324 Chính sách thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25


1
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng Công sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 được xem là một mốc son
trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc gia, đây chính là bước ngoặt phát triển nền
kinh tế Việt Nam: “phát triển theo cơ chế thò trường, dưới sự quản lý và điều tiết vó mô
của Nhà nước theo đònh hướng Xã hội chủ nghóa”
Sự lựa chọn sáng suốt đường lối phát triển kinh tế mà Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VI (1986) đề ra là không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy
rằng bản thân nền kinh tế thò trường cũng không phải là một nền kinh tế hoàn hảo, mà
bản thân nó cũng có những khuyết tật vốn có của nó. Một trong những khuyết tật vốn có
lớn nhất của nền kinh tế thò trường là ngăn cách giữa giàu nghèo trong xã hội. Kinh tế thò
trường ở Việt Nam cho dù đang ở mức độ đầu, nhưng vấn đề phân hóa giàu nghèo trong
xã hội cũng là vấn đề cần quan tâm.
Như chúng ta đã biết Nhà nước dùïng thuế làm công cụ điều tiết vó mô nền kinh tế,
điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực
vật chất cho Nhà nước. Cho dù trong điều kiện kinh tế Việt Nam, thuế gián thu có những
vai trò rất to lớn của nó. Nhưng với mục đích điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã
hội bằng thuế trong nền kinh tế thì thuế trực thu lại thể hiện tính ưu việt hơn, đồng thời
tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước một cách hợp lý, hợp hiến. Vì vậy, hướng đến
một chính sách thuế thu nhập là điều tất yếu nhằm góp phần điều tiết bớt một phần thu
nhập từ các tầng lớp người có thu nhập cao trong xã hội, hình thành các quỹ tiền tệ tập
trung giúp Nhà nước ngày càng thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội của mình.
Như phân tích ở trên, đó cũng chính là lý do mà Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghóa Việt Nam ban hành chính sách thuế thu nhập, cụ thể là Pháp lệnh thuế Thu
nhập đối với người có thu nhập cao. Đây là loại thuế được áp dụng từ rất lâu tại hầu hết
các Quốc gia trên thế giới, cho dù tên gọi ở một số nước có khác nhau nhưng bản chất thì
đối tượng tính thuế vẫn là thu nhập cá nhân. Đối với Việt Nam thì Pháp lệnh thuế Thu
nhập đối với người có thu nhập cao đầu tiên được ban hành vào ngày 27/12/1990, và có
hiệu lực thi hành từ 01/04/1991. Qua hơn 15 năm thực thi, Quốc hội nước ta đã trải qua 5
lần sửa đổi, thay thế Pháp lệnh năm 1990 bằng những pháp lệnh mới phù hợp hơn với

sót, rất mong Quý Thầy, Cô cùng các bạn góp ý bổ sung để đề tài mang tính hiện thực
hơn. 3
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 Khái quát về thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng
mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy
thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có
nhiều quan điểm về thuế khác nhau, mỗi quan điểm đều nhấn mạnh một chiều theo từng
góc độ khác nhau. Mặc dù đến nay còn nhiều tranh cãi về khái niệm của thuế nhưng các
nhà kinh tế đều thống nhất rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì đònh nghóa của thuế
phải nêu bật được các nội dung sau:
- Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Nộp thuế cho Nhà nước không có nghóa là cho Nhà nước mượn tiền hay gửi tiền vào
ngân sách Nhà nước hoặc là mua một dòch vụ công. Nộp thuế là một nghóa vụ cơ bản
nhất của công dân.
- Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập trung thuế trên
phạm vi toàn xã hội. Chính phủ phải cậy nhờ vào hệ thống pháp luật nên thuế thường
được quy đònh dưới dạng văn bản luật hay pháp lệnh. Cho nên, trốn thuế hay gian lận
thuế đều bò coi là những hành vi phạm pháp và phải chòu xử phạt về hành chính hoặc
hình sự.
- Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã
được pháp luật qui đònh.
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một
đònh nghóa tổng quát về thuế như sau:

