngày. Một số tác giả cho rằng
không có giun cái và giun đực có khả năng parthenogenic (Chandler và cs, 1961; Muller và cs, 1975;
Beaver và cs, 1984).
Tuổi thọ của loài giun này khoảng 5 năm. Người và một số động vật có vú là vật chủ quan trọng
của giun lươn, nhiễm bệnh do quá trình ấu trùng tiếp xúc với da và tiêu hóa thực phẩm hoặc nước uống
có nhiễm mầm bệnh.
Chu trình tự nhiễm (autoinfection cycle)
Quá trình tự nhiễm là một khâu vô cùng quan trọng trong bệnh sinh của loài ký sinh trùng giun
lươn, tự nhiễm xảy ra khi tất cả hoặc một số ấu trùng thể rhabditiform cư trú trong thành ruột thay lông,
thoát vỏ thành ấu trùng rhabditiform giai đoạn 2, rồi thay đổi hình dạng thành ấu trùng giai đoạn nhiễm
(infective filariform larvae). Sau đó ra ngoài xâm nhập vào niêm mạc ruột non hay lớp da xung quanh hậu
môn, di trú đến phổi trước khi tự chúng vào ruột, nơi đó chúng phát triển thành con cái trưởng thành có
Liều lượng và cách dùng cần được sự hướng dẫn và tư vấn của thầy thuốc. Cách phòng bệnh là đi dép,
ủng để hạn chế khả năng ấu trùng xuyên qua da (xem thêm phần 2: chẩn đoán và điều trị ở kỳ sau)
Hình thái học giun lươn
Giun trưởng thành: gồm có ký sinh trùng và thể sống tự do với một vài điểm khác biệt ở con
giun cái về hình thái học.
- Thể sống tự do (Free-living forms): con giun cái chắc, khỏe, kích thước khoảng 1mm x 0.05mm với
thực quản ngắn có kích thước khoảng ¼ chiều dài cơ thể. Tử cung chứa khoảng 40 trứng đang phát
triển nằm bên trong, theo một hàng dài. Âm hộ mở ra gần điểm giữa cơ thể gần phía hấp khẩu bụng; con
giun đực giống như thể ký sinh trùng trưởng thành.
- Thể ký sinh trùng (Parasitic forms): Con giun cái mảnh, mỏng giống hình sợi chỉ, trong suốt, kích
thước 2.2mm x 0.05mm. Thực quản hình sợi, dài chiếm khoảng ¼ chiều dài cơ thể và có các điểm nối ở
ruột, lỗ mở ra ở đoạn ngắn sau đuôi. Các con giun đang chửa, dạng bào thai chứa khoảng 10-20 trứng
nằm đơn độc bên trong tử cung. Âm hộ mở ratương ứng với gai nhọn ở vị trí 1/3 sau của cơ thể; con
giun đực có dạng hình thoi, kích thước 0.7mm x 0.04mm, thực quản mỏng nhỏ. Hai gai nhọn tương
xứng, đuôi nhọn và sắc cạnh và cong xuống cố định ở bụng.
- Trứng (Eggs): hình vỏ sò mảnh, trong suốt, hình oval, kích thước 50-60 x 35-40micron. Chúng chứa
các ấu trùng dạng rhabditiform phát triển đầy đủ, đẻ trứng trên biểu mô niêm mạc, di trú vào trong thành
ruột và cuối cùng đào thải qua phân. Trứng hiếm khi hoặc chưa bao giờ được nhìn thấy trong phân bình
thường nhưng đôi khi tìm thấy phôi thai phát triển đầy đủ trong phân bệnh nhân đang tiêu chảy.
- Ấu trùng dạng hình que, gậy (Rhabditiform larvae): kích thước 380micronx20micron, khoang miệng
có thực quản ngắn, một mầm sinh dục hình trứng rất to ở phía bụng gần giữa ruột non và đuôi nhọn.
- Ấu trùng giai đoạn gây nhiễm (Filariform larvae) có hình dáng thanh mảnh, mềm mại, kích thước
630micron x16micron và thiếu một vỏ bọc. Thực quản dài kéo đến tận chiếm gần ½ chiều dài cơ thể,
đuôi không nhọn với một vết khía hình chữ V.
Làm thế nào nghĩ đến bệnh giun lươn và triệu chứng bệnh giun lươn ?
