ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
HOÀNG THỊ HỒNG NGA
XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG THỊ TIẾN
Trong chín năm kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp (1945-
1954), vấn đề kháng chiến về mặt văn hóa đƣợc đặt ra nhƣ một trong những bộ
phận đấu tranh vô cùng quan trọng của nhân dân ta. Đồng chí Trƣờng Chinh khẳng
định “kháng chiến về mặt quân sự, chính trị, kinh tế chƣa đủ gọi là kháng chiến toàn
diện. Phải kháng chiến về mặt văn hóa nữa”[33, tr.46]. Sự nghiệp văn hóa đƣợc
2
Đảng coi là một những mặt trận kháng chiến quan trọng, không thể thiếu đƣợc. Để
củng cố chính quyền, để kháng chiến thắng lợi, Đảng cần lãnh đạo chặt chẽ văn hóa
yêu cầu văn hóa phải tham gia chính trị, tham gia kháng chiến.
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, với hạt nhân ban đầu là
bản “Đề cương văn hóa Việt Nam” (1943) và Hội Văn hóa cứu quốc, chúng ta đã
xây dựng nên một nền văn hóa mới của chính thể nhà nƣớc mới. Quá trình xây
dựng nền văn hóa mới đó là rất bền bỉ và gian khổ, là quá trình Đảng lãnh đạo văn
hóa cƣơng quyết chống lại văn hóa phản động, vừa phê phán, thuyết phục những
quan điểm văn hóa lạc hậu, chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa. Đồng thời tiếp thu
những ảnh hƣởng của các mô hình, các nguyên tắc xây dựng nền văn hóa mới mang
tính chất vô sản nhƣ Liên Xô, nền văn hóa dân chủ mới nhƣ Trung Quốc để xây
dựng nên những nền tảng cơ bản nhất cho đƣờng lối lý luận văn hóa Việt Nam
trong giai đoạn mới. Công tác tổ chức các lĩnh vực văn hóa cụ thể cũng đƣợc đặt ra
phù hợp với từng thời kỳ kháng chiến, lôi kéo đƣợc đông đảo đội ngũ các nhà văn
hóa, các văn nghệ sĩ phục vụ công tác xây dựng nền văn hóa mới.
Quá trình xây dựng nền văn hóa mới trong kháng chiến chống Pháp đã đạt
đƣợc một số thành tựu căn bản đáng ghi nhận. Đây đƣợc xem nhƣ là một thời kỳ
bản lề, có tính chất quyết định xây nền, dựng móng cho một nền văn hóa Việt Nam.
Tìm hiểu, nghiên cứu về các nội dung, thành tựu của nền văn hóa mới thời kỳ này
sẽ rút ra đƣợc nhiều bài học về lý luận cũng nhƣ thực tiễn quan trọng đối với lịch
sử, đặc biệt là đối với chính sách xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân chủ, tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay. Những bài học lý luận về văn hóa, cũng nhƣ
những bài học vận động của thực tiễn lịch sử cũng góp phần rút ra đƣợc nhiều nhận
sách biên niên, tổng kết lịch sử của ngành nhƣ:
- Ban tƣ tƣởng, văn hóa TW, Lịch sử biên niên công tác tư tưởng, văn hóa
của Đảng Cộng sản Việt Nam, 03 tập, NXB CTQG, 2005.
- Bộ VH-TT, Năm mươi năm ngành văn hóa thông tin Việt Nam, Hà Nội,
1995.
Các sách trên chủ yếu viết theo lối biên niên sự kiện, nêu bật những sự kiện,
những cột mốc lịch sử đáng ghi nhớ của ngành văn hóa, thông tin Việt Nam từ 1945
4
đến nay. Trong đó, có điểm qua các sự kiện của văn hóa thông tin nƣớc ta thời kỳ
1945-1954, nhƣng cũng chỉ là ở dạng biên niên, việc phân tích, đánh giá, tổng kết
rất hạn chế.
Một hƣớng đề tài nữa thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
cũng nhƣ nghiên cứu sinh, sinh viên, học viên cao học khi làm luận án luận văn tốt
nghiệp. Đó là lựa chọn nghiên cứu về các yếu tố riêng lẻ nhƣng có giá trị nổi bật
trong nền văn hóa kháng chiến nhƣ giáo dục, văn học, báo chí, tƣ tƣởng…Và cũng
đã có những công trình có giá trị:
- Bùi Đình Phong,“Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền văn hóa mới trước
năm 1954”, Luận án PTS Lịch sử, 1996. Luận án này tập trung làm sáng tỏ vai trò
và công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với việc định hƣớng và xây dựng
nền văn hóa mới Việt Nam thời kỳ 1945-1954.
- Đỗ Thị Nguyệt Quang, Quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt
Nam mới từ tháng 6/1945 đến 7/1954, Luận án PTS khoa học lịch sử, Hà Nội, 1996.
- Nguyễn Thị Hoa, Báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp tạm
chiếm, khóa luận tốt nghiệp, 1991.
- Nguyễn Thị Minh Thuận, Tình hình hoạt động báo chí Việt Nam 1945-
1946, khóa luận tốt nghiệp, 1991
- Phạm Đản, Sự ra đời và ý nghĩa lịch sử của Đề cương văn hóa 1943, khóa
luận tốt nghiệp, 1959-1962.
- Lê Thị Thanh, Báo Nhân Dân trong kháng chiến chống Pháp (1951-1954),
- Làm sáng tỏ những ảnh hƣởng của bối cảnh thời đại và bối cảnh trong nƣớc
tới việc xây dựng một nền văn hóa mới trong kháng chiến chống Pháp.
- Tái hiện lại các yếu tố về mặt thiết chế văn hóa mới
- Phân tích quá trình xây dựng và các bƣớc trƣởng thành về mặt lý luận của
nền văn hóa mới thông qua các giai đoạn gắn liền với các Đại hội, Hội nghị văn hóa
quan trọng của Đảng trong thời kỳ 1945-1954.
- Nêu bật lên những thành tựu nổi bật của các ngành, các lĩnh vực tiêu biểu
của nền văn hóa mới trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
6
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng của luận văn lựa chọn nghiên cứu liên quan tới khái niệm văn hóa.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa trên thế giới cũng nhƣ ở
Việt Nam. Trong số đó đáng chú ý phải kể tới những định nghĩa nhƣ sau:
Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét
riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã
hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn
chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống giá trị,
những tập tục và những tín ngƣỡng. Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy
xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt
nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa
mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án
chƣa hoàn thành đặt ra xem để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không
biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vƣợt trội lên bản
thân”
1
Năm 2002, UNESCO định nghĩa “văn hóa đƣợc xem là tập hợp các đặc
trƣng tâm linh, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của một xã hội hay một nhóm
- Tƣ liệu lƣu trữ, sách báo là nguồn tƣ liệu gốc, phong phú và có độ tin cậy
cao. Đây là nguồn tƣ liệu đầu tiên mà tác giả luận văn tiếp cận và khảo sát khá kỹ
những vấn đề liên quan tới việc xây dựng nền văn hóa mới trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp (1945-1954).
+ Trƣớc hết là các tài liệu lƣu trữ ở Trung tâm lƣu trữ Quốc gia III bao gồm:
các báo cáo về công tác văn nghệ của Bộ, Nha Tuyên truyền và Văn nghệ, Hội Văn
hóa và văn nghệ qua các năm, biên bản các cuộc họp liên bộ về văn hóa xã hội, các
kế hoạch xây dựng văn hóa của Nha tuyên truyền và Văn nghệ từng năm…, biên
bản các kỳ đại hội, hội nghị văn hóa toàn quốc đặc biệt là Đại hội văn hóa toàn quốc
lần thứ 2 (7/1948), các sắc lệnh, công văn chỉ đạo công tác văn hóa…
+ Thứ hai, đó là nguồn tƣ liệu báo chí gốc trong thời kỳ này mà tác giả tiếp
cận đƣợc gồm có: Trọn tập Bộ sƣu tập Tạp chí Tiên Phong (1945-1946): 02 tập;
Trọn bộ Sƣu tập Tạp chí Văn nghệ: 1948-1954: 07 tập; Báo Nhân dân, Báo Sự thật,
Báo Cứu quốc…
8
- Các công trình lý luận cũng nhƣ chuyên khảo có liên quan tới văn hóa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận nghiên cứu của luận văn là chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh cũng nhƣ những định hƣớng, chủ trƣơng của Đảng Cộng sản Việt Nam về
văn hóa.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử
dụng phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử là chủ yếu kết hợp với các phƣơng pháp bổ
trợ nhƣ: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, so sánh…để làm sáng tỏ vấn đề luận văn
cần trình bày.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn cố gắng tái hiện lại những yếu tố bối cảnh quốc tế và trong nƣớc,
những chặng đƣờng xây dựng lý luận của nền văn hóa mới: văn hóa dân chủ nhân
dân trong thời kỳ đất nƣớc có chiến tranh.
- Đồng thời, luận văn làm sáng rõ những thành tựu nổi bật của các ngành,
nhìn ra thế giới” của Việt Nam. Từ sau Cách Mạng Tháng Tám đến những năm gần
đây, rõ ràng không có nƣớc nào trên thế giới lại giao lƣu văn hoá với nƣớc ta một
cách liên tục và trên nhiều bình diện nhƣ nƣớc Nga.
Cách mạng tháng Mƣời Nga năm 1917 có vai trò quan trọng trong lịch sử
loài ngƣời. Trên bình diện văn hóa, nó đã mở ra nền văn hóa XHCN, không chỉ có ở
Liên Xô mà còn ảnh hƣởng lớn đến nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Văn hóa Xô viết đã ảnh hƣởng lớn đến văn hóa Việt Nam. Hoàn toàn không phải
ngẫu nhiên mà những nhà văn hóa Việt Nam vào những năm kháng chiến chống
Pháp gian khổ đã tìm thấy ở các nhà văn Liên Xô những tình cảm trong sáng, những
chỗ dựa thân thiết và cao hơn nữa là một lý tƣởng văn hóa cao đẹp cần vƣơn tới để
xây dựng.
Trƣớc tiên cần nói rằng khái niệm "văn hoá Nga" ở Liên Xô trƣớc kia cũng
nhƣ ở nƣớc ta gần đây vẫn thƣờng đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp. Khi nói đến văn hoá
10
Nga, ngƣời ta thƣờng quan niệm đó là văn hoá của nƣớc Nga, của dân tộc Nga trong
quá khứ lịch sử, trƣớc Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Tháng Mƣời. Còn những gì
mà ngƣời Nga và các dân tộc khác trong Liên Bang Xô Viết làm nên trong lĩnh vực
văn hoá từ sau Cách Mạng Tháng Mƣời thì đƣợc hợp nhất vào một phạm trù bao
trùm "Văn Hoá Xô Viết", phạm trù này đã mau chóng trội vƣợt lên hàng đầu trong
nền tuyên truyền, giáo dục, khoa học xã hội Xô Viết, đẩy lùi xuống hậu cảnh, vào
trong chỗ râm tối quan niệm truyền thống về văn hoá nhƣ một thực thể tinh thần
mang dấu ấn, bản sắc của từng dân tộc riêng biệt, trong trƣờng hợp cụ thể này là của
dân tộc Nga, Ucraina, Litva, Grudia, v.v Văn hoá Xô Viết, nhƣ những lý luận gia
và những ngƣời lãnh đạo, quản lý nó quan niệm, là một nền văn hoá có tính chất
quốc tế, nó do tất cả các dân tộc trong Liên Bang Xô Viết tạo nên và là tài sản tinh
thần chung của họ, do đó nó không mang dấu ấn đặc thù của một dân tộc nào riêng
biệt. Cảm hứng chủ đạo của nền văn hoá Xô Viết chính là cảm hứng sáng tạo thế
giới mới, một thế giới tốt đẹp, huy hoàng chƣa từng có trong lịch sử mà so với nó,
tất cả các giai đoạn trƣớc phải đƣợc xem nhƣ đêm trƣờng tăm tối.
từ ngày 17 tháng 12 năm 1945, tại trƣờng Đại học Việt Nam, tiếng Nga đƣợc bắt
đầu đƣa vào chƣơng trình giảng dạy cho sinh viên và công chức Nhà nƣớc [94,
tr.32].
Để hỗ trợ cho mặt trận văn hóa, chính phủ đặc biệt khuyến khích việc biên
dịch, in ấn và phát hành sách báo Xô Viết, tuyên truyền cho đời sống mới qua việc
giới thiệu văn hóa Liên Xô. Trong công trình “Ảnh hưởng của văn hóa Xô Viết ở
Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954” của TS Lê Văn Thịnh, cho thấy rằng trong
những năm tháng đó, nền văn hóa Xô Viết có vị trí đặc biệt quan trọng, với ý nghĩa
góp phần hình thành đội ngũ trí thức mới của Việt Nam. “Riêng về mặt xuất bản,
chƣa bao giờ việc in ấn và phát hành sách báo Liên Xô lại phát triển mạnh nhƣ thế ở
Việt Nam. Trong những năm chống thực dân Pháp xâm lƣợc, tại Việt Nam có
khoảng 35 cơ sở in ấn và phát hành sách báo Liên Xô bằng tiếng Việt, với 107 đầu
sách và số lƣợng hàng vạn bản. Riêng năm 1946, có 14 cơ sở in ấn và phát hành
sách báo Xô Viết với trên 30 đầu sách, chiếm 40% cơ sở xuất bản và 28% đầu sách
trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp” [109, tr.68]. Khó có thể đánh giá
12
một cách thực sự đầy đủ ảnh hƣởng của sách báo Liên Xô trong tình hình lịch sử lúc
bấy giờ. Song có điều rõ ràng là với việc phát hành một số lƣợng lớn ấn phẩm văn
hóa Liên Xô bằng tiếng Việt ngay trong năm tháng khó khăn nhất của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp đã thể hiện sự nỗ lực lớn lao của các nhà xuất bản Việt
Nam trong việc thực thi chính sách văn hóa của Đảng Cộng Sản Đông Dƣơng. Mặt
khác, nó cũng thể hiện sức hấp dẫn đặc biệt của nền văn hóa Liên Xô với công
chúng Việt Nam. Chính sự hấp dẫn đó đã góp phần hỗ trợ cho những ngƣời Cộng
sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chế độ mới.
Sau Đại hội II (2/1951), những ngƣời Cộng sản Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt
động trên tất cả mọi mặt nhằm nhanh chóng đƣa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi.
Trong quá trình xây dựng chế độ mới và kháng chiến chống thực dân Pháp, hàng
loạt các vấn đề mới mẻ đặt ra đòi hỏi phải đƣợc soi sáng bằng lý luận. Những ngƣời
Cộng sản Việt Nam đã tìm lời giải đáp qua kinh nghiệm thực tiễn của đất nƣớc Xô
đã tôi thế đấy” chép tay đặc sắc hiện đang đƣợc trƣng bày ở bảo tàng Ôxtôrôpxki ở
Matxcơva (do một nhóm chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam tặng bảo tàng năm
1956). Đây là một chứng tích hùng hồn về sức sống kỳ diệu của một tác phẩm văn
học và là biểu tƣợng tuyệt vời của tình bạn chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và
nhân dân Liên Xô.
Chủ nghĩa anh hùng và lòng dũng cảm của con ngƣời Xô Viết trong đấu
tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc đƣợc xây dựng thành những hình tƣợng nghệ
thuật độc đáo trong văn học Liên Xô, không chỉ là tấm gƣơng sáng, giữ vai trò quan
trọng trong việc hình thành tinh thần yêu nƣớc, trách nhiệm nghĩa vụ cao trƣớc cộng
đồng dân tộc cho độc giả Việt Nam, mà còn là “một nguồn dinh dƣỡng mới” góp
phần to lớn vào việc bồi dƣỡng, hình thành lớp nhà văn mới của Việt Nam trong
kháng chiến chống Pháp.