hòa. Để thực hiện được yêu cầu này, Nhà nước phải sử dụng công cụ thuế để quản lý
điều hòa thu nhập xã hội. Trong nền kinh tế thò trường, nguồn lực xã hội tham gia vào
nền kinh tế, chủ yếu do luật thò trường huy động phân bổ và tham gia thực hiện việc phân
phối các yếu tố đầu ra. Đó là sự phân phối mang tính chất kinh tế. Tuy nhiên, nếu để cho
thò trường tự điều phối nền kinh tế thì sẽ tạo ra những khiếm khuyết và không phải lúc 5
nào cũng đạt kết quả sản xuất kinh doanh và đem lại thu nhập như xã hội mong muốn.
Do vậy, Nhà nước phải can thiệp vào sự phân phối để quản lý và điều chỉnh hoạt động
của nền kinh tế. Nhà nước can thiệp bằng hệ thống Luật pháp, bằng công cụ kinh tế, tài
chính trong đó quan trọng là công cụ thuế. Trong chính sách thuế, Nhà nước đã thiết kế
đối tượng điều tiết khác nhau với các mức thuế suất và chế độ ưu đãi khác nhau. Do vậy,
chính sách thuế đã tác động mạnh mẽ đến cung cầu các loại nguyên, nhiên, vật liệu,
hàng hóa, dòch vụ khác nhau, để điều chỉnh quá trình phân phối các yếu tố đầu vào của
các lực lượng thò trường và điều chỉnh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Thuế đã
trực tiếp tham gia vào phân phối thu nhập xã hội từ kết quả sản xất kinh doanh của nền
kinh tế.
Vấn đề then chốt là quá trình thực hiện phân phối thu nhập xã hội của thuế phải
đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. Nhà nước áp
dụng chính sách thuế phải thống nhất giữa các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư,
không phân biệt giữa các đơn vò, cá nhân. Khi các tổ chức, cá nhân có điều kiện kinh
doanh và có thu nhập giống nhau đều phải nộp thuế như nhau (bình đẳng theo chiều
ngang). Người có thu nhập quá thấp không đủ bảo đảm đời sống thì không phải nộp thuế
(bình đẳng theo chiều dọc). Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho mọi
thành viên trong xã hội làm ăn có hiệu quả, có năng suất cao phải được thu nhập cao
hơn. Từ đó, kích thích mọi tổ chức, cá nhân tập trung sức đầu tư phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh để có thu nhập cao một cách chính đáng.
Đồng thời với vai trò phân phối, thuế còn thực hiện vai trò phân phối lại thu nhập
xã hội. Vai trò phân phối lại của thuế được thực hiện thông qua việc Nhà nước sử dụng

11. Các loại phí và lệ phí.
1.2 Thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Khái niệm thuế Thu nhập
Tùy theo mục đích nghiên cứu, các nhà kinh tế quan niệm về thu nhập dưới các góc
độ khác nhau. Hai nhà kinh tế Anh là R.M Haig và H.G Simons đầu thế kỷ 20 đã đưa ra
đònh nghóa về thu nhập (sau này gọi là đònh nghóa Haig-Simons) cho rằng thu nhập là
tổng giá trò của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó
trong một thời gian nhất đònh, thường là một năm. Quan điểm này mang tính lý thuyết và
được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó thực hiện, vì rằng giá trò tăng 7
thêm đó mới chỉ dừng lại dưới dạng tiềm năng, mặt khác nó lại được biểu hiện dưới các
hình thức khác nhau như bằng tiền, hàng hóa và dòch vụ song lại chỉ được thực hiện khi
có sự chuyển dòch quyền sở hữu.
Dựa trên cơ sở đònh nghóa Haig-Simons, các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra hai
quan niệm mới về thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập cá nhân:
- Quan điểm về khái niệm “thu nhập bao quát” cho rằng, thu nhập là mọi khoản thu
nhập ròng từ các nguồn sau khi đã khấu trừ các chi phí để tạo ra chúng, từ đó hình thành
một phương thức đánh thuế trên tổng tài sản ròng, nghóa là đánh thuế vào tất cả các lợi
ích nhận được, bao gồm các lợi ích ngẫu phát - lợi ích có tính chất nhất thời.
- Quan điểm về khái niệm “thu nhập hạn hẹp” dựa trên cơ sở thu nhập chỉ giới hạn
trong những lợi ích phát sinh lặp đi lặp lại, có tính chất liên tục để hình thành một phương
thức đánh thuế thu nhập dựa trên các nguồn phát sinh thu nhập.
Đại diện cho trường phái này là nhà kinh tế học người Mỹ Paul. A. Samuelson đã
đưa ra một khái niệm thu nhập tương đối hoàn chỉnh: “thu nhập là tổng số tiền kiếm
được hoặc thu góp được trong một khoản thời gian nhất đònh (thường là một năm)”. Thuật
ngữ “tiền” ở đây được hiểu là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính
thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng, nhận được từ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dòch vụ, từ lao động hoặc không từ lao động, từ quyền sở hữu về tài

huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vó mô
nền kinh tế.

Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập
dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trò) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay
đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nước dưới dạng thuế thu
nhập.
Như vậy: Có thể khái niệm thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào
thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất đònh (thường là
một năm).
1.2.3 Sự cần thiết xây dựng chính sách thuế Thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong
phân phối thu nhập. Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thò trường vì thu
nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản
xuất (
vốn, lao động, công nghệ…).
Trong điều kiện đó sự phân hóa giàu nghèo khi phân
phối thu nhập là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, cần áp dụng thuế thu nhập cá nhân để thực 9
hiện điều tiết thu nhập nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Mặt khác,
trong hệ thống thuế thông thường áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế trực thu.
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, tức là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của
người nộp thuế theo khả năng của họ. Vì thế, thu nhập cá nhân đảm bảo sự công bằng
theo chiều dọc. Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì mới thực hiện được công bằng
theo chiều ngang, tức là tất cả mọi người đều phải nộp thuế như nhau không phân biệt
khả năng của họ. Để đảm bảo sự công bằng theo cả chiều ngang và chiều dọc trong
chính sách thuế khóa thì cần thiết phải ban hành thuế thu nhập cá nhân để điều tiết thu
nhập theo khả năng đóng góp của người nộp thuế.

các cá nhân trong xã hội.
Để thấy rõ vai trò đó của thuế thu nhập cá nhân, có thể sử dụng đường cong Lorenz
dưới đây (
H
ình 1
.1
) Thu nhập được phân
phối công bằng
Thu nha
äp trước thuế
Thu nha
äp sau thuế
Dân cư %
GDP %

Hình 1.1: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập
Trên đồ thò, đường cong Lorenz càng gần đường phân giác thì càng phản ánh sự
phân phối công bằng. Điều đó được trợ giúp bởi thuế luỹ tiến thông qua thực hiện thuế
thu nhập cá nhân để đảm bảo rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
1.2.4.2 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho
NSNN

phối lại thu nhập của những người có thu nhập cao đưa vào tiết kiệm. Sự tiết kiệm thừa
cần được thu bằng thuế để hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế.
Lý thuyết của M. Keynes được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước tư bản phát
triển sau khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929-1933. Vì vậy, thuế thu nhập cá
nhân trong thời kỳ này có đặc trưng bằng biểu thuế suất cao với nhiều thang bậc thuế và
mức chênh lệch về tỉ lệ điều tiết khá lớn giữa bậc thấp và bậc cao. Chẳng hạn ở Mỹ mức
thuế suất tối đa thuế thu nhập cá nhân là 50%, Anh là 83%, Pháp là 56,8%, Đức là 56%,
Italia là 62%, Nhật là 70%...
Thực hiện điều tiết nền kinh tế trong điều kiện tăng năng suất và hiệu quả kinh
doanh theo lý thuyết “trọng cung” các nhà kinh tế học thuộc trường phái này mà đại biểu
là Laffer đã đưa ra đường cong lý thuyết nổi tiếng gọi là đường cong Laffer (
Hình 1.
2). 12
Mô hình đường cong Laffer cho thấy quan hệ giữa thuế suất và tổng thu nhập từ
thuế. Mức thuế suất bằng không thì thu ngân sách từ thuế cũng bằng không. Ở thái cực
đối lập, nếu thