Đề tài giáo dục chương trình địa phương_Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn - Pdf 25

_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
MỤC LỤC
Mục lục 1
Lời ngỏ 2
Phần I. Mở đầu 3
Lí do chọn đề tài 3
Phương pháp – Nhiệm vụ nhiên cứu 3
Đóng góp của quá trình nghiên cứu 4
Phần 2. Nội dung 4
Khái quát văn hóa người Nguồn ở Minh Hóa 4
Lịch sử hình thành 4
Đặc điểm không gian văn hóa 7
Chủ thể văn hóa 8
Những nét cơ bản về văn hóa người Nguồn 9
Rằm tháng 3 – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn 24
Kết luận 30
Tài liệu tham khảo 32
LỜI NGỎ
“Ai lên Minh Hóa quê mình
Chè xanh mật ngọt thắm tình quê hương”
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
1
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
Đó là lời mời gọi thân thương từ Minh Hóa, nơi có Hội rằm tháng ba – Lễ hội tìm
duyên của người Nguồn trên quê hương Minh Hóa.
Rằm tháng ba, ai dẫu chỉ một lần đến thôi cũng sẽ không bao giờ quên được
những ấn tượng đặc biệt của nó. Đó là vẻ huyền ảo của ánh trăng rằm miền sơn cước
quyện trong tiếng hát đúm, sắc bùa, làn điệu hôi lên (những điệu hát giao duyên của
người Nguồn) những là điệu thân thương để bày tỏ tình yêu đôi lứa
Chơi đêm trăng, bạn sẽ thấy những nam thanh nữ tú với những bộ áo quần đẹp
nhất với những chiếc ô thổ cẩm đủ sắc màu, dưới ánh trăng thanh, hiu hiu gió quạt, họ

lễ hội chỉ có riêng tại Minh Hóa.
Tự hào về quê hương, hướng về cội nguồn và mong muốn được “khoe khoang”
nét văn hóa địa phương với mọi người, đồng thời cũng là cơ sở để chúng tôi được tìm
hiểu thêm về văn hóa nguồn cội, làm tư liệu cho dạy học văn hóa – lịch sử địa
phương… Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài: Rằm tháng 3 – Nét đặc sắc trong văn hóa
truyền thống người Nguồn.
2. Phương pháp – Nhiệm vụ nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tiểu luận này, chúng tôi đã tìm hiểu, điều tra thực tế, tiếp xúc lấy
thông tin từ những người lớn tuổi. Đặc biệt chúng tôi được tham khảo các tài liệu
nghiên cứu của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đinh Thanh Dự, tác giả Hoàng Mai,
diễn đàn Minhhoa Info.com. Sau đó dùng phương pháp thống kê, phân tích tài liệu,
so sánh đối chiếu giữa tài liệu và thực tế hiện nay…
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu khái quát đặc điểm tự nhiên – xã hội của người Nguồn
- Đi sâu vào nghiên cứu hội rằm tháng ba, các nét văn hóa đặc sắc của người
Nguồn trong hội rằm
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
3
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
3. Đóng góp mới của quá trình nghiên cứu.
Đây là Tiểu luận nghiên cứu về hội rằm tháng ba ở Minh Hóa. Đi sâu vào những
nét văn hóa đặc sắc của người Nguồn trong lễ hội. Hy vọng đó sẽ là tư liệu tham khảo
cho mọi người tìm hiểu, nghiên cứu, là món ăn tinh thần cho những ai đam mê văn
hóa địa phương và là tư liệu cần thiết cho quá trình giảng dạy văn hóa – lịch sử địa
phương.
PHẦN II: NỘI DUNG
1. Vài nét khái quát văn hóa người Nguồn ở huyện Minh Hóa.
a. Lịch sử hình thành.
Người Nguồn là tên gọi cộng đồng người gồm 3,5 vạn nhân khẩu, sinh sống ở