Nhà văn Nguyễn Thành Long kể lại: “Lúc ấy chúng tôi hầu hết là học sinh
các trƣờng của chế độ thuộc địa. Câu văn Pháp xa rời với nếp suy nghĩ, sự nhận
thức của quần chúng. Để viết cho nhân dân hiểu, ngƣời viết phải đi theo xu hƣớng
quần chúng hóa. Thậm chí có khi chúng tôi hiểu chủ trƣơng này một cách cực tả,
không đúng…tình hình này có thể kéo dài, nếu không có sự xuất hiện của các tác
14
phẩm văn học Xô Viết từ Việt Bắc đƣa vào cuối năm 1950. Chúng tôi đƣợc đọc
“Người mẹ” của M.Gorki, “Những người bất khuất” của Gorbatốp, “Những người
Xô Viết chúng tôi” của Pôlêvôi, “Bão táp” và “Paris sụp đổ” của I.Erenbua,
“Stalingrát- ngày và đêm” của Ximônốp, “Ngôi sao” của Kadakêvích. Đặc biệt là
một tuyển tập truyện ngắn do Pháp tuyển và in lấy tên là Khu vực Nga, trong đó có
truyện ngắn “Chất Nga” của A.Tônstôi đã thực sự chiếm lĩnh tâm hồn chúng
tôi…Sự xuất hiện của loại sách báo này vô cùng quan trọng đối với chúng tôi, nó
vừa giúp chúng tôi lấy lại thế cân bằng trong khuynh hƣớng cực tả trƣớc đây của
“Văn nghệ Diên An”, vừa nhƣ là sự soi rọi của ngƣời đi trƣớc. Hơn nữa, việc phát
hiện ra một con ngƣời mới, mà sự thật mình muốn tìm tòi vƣơn tới văn học Xô Viết,
đã nhƣ một cánh cửa mở ra cho ánh sáng mặt trời chói chang bên ngoài rọi vào tâm
phe xã hội chủ nghĩa thì Việt Nam lập tức có những chính sách ngoại giao đối với
Trung Quốc nhằm thiết lập mối quan hệ anh em trên nhiều phƣơng diện.
Ngày 01/10/1949, sau thắng lợi của cách mạng ở Trung Quốc, nƣớc Cộng
hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Thắng lợi vĩ đại của cách mạng Trung Quốc đã làm
nghiêng cán cân lực lƣợng quốc tế về phía cách mạng và hoà bình. Hai ngày sau,
(3/10/1949), Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ Trung
Quốc. Hành động thể hiện lập trƣờng trƣớc sau nhƣ một, ủng hộ phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc của Liên Xô có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn. Với hành
động này, Liên Xô đã kéo theo hàng loạt các nƣớc khác trong phe xã hội chủ nghĩa,
nhƣ Bungari, Hungari, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan,
Mông Cổ, Cộng hoà dân chủ nhân dân Đức, Anbani công nhận và đặt quan hệ ngoại
giao với Trung Quốc, mở rộng hành lang địa chính trị của phe xã hội chủ nghĩa ra
tới biên giới Việt Trung, góp phần quyết định vào việc phá vỡ vòng vây của chủ
nghĩa đế quốc với Việt Nam, nối Việt Nam với các nƣớc trong phe xã hội chủ
nghĩa. Những điều kiện để chính phủ Hồ Chí Minh thiết lập quan hệ ngoại giao
chính thức với các nƣớc đã chín muồi.
Trung Quốc có mối quan hệ ngoại giao rất quan trọng đối với Việt Nam.
Nhiều thập kỷ trƣớc cách mạng Tháng Tám, Trung Quốc không những là cửa ngõ,
chỗ đứng chân của các nhà yêu nƣớc Việt Nam, mà còn là nơi các nhà yêu nƣớc
16
Việt Nam tiếp thu tƣ tƣởng của cách mạng tháng Mƣời. Trên thực tế, nhiều nhà yêu
nƣớc Việt Nam đã tiếp thu ảnh hƣởng của cách mạng Tháng Mƣời qua lăng kính
Trung Quốc.
Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 đã tạo ra cục diện mới cho
cách mạng Việt Nam. Nhờ thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, cách mạng Việt
Nam mới có khả năng thoát khỏi ra tình trạng bị bao vây, cô lập, kiến lập các mối
quan hệ trực tiếp với Liên Xô và các nƣớc trong phe xã hội chủ nghĩa. Trƣớc vận
hội mới, ngày 14/01/1950, Chính phủ nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa tuyên bố
cùng với chính phủ các nƣớc ở trên thế giới: “Trải qua mấy năm kháng chiến, nƣớc
các nƣớc anh em trong phe xã hội chủ nghĩa trong đó quan trọng nhất là từ Trung
Quốc. Thực tế là từ năm 1950 cùng với việc chúng ta bắt đầu mở rộng mối quan hệ
với Trung Quốc cũng đồng thời với việc Trung Quốc ngày càng ảnh hƣởng tới cuộc
chiến tranh Đông Dƣơng kể cả về quân sự, cả về việc xây dựng chính thể của nƣớc
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới trong đó có cả xây dựng nền văn hóa trong cuộc
kháng chiến chống Pháp.
Nền văn hóa Trung Quốc trong thời kỳ mới chính là nền văn hóa dân chủ
mới chủ yếu tuân theo các nguyên tắc tƣ tƣởng của Mao Trạch Đông về văn hóa
nghệ thuật.
Nếu nhƣ văn hóa Liên Xô ảnh hƣởng tới quá trình xây dựng nền văn hóa
Việt Nam thời kỳ 1945-1954 ở tính chất phổ quát của nền văn hóa vô sản thì về mặt
lý thuyết chúng ta chịu ảnh hƣởng những quan điểm văn hóa dân chủ mới từ Trung
Quốc dần dần từng bƣớc một trong thực tế. Đặc biệt là từ sau chiến dịch Biên giới
năm 1950, Việt Nam khai thông biên giới với Trung Quốc, và bắt đầu nhận viện trợ
của các nƣớc XHCN anh em thông qua sự giúp đỡ trực tiếp của Trung Quốc, thì ảnh
hƣởng của văn hóa Trung Quốc bắt đầu ảnh hƣởng rõ nét hơn. Ảnh hƣởng đó đƣợc
biểu hiện cụ thể ở sự học tập những quan điểm văn hóa dân chủ mới của Mao Trạch
Đông. Những nguyên tắc nhƣ văn nghệ phục vụ chính trị, văn nghệ phục vụ quần
chúng công nông binh, văn nghệ gắn liền với cuộc sống, nguyên tắc Đảng trực tiếp
lãnh đạo văn nghệ… đều trở thành những nguyên lý mà khi các nhà văn hóa Việt
Nam trong quá trình xây dựng nền văn hóa đều phải học tập.
18
Nguyên tắc đầu tiên chi phối mạnh mẽ nhất chính là nguyên tắc Đảng Cộng
sản luôn phải là ngƣời nắm sự lãnh đạo tuyệt đối đối với công tác văn hóa, văn
nghệ. Mao Trạch Động trong văn kiện văn hóa ở Hội nghị văn nghệ Diên An năm
1942 đã nêu rõ: “Chúng ta đứng trên lập trƣờng giai cấp vô sản, đại chúng nhân
dân. Ngƣời đảng viên cộng sản lại còn phải đứng trên lập trƣờng của Đảng, đứng
trên lập trƣờng Đảng tính và chính sách của Đảng nữa”. Đối với Việt Nam, tính
Đảng trong văn hóa cũng in dấu ấn đậm nét. Từ bản “Đề cương văn hóa” của Đảng
cập hay nâng cao đều là để phục vụ đại chúng công nông binh. Sau này, trong thực
tiễn của quá trình vận động văn hóa của Việt Nam, vấn đề giữa phổ cập và nâng cao
đƣợc cụ thể hóa trong điều kiện Việt Nam đó chính là cuộc tranh luận giữ nghệ
thuật và tuyên truyền. Phổ cập chính là tuyên truyền, mà nâng cao chính là nghệ
thuật. Cuộc tranh luận này là vấn đề khúc mắc kéo dài khá lâu trong đấu tranh lý
luận ở Việt Nam. Sau này cũng nhƣ Trung Quốc, Đảng ta trong “Chủ nghĩa Mác và
văn hóa Việt Nam” cũng chỉ rõ: “Tuyên truyền tới mức cao sẽ trở thành nghệ thuật,
nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt tuyên
truyền”. Và “nếu nhà văn đó thiết thực và trung thành với thời đại thì tác phẩm của
họ, nghệ thuật càng cao, càng có ý nghĩa tuyên truyền mạnh” [60, tr.156]. Đƣợc chỉ
đạo chặt chẽ bởi đƣờng lối văn nghệ kháng chiến, quan điểm nghệ thuật gắn liền
với nhiệm vụ tuyên truyền, văn hóa gắn liền với nhiệm vụ chính trị trở thành xu thế
phát triển chung của ý thức văn hóa thời đại ấy. Khi đời sống tinh thần chung của
một dân tộc đều hƣớng về chiến đấu và chiến thắng, khẩu hiệu “yêu nƣớc và căm
thù giặc” trở thành phƣơng châm hoạt động của nghệ sỹ thì quan điểm nghệ thuật
gắn liền với tuyên truyền, văn hóa đi cùng với chính trị là phù hợp với quy luật vận
động của lịch sử. Ở đây tính thực tế của văn hóa nghệ thuật đƣợc phát huy mạnh
mẽ.
Muốn giải quyết vấn đề văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ công nông
binh, văn hóa phải phản ánh đúng đắn cuộc sống của nhân dân. Vấn đề mấu chốt
căn bản nhất là những ngƣời làm công tác văn nghệ phải gắn bó với quần chúng, cải
tạo tƣ tƣởng, đồng thời tìm nguồn sáng tác trong việc gắn bó với quần chúng. Đó là
một quan điểm trọng yếu trong tƣ tƣởng văn nghệ của Mao Trạch Đông. “Muốn cải
20
tạo tƣ tƣởng cũ và xây dựng thế giới quan vô sản có hiệu quả, các văn nghệ sĩ chỉ
cần hạ quyết tâm, thông qua việc học tập lý luận chủ nghĩa Mác trƣờng kỳ…lao
mình vào cuộc đấu tranh cách mạng, hòa mình với quần chúng và kết hợp qua lại
giữa lý luận và thực tế”. “Những ngƣời công tác văn nghệ nhất định phải làm tròn
nhiệm vụ đó, phải bỏ đầu óc tiểu tƣ sản đi, phải đi sâu vào công, nông, binh, vào
ra rằng đó là những khuynh hƣớng “cực tả” của “văn nghệ Diên An” [113, tr.523].
Thực tế là những nguyên tắc mang tính “giai cấp” phần nào đó đã có những tác
động tới quá trình nhận thức tƣ tƣởng cũng nhƣ quá trình sáng tác của các nhà văn
hóa, các văn nghệ sĩ Việt Nam thời kỳ này.
Trƣớc năm 1950, cuộc kháng chiến của chúng ta bị bao vây, cô lập. Do đó
nền văn hóa kháng chiến cũng ít có khả năng ảnh hƣởng từ bên ngoài. Nhƣng từ
năm 1950 trở đi, khi chúng ta phá đƣợc thế bao vây cô lập của Pháp sau chiến thắng
Biên giới 1950, thì không khí của nền văn hóa thay đổi hẳn và bắt đầu có sự đón
nhận những luồng gió mới thổi từ Trung Quốc, đặc biệt đó là những ảnh hƣởng của
các nguyên tắc văn hóa dân chủ nhân dân. Nền văn hóa bắt đầu có những sắc màu
đa diện, phong phú. Các nhà văn hóa Việt Nam đã có những sự trăn trở để áp dụng
những nguyên tắc đó phù hợp với bối cảnh cũng bản sắc truyền thống của văn hóa
Việt Nam.Tuy nhiên, trong buổi đầu xây dựng, sự vận dụng khó tránh khỏi những
biểu hiện ấu trĩ, ít nhiều ảnh hƣởng tới thành tựu của nền văn hóa kháng chiến.