Bệnh giun lươn có thể gây ra các hình thái bệnh khác nhau,song chúng ta thường gặp nhất các
thể sau đây: [1] Viêm da do sự di chuyển của ấu trùng giai đoạn nhiễm thể chưa trưởng thành đi xuyên
qua da, thường gọi là nhiễm trùng dưới da; [2] viêm phổi có triệu chứng từ nhẹ đến nặng có thể xảy ra
trong suốt quá trình ấu trùng di chuyển trong phế nang phổi; [3] viêm niêm mạc tiêu hóa, tiêu chảy đi kèm
tình trạng gầy mòn và sụt cân đáng kể.
bệnh lý nào đó làm miễn dịch cơ thể họ suy yếu thì giun lươn sẽ bùng lên với nhiều triệu chứng nặng nề
thậm chí có thể đe dọa tính mạng.
+ Nhóm có biểu hiện tổn thương ở đường tiêu hóa và da:
* Các biểu hiện ở đường tiêu hóa thường gặp là:
- Đau bụng: có thể đau ở bất cứ vị trí nào của bụng nhưng thường hay đau ở vùng trên rốn & vùng
bên phải vì vậy dễ bị chẩn đoán nhầm là đau dạ dày và loét tiêu hóa, đau do bệnh lý của gan mật.
- Đầy hơi, trướng bụng, khó tiêu, ậm ạch, ăn uống không ngon miệng, sụt cân; nếu nhiễm nặng
có thể gây liệt ruột, xuất huyết tiêu hóa và thủng ruột
- Tiêu chảy, đại tiện phân mỡ, phân rất hôi tanh
- Ngứa hậu môn (chú ý autoinfection)
* Các biểu hiện ở da thường là:
- Đường ngoằn nghèo ở da, thường ngang thắt lưng & quanh hậu môn
- ngứa da và nổi mề đay dị ứng kéo dài
Tam chứng nhiễm giun lươn = Tiêu chảy + Đau bụng + Nổi mề đay
+ Nhóm nhiễm đa cơ quan: thường hay gặp ở những người có tình trạng miễn dịch cơ thể suy yếu
như: đái tháo đường, suy dinh dưỡng, nghiện rượu, dùng các loại thuốc ức chế miễn dịch như corticoid,
thuốc điều trị ung thư, bệnh nhân bị ung thư, nhiễm HIV, suy gan nặng, suy thận mạn,… Ở nhóm này tình
trạng nhiễm giun diễn tiến nặng, gây bệnh cảnh phức tạp, nguy hiểm, nếu không được chẩn đoán và
điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
Các triệu chứng nhiễm giun lươn nặng bao gồm:
- Tiêu hóa: gây viêm ruột, liệt ruột, tắc ruột, xuất huyết tiêu hóa, thủng ruột.
- Hô hấp: gây viêm phổi mô kẻ, xuất huyết phổi, suy hô hấp, chẩm xuất huyết các phế nang.
- Thần kinh: đây là một trong những tổn thương nặng nề, nguy hiểm nhất và gây tử vong của bệnh nhiễm
giun lươn. Các bệnh cảnh có thể gặp là viêm màng não, viêm não, abces não, động kinh, rối loạn tri giác,
…
- Da: gây hội chứng ấu trùng di chuyển ngoài da tạo ra những đường đỏ, chạy ngoằn ngoèo dưới da,
ban xuất huyết, chấm xuất huyết dưới da.
- Cơ quan khác: phì đại hạch, viêm nội tâm mạc, viêm tụy, suy gan, suy thận, đau khớp, viêm khớp, đau
cơ, phù toàn thân, viêm não màng não, động kinh cục bộ , rối loạn tri giác.
Nhìn chung, các triệu chứng học chung của nhiễm giun lươn:
Nói tóm lại, giun lươn là bệnh ký sinh trùng quan trọng song hiếm khi nghĩ đến trên một bệnh
nhân có tam chứng như trên, dẫn đến chẩn đoán và điều trị lạc hướng và tốn kém, suy giảm sức khỏe
bệnh nhân. Tuy nhiên, hình thái bệnh cũng đang có chiều hướng thay đổi và làm lệch chẩn đoán kinh
điển rất nhiều_đó chính là các thể bệnh được đề cập ở trên.