gian "Người Nguồn và người Mày là hai anh em con trai một nhà mà ra". Chuyện kể
rằng: Ngày xưa cha mẹ sinh ra hai người con trai, hỏi vợ, lập gia đình cho con xong
thì cha mẹ chết cả. Vợ chồng người anh chiếm hết tài sản của cha mẹ, ở lại vùng đất
bằng làm ăn già có, sinh con cháu thành người Nguồn. Vợ chồng người em chỉ lấy
được một cuốn sách của cha, đem nhau lên núi cao ở làm ăn, sinh con, sinh cháu
thành người Mày, tức là người Chứt. Từ đó, họ cho rằng, Người Chứt và người Nguồn
có quan hệ huyết thống giòng tộc với nhau. Trong dân gian người Nguồn còn lưu
truyền những câu ca dao đầy tình nghĩa:
Mạ khinh con Cọi ở hung
Thiếng ăn, thiếng chốn cúng chung ngoài làng
Nghĩa là
Chớ khinh con Cọi ở hung
Tiếng ăn, tiếng nói cùng chung ngoài làng
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
5
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn

Mạ khinh con Cọi ở hung
Thiếng ăn, thiếng chốn cúng ngoài làng thua xa
Nghĩa là
Chớ khinh con Cọi ở hung
Tiếng ăn, tiếng nói cùng ngoài làng thua xa
Như vậy, có thể nói từ xa xưa, tại vùng Cơ Sa và Kim Linh này đã có người bản
xứ mà người địa phương gọi là người Cọi sinh sống. Có lẽ trong quá trình biến đổi
lịch sử đã phân hóa thành người Rục tiếp tục ở hang lèn, người Mày ở trên các sườn
núi đầu ngọn nước các khe suối, dưới chân núi Giăng Màn, người Sách ở trong các
hung dưới chân các dãy lèn và người ngoài làng là người Nguồn ở trên các bồn địa
nhỏ và thung lũng hẹp. Rồi người Tàu, người Lào, và chủ yếu là người Kinh từ các
nơi đến đây đã cộng hôn, cộng cư, cộng canh sinh sống với người Cọi, đem "họ" và
văn hóa giòng họ “người cha đẻ” đến cho người Cọi – “người mẹ đẻ” - được người

phố Đồng Hới bạn có thể đến huyện Minh Hóa bằng hai con đường: Con đường thứ
nhất từ Đồng Hới chạy theo quốc lộ 1A về thị trấn Ba Đồn huyện Quảng Trạch, sau
đó chạy theo quốc lộ 12A lên Minh Hóa. Con đường thứ hai chạy theo đường Hồ Chí
Minh, xuất phát từ Cộn chạy hướng Bắc khoảng 120 km là tới nơi, với con đường này
sẽ thật hấp dẫn cho những ai đi du lịch. Dọc theo đường xuyên Á, bạn sẽ lên cửa khẩu
Cha Lo nơi có chợ biên giới giao thương với nước bạn Lào.
Thị trấn Quy Đạt là trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của huyện, hàng năm
vào hội rằm tháng ba, nhân dân khắp các xã của huyện và người dân ở các huyện khác
trong tỉnh tập trung về đây để thưởng thức không khí lễ hội nhộn nhịp với những trò
chơi dân gian, những điệu hôi lên đằm thắm mượt mà, ẩm thực đặc sắc cơm pồi và ốc
đực, chè xanh và mật ong rừng của huyện bởi thế mới có câu ca:
"Thà rằng đau ốm mà nằm.
Ai lại nở bỏ hội rằm tháng ba.”
Tuy dân số không đông, nhưng Minh Hoá lại có nhiều dân tộc anh em cùng chung
sống. Họ đã góp phần làm nên nét phong phú và độc đáo trong đời sống văn hoá
huyện nhà. Năm 2002, một đoàn sưu tầm gồm 5 cán bộ Viện Âm nhạc, kết hợp với
một số cán bộ sở Vǎn hóa Thông tin tỉnh Quảng Bình đã bắt đầu chuyến điền dã từ
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
7
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
ngày 24/4 đến ngày 1/5/2002 tại nhiều xã của huyện Minh Hóa. Với sự phong phú về
làn điệu, độc đáo về thể loại và phong cách diễn xướng, đoàn sưu tầm đã tìm hiểu kỹ
về từng thể loại, đồng thời tổ chức thu thanh và ghi hình tại chỗ những thể loại âm
nhạc dân gian của người Nguồn và phân loại ra đó là các làn điệu: Hôi lên, sắc pùa, hò
thuốc cá, hát đúm…
c. Chủ thể văn hóa người Nguồn.
Theo các tài liệu nghiên cứu thì người Nguồn ở huyện Minh Hóa sống xen kẻ với
người Kinh và một số dân tộc khác như Vân kiều, Bru, Khùa, Mày, Rục, Sách. Người
nguồn có khoảng 3,5 vạn người và phân bố khắp 16 xã thị trấn trong huyện.
Với tỷ lệ đông, văn hóa người Nguồn có những bản sắc riêng và nó ảnh hưởng đến

bằng lưới đày còng, mác, chó săn. Một bản một làng lập thành phường săn sắm một
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
9
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
vàng lưới gồm năm bảy chục tay lưới cùng nhau vào rừng tìm nơi hiểm yếu căng lưới
ra, lấy đày chống lên, chọn chục chàng trai đem chó săn đuổi, còn tất cả ngồi nấp kín
ở hai đầu lưới. Khi đoàn săn vừa đánh cồng, vừa đuổi chó săn đuổi con thú chạy vào
vàng lưới, thì cả làng xông ra đuổi con thú khiến cho nó chỉ có cách đâm thẳng vào
lưới, lưới sập, người chỉ dùng mác (giáo) đâm chết con thú, đốt lửa nướng, mổ thịt
chia nhau đem về ăn. Nghề đi săn này cũng được ghi lại trong bài dân ca "Ti mán" (Đi
săn) của văn học dân gian người Nguồn.
e. Nghề lấy mật ong rừng
Vào mùa tháng 3 đến tháng 6 âm lịch hàng năm, nam giới người Nguồn vào rừng
tìm oong mạch (ong mật) đánh lấy mật. Ong mật làm tổ dưới các cành cây cao như
cây ngá, cây trôi, cây seng Nếu tổ ong mới ở chưa có mật thì lấy dây buộc vào cội
cây, nhét một cành cây vào làm nêu, báo cho người sau biết, tổ ong trên cây đã có chủ.
Khi tổ ong đã có mật, dùng dây bắc đày, dùng bối lá bó ỏn (đuốc) đốt lấy khói đuổi
con ong đi mà lấy mật.
Làm nghề này hay gặp tai nạn do đứt dây, gẫy cành gây chế người. Điều này cũng
được ghi lại trong các câu chuyện dân gian người Nguồn như truyện "Sự tích hang mụ
tá Pạc" (Sự tích động bà đá Bạc)
f. Công cụ sản xuất
Ngoài cày, bừa, cưa, đục tiếp thu kỹ thuật tiến bộ của người Kinh ra, người Nguồn
dùng các công cụ sản xuất phù hợp với nghề sản xuất của họ, đó là rựa rìu, chày trỉa,
ống trỉa lúa rẫy, chày giã tèng bằng gỗ tạp, dùng xong là vứt ngay tại rẫy, chôống
chôồng, troi, pài, v.v
Về đồ đong đựng thì có oi, teo, típ, gié,(dụng cụ đựng), giôống (nông), thúm cúm
(nia)…
g. Văn hóa vật chất
*Ẩm thực

Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
11
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
Nhún lên, nhún xuống một hồi ăn sức ăn
Các món ẩm thực khác được nhắc đến như sau.
Trôông cho mau tếng mùa pồi
Nhớ con ôốc tực tang ngồi trên vâm
Nghĩa là.
Trông cho mau đến mùa pồi
Nhớ con ốc vặn đang ngồi trên mâm

Mặt trời tá các tôộng ngồi
Ti nô cúng nhớ cơm pồi, thâu lang.
Nghĩa là
Mặt trời đã gác bên đồi
Đi đâu cũng nhó cơm pồi, rau khoai.
* Ở
Người Nguồn định cư thành từng bản, từng làng. Những địa danh quen thuộc là:
Phôốc Lác, Sạt, Lang Cầu, Ang, Pắt Nàng, Lim, Cụng, Phôốc Dứa, Lang Ni, Xét, Lồ
Hang, Trem, Pộôc, Thón, Sẩm, Pặt, Gieo, Các bản này hợp thành tổng Cơ Sa và
Kim Linh ở trên cao nguyên Quy Đạt . Nhưng người nguồn có tập quán du canh du cư,
thích thì ở, không thích thì bỏ bản, bỏ làng đến nơi khác lập bản, lập làng làm ăn sinh
sống.
Trước Cách mạng tháng Tám, trừ một số nhà giàu làm nhà cặp còn đa số ở nhà pè.
Nhà pè là loại nhà nền đất, toàn bộ cột trồng xuống nền nhà sâu từ 50 đến 60 cm và
nện chặt. Nếu nhà 3 căn thì có 4 vài (vì), còn nhà 2 căn thì có 3 vài. Mỗi vài có 2 cột
chái (trước và sau), 2 cột mê (trưóc và sau), và một cột doóc (cột nóc), và một páng sa
(băng ngang) gác lên hai đòn tay mệ ngay hai đầu cột mệ. Có hai mái chính (trưóc và
sau) hình thang cân, mỗi mái có ba đòn tay: một đòn tay trái gác lên đầu các cột mệ,
một đòn tay chồng 9 chồng 10 gác lên đầu các páng sao cho song song với đòn tay

13
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
thầy cúng tế thần linh, tang lễ the "thọ mai gia lễ" Nhưng cơ bản cho đến nay,
người Nguồn vẫn bảo tồn và phát huy những phong tục tập quán sinh hoạt văn hoá
tinh thần của mình.
* Tín ngưỡng
Pụt: Là vị thần linh trên hết được người Nguồn thờ cúng để cầu tự tài lộc, cầu thọ.
Theo tâm linh người Nguồn được người già kể lại: Pụt là người tài giỏi đức độ biến
hoá không lường. Pụt đã tạo ra con người. Sau đó, ai không có con đến chỗ Pụt cầu
xin Pụt có thể biến thành người hiền từ giúp người lương thiện gặp hoạn nạn,trừng
trị kẻ tham lam độc ác. Pụt hoá thành tượng đá bên chóp lèn ông ngoi. Sau đó dược
người Nguồn mang xuống thác Dác Giòn, Lập bàn thờ Pụt tại đó. Cho đến nay thác
Dác Giòn được gọi là thác Pụt. Hằng năm, vào ngày rằm tháng ba âm lịch, hàng tổng
tổ chức làm chay tế cho Pụt, cầu cho mưa thuận gió hoà dân làng bình yên làm ăn.
Các thầy cúng tế dịch chữ Pụt thành Phật, với hiệu mời là "Thập nhị Đức Phật như
lai", rồi sau đó làm nhà thờ Pụt gọi là nhà Chùa (Tân Kiều – Yên Hóa), nên làm cho
nhiều nhà nghiên cứu lầm tưởng người Nguồn cũng theo đạo Phật như người Kinh.
Nhưng người Nguồn thờ Pụt như là vị thần tổ đã sinh ra người mình, luôn luôn ở bên
mình, giúp người mình mọi điều tốt lành.
Nhân thần: Là những người bản xứ - người Cọi - lương thiện, tài giỏi, có công
giúp vua đánh giặc như ông Đỏ mỏ, hoặc người đi làm ăn ngộ nạn như ông Lâm Vọ,
ông Lục Cục Họ chết hóa thành thần linh được người nguồn lập miếu thờ cúng
được vua

phong sắc thần "đương cảnh chi thần" hợp thành hệ thống thần giang sơn
bản mệnh của bản, làng, phù hộ cho mưa thuận gió hoà, dân làng bình yên làm ăn
thịnh vượng. Mỗi làng bản ngươi Nguồn đều lập miếu thờ các Nhân thần. Theo quan
niệm của người Nguồn, nơi nào có người ở làm ăn thì nơi đó có nhân thần. Có nhân
thần đựợc vua sắc phong, nhưng phần nhiều không được vua sắc phong mà vẫn được
người Nguồn thờ cúng như Mụ Tá Pạc, Mệ Ngó, Cha Ngan, Ôông Mo, Thằng Xích

Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
15
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
tết làm lễ "ngước ông vãi" mời ông bà tổ tiên về bàn thờ, bàn thờ được mở của cả đêm
ngày, trong các ngày 29, 30, mùng 1, 2 tết. Mỗi ngày 2 buổi trưa và chiều gác cơm
canh cho ông bà tổ tiên ăn bữa, đến chiều ngày mồng 2 tết làm lễ "Tưa ông vãi" tiễn
ông bà tổ tiên quy hồi phần mộ, quy hồi bổn sòng, của bàn thờ được đóng lại mới hết
cúng tết nguyên đán. Cho đến nay người Nguồn vẫn thờ cúng ông bà tổ tiên mình như
vậy, không cần có mâm ngũ quả trong ngày tết nguyên đán như các nơi khác.
Thành Hoàng làng: Từ xa xưa người Nguồn chỉ chỉ thờ Pụt bằng bàn thờ ở thác
Pụt và ở nhà Chùa, thờ nhân thần và thờ Giang sơn bản mệnh tại miếu và lùm thần,
thờ ông bà tổ tiên tại nhà thờ con cháu. Còn văn hoá đình làng và thờ thành hoàng
làng thì mới có khoảng năm 1920 về sau, như đình làng Quy Đạt, Yên Đức, và Kim
Bảng khánh thành năm 1925. Theo văn bản văn tế bằng chữ Hán có được thì thần thờ
tại các đình làng đó là: Đức vua Cao Các Mạc Sơn, Đức vua Cao Sơn tằng phong
phúc, đức đại vương và các ông "Sung hậu thần", là ông thuỷ tổ của các họ trong làng.
h. Phong tục
Tang chế, ma chay
Người Nguồn lập bàn thờ đặt phục vị người chết thờ cúng cơm ngày hai buổi cho
người chết "ăn bữa" suốt 24 tháng, con cháu để tang khó cho tới khi làm lễ mãn tang,
hết khó, cho người chết nhập tổ, lên bàn thờ cúng ông bà tổ tiên mới thôi cúng cơm.
Cưới xin
Ngày xưa, sau lễ sế cấy (lễ ăn hỏi), con trai phải đi làm rể ba năm mới xin cưới,
cưới xong phải làm rể thêm một thời gian nữa mới xin được rước du (rước dâu). Đến
lúc đó, nhà trai mới làm lễ ngước cấy (đón vợ) về nhà chồng. Từ đó vợ chồng mới thật
sự ăn ở với nhau. Nay người Nguồn đã bỏ làm rể, mà vừa cưới và ngước cấy vào một
ngày luôn.
Sinh đẻ
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
16

_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
Đây cũng là dịp để con cái ở xa nhà trở về báo hiếu cha mẹ, là dịp để anh em gặp
nhau trò chuyện, hàn huyên. Mặc dù, theo thời gian và nhịp sống sôi động và hiện đại
của xã hội, nhưng cứ mỗi độ xuân về không ai bảo ai vẫn nhớ và thực hiện đạo hiếu
của mình, điều này thể hiện ý thức cũng như một hành động đẹp mang đầy giá trị
nhân văn sâu sắc. Lễ này không biết có từ bao giờ, nhưng trải qua bao đời nay người
Nguồn coi đó là một nét đẹp ứng xử, là thước đo đạo đức của cá nhân trong cộng đồng
làng xã mình. Dù nhịp sống có nhiều đổi thay song trong ý thức mỗi người dân nơi
đây luôn coi đó là một truyền thống tốt đẹp, lâu đời cần được bảo tồn, lưu giữ và phát
huy.
Tục lễ ăn tết, rằm và hội chợ rằm tháng Ba: Đây là một lễ hội chỉ có ở người
Nguồn, được ghi lại sâu sắc trong văn học dân gian người nguồn:
Trôông cho tếng rằm tháng pa.
Tở Kinh Lim cầu đảo, Cơ Sa lệ chùa.
Nghĩa là
Trông cho đến rằm tháng ba.
Để Kim Linh cầu đảo, Cơ Sa lễ chùa.

Chẳng thà tau ốm má nằm.
Khôông ai má lác chợ rằm tháng Pa.
Nghĩa là
Thà rằng đau ốm mà nằm.
Không ai mà bỏ chợ rằm tháng ba.
Tục chữa bệnh: Người Nguồn chữa bệnh cho người và gia súc bằng thổi phù
phép và cỏ nam cũng là một phong tục văn hoá đẹp của người Nguồn, được ghi lại
trong dân ca "Tón thí ăn thâu, tâu thí óong cỏ"
Nghĩa là: Đói thì ăn rau, đau thì uống cỏ
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
18
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn

không khí lễ hội nhộn nhịp với những trò chơi dân gian, những điệu hôi lên đằm thắm
mượt mà, ẩm thực cơm pồi và ốc tực, chè xanh và mật ong rừng của huyện bởi thế
người Nguồn mới có câu ca:
"Thà rằng đau ốm mà nằm.
Ai lại nở bỏ hội rằm tháng ba.”
Tuy dân số không đông, nhưng người Nguồn lại có nhiều dân tộc anh em cùng
chung sống. Họ đã góp phần làm nên nét phong phú và độc đáo trong đời sống văn
hoá huyện nhà đồng thời sáng tạo ra những thể loại âm nhạc dân gian mang dấu ấn
riêng của người Nguồn đó là:
Hò thuốc cá
Đây là loại dân ca phổ biến ở các xã Quy Hóa, Trung Hóa, Tân Hóa, Minh Hóa và
Xuân Hóa. Họ ca hát khi giã, hoặc đâm nhỏ cây tèng chế thành thuốc thả xuống khe
suối để bắt cá.
Hò thuốc cá có nhịp điệu linh hoạt, khẩn trương theo nhịp chày giã thuốc. Khi hò
thường có người hò cái và người hò con. Hò cái hát vế xướng, hò con hát vế xô, vế xô
bao giờ cũng kết thúc bằng câu “Hôi lên là hôi lên”, còn vế xướng chứa đựng tất cả
nội dung của cuộc hát.
Hò kéo Dôốc (Nốôc)
Cũng như “hò thuốc cá” hò kéo Dôốc gắn với công việc lao động của người dân
vùng làng Cổ Liêm xã Tân Hóa. Nơi đây vào mùa mưa hàng nǎm thường bị nước lũ
tràn ngập cả vùng. Để chống chọi với thiên tai người dân phải vào rừng chặt cây làm
thuyền mà địa phương gọi là cái Dôốc. Khi Dôốc đã đẽo xong phần mộc, họ nhờ vào
sự giúp đỡ của dân làng để kéo Dôốc từ trên rừng về nhà. Họ vừa kéo vừa hò suốt dọc
đường bằng những lời thơ ứng tác, những câu đố vui, châm chọc nhau, những lời đối
đáp nam nữ
Hát Đúm - Ví.
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
20
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
Hát Đúm - Ví là hình thức hát giao duyên phổ biến ở người Nguồn. Người Nguồn