Tóm lại, trong bối cảnh của cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chúng ta bị bao vây
cô lập từ nhiều phía, việc chúng ta vẫn hƣớng tới sự giúp đỡ và học tập những kinh
nghiệm của các nƣớc anh em nhƣ Trung Quốc và Liên Xô vẫn đƣợc đặt ra và coi
trọng. Chính vì vậy mà “việc khai thác vốn cũ dân tộc không thể tách rời với việc
họp tập văn nghệ của nƣớc bạn, nhất là học tập kinh nghiệm về việc tổ chức sáng
tác văn nghệ, về bản thân những sáng tác của Liên Xô, Trung Quốc. Học tập văn
nghệ các nƣớc bạn là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển văn
nghệ Việt Nam. Nhiều băn khoăn của chúng ta, các nƣớc bạn đặc biệt là Liên Xô và
Trung Quốc, đã đi đến những kết luận có thể giúp chúng ta giải quyết thích đáng.
Nhiều mò mẫm của chúng ta hiện nay, chúng ta cũng có thể trong khi học tập các
tài liệu của các nƣớc bạn, tìm ra ánh sáng để tránh nhiều vấp váp” [93, tr.224].
22
1.2. Một số nhân tố của bối cảnh trong nƣớc
1.2.1.Đời sống kháng chiến
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân chủ
Lúc bấy giờ cả nƣớc đƣợc chia làm 12 chiến khu nhƣ khu 11 (Hà Nội); khu XII
(Bắc Giang, Bắc Ninh); khu V (Vĩnh Phúc); khu III; khu IV; khu V…Các phƣơng
án tác chiến đƣợc đề ra. Kế hoạch phá hoại đƣờng sá, cầu cống, làm “vƣờn không
nhà trống” đƣợc chuẩn bị để ngăn địch. Vùng núi rừng Việt Bắc đƣợc củng cố làm
căn cứ địa vững chắc của Trung ƣơng, sẵn sàng bƣớc vào cuộc kháng chiến lâu dài.
Máy móc, nguyên vật liệu của nhiều nhà máy, xí nghiệp đƣợc bí mật tháo gỡ
chuyển từ các thành phố về các chiến khu xây dựng các nhà máy, công xƣởng phục
vụ các yêu cầu chiến đấu và đảm bảo đời sống. Các cơ sở văn hóa, các tổ chức văn
hóa vừa mới thiết lập ở thủ đô cũng thực hiện công tác di tản lên chiến khu Việt
Bắc. Các hệ thống trƣờng học cũng tiến hành di chuyển đảm bảo việc học vẫn đƣợc
tiến hành trong điều kiện có chiến tranh. Thầy và trò cùng nhau chuyển vào điều
kiện học tập thời chiến.
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã chủ động chuẩn bị sẵn sàng vào
cuộc chiến đấu. Đầu tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết văn kiện
“Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu những phƣơng hƣớng và nhiệm vụ chủ yếu của
kháng chiến và vạch rõ “ta sẽ kháng chiến lâu dài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc,
tổ chức du kích khắp nơi, tăng gia sản xuất khắp nơi”. Hội nghị Thƣờng vụ Trung
ƣơng Đảng họp trong hai ngày 18 và 19/12/1946 khẳng định cuộc kháng chiến của
ta là cuộc kháng chiến trƣờng kỳ, gian khổ nhƣng nhất định thắng lợi. Hội nghị
vạch ra đƣờng lối cơ bản của cuộc kháng chiến mà nội dung chủ yếu chứa đựng
trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946) và
Chỉ thị toàn dân kháng chiến (22/12/1946) của Ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tống bí thƣ Trƣờng Chinh viết một loạt bài đăng
trên báo Sự thật từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1947, giải thích, cụ thể hóa đƣờng lối
kháng chiến của Đảng. Các văn kiện trên vạch rõ mục đích, tính chất của cuộc
kháng chiến là toàn dân, toàn diện trƣờng kỳ và tự lực cánh sinh.
24
Về chính trị: đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên
nhân lực, tài lực, đoàn kết với hai dân tộc Lào và Cam-pu-chia, với nhân dân Pháp,