vào dịp tết, còn hát chúc vào những dịp mừng nhà mới, ngày cưới xin và còn có
những bài nhạc buồn dành riêng cho đám hiếu. Tốp hát Chúc trò thường khoảng từ 4
đến 5 người vừa hát vừa đảm nhiệm phần nhạc cụ. Nhạc cụ tốp chúc trò gồm: 2 đôi
xụp xoảng (xủm xỏa), 1 mõ, 1 tiu và 1 trống con.
Hát Chúc trò gồm nhiều bài bản như: Giáo trống, giáo trò, chúc nǎm mới, mừng
nhà mới, ba hồi nhạc vui, bài nhạc đi đường họ có thể hát kéo dài hay rút ngắn, hát
nhiều bài hay ít bài còn tùy thuộc vào sự hứng khởi, sự tiếp đón và nhu cầu thưởng
thức của gia chủ. Chẳng hạn như:
Ba hồi nhạc vui
Chúc nǎm mới
Mừng nhà mới
Bài nhạc đi đường
Hát Kiều
Đây là lối hát kể truyện Kiều với làn điệu âm nhạc rất riêng của vùng Yên Hóa.
Thường người hát vừa tự đệm đàn đáy vừa hát và có một người đệm trống con. Hát
Kiều được hát vào những dịp lễ hội, giỗ, tết hoặc những lúc nhàn rỗi, bạn bè, làng
xóm cùng ngồi hát chơi. Hát Kiều tính chất thư thái, ngâm ngợi, tiết tấu thay đổi
phong phú.
Hát ru con (tư con)
Người Nguồn cũng như nhiều tộc người khác ở Việt Nam đều có tiếng ru riêng
mang đậm sắc thái của dân tộc mình, tiếng ru của người Nguồn thiết tha, tình cảm,
trong sáng, ngoài sự kết hợp lời ca gần gũi với trẻ nhỏ, những bài đồng dao để dỗ
dành cho trẻ ngủ, còn có những lời ru giãi bày tâm tư tình cảm của người phụ nữ xưa.
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
22
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
Hát Bội.
Hát Bội là hình thức hát múa dân gian phổ biến của người Nguồn ở xã Tân Hóa.
Người dân ở đây có quan niệm rằng, những lời hát những điệu múa trong hát bội là
tượng trưng cho tiên trên trời xuống trần gian, ban cho trần gian những điều may mắn,

còn trong cuộc sống cũng như trong công việc thường ngày.
3. Rằm tháng 3 – Nét đặc sắc trong văn hóa người Nguồn.
Từ xa xưa, người dân Minh Hóa đã dặn lòng với nhau rằng:
Thà rằng đâu ốm mà nằm
Ai mà nở bỏ chợ rằm tháng ba
Ai đã từng đến dự lễ hội rằm tháng ba ở Minh Hóa, dẫu chỉ một lần thôi cũng sẽ
không bao giờ quên được những ấn tượng đặc biệt của nó. Đó là vẻ huyền ảo của ánh
trăng rằm miền sơn cước quyện trong tiếng hát đúm (một điệu hát giao duyên của
người Nguồn) bày tỏ tình yêu lứa đôi
Từ sớm tinh sương của ngày rằm, các đoàn đại diện cho các làng, xã cùng nhau
đến vùng thác Pụt (Dác Giòn) ở Dốc Cáng, xã Yên Hóa. Tại đây họ dâng hương cúng
Pụt (như ông Bụt trong truyện cổ tích). Chính từ nơi đây đã xuất hiện lễ hội rằm tháng
ba Minh Hóa.
Người già còn kể lại: Ngày xưa có ba anh em nhà nọ lên lèn ông Ngoi tìm mật
ong. Họ đi lạc vào một hang động. Trong đó có cơ man nào là tượng Pụt bằng đá
Ba anh em họ mỗi người vác một tượng về. Đến thác Dác Giòn họ xuống suối
tắm. Nhưng khi vác tượng lên lại để trở về nhà thì không tài nào vác được nữa. Mãi
sau họ mới vác được một tượng về đến Hón Chàn (Hói Tràn) và đặt ở đó. Từ đó đến
nay dòng thác mà ba anh em nhà kia tắm và để tượng Pụt lại, được gọi là thác Pụt.
Vậy là mỗi năm, cứ đến lễ hội rằm tháng 3 mọi người lại đến đây cúng Pụt cầu tự, cầu
tài, cầu lộc chuẩn bị cho một lễ hội rằm mới.
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________
24
_____________ Rằm tháng ba – Nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống người Nguồn
Người già ở Minh Hóa cho biết ngày xưa, lễ hội rằm tháng ba của đồng bào người
Nguồn ở Cơ Sa, Kim Linh gồm ăn tết rằm tháng 3, hội chợ rằm tháng 3 vào ngày 6
(tức là ngày 16-3 âm lịch). Ngày rằm đó, tất cả mọi nhà của người Nguồn đều làm cỗ
bàn, xôi thịt cúng ông bà tổ tiên. Dân làng ở tổng Cơ Sa đem xôi oản lên chùa cúng
Bụt cầu tự, cầu tài, cầu lộc cho mọi nhà yên vui, thịnh vượng.
Thực hiện: Đinh Ngọc Tú – Th PHú Nhiêu_______________________________


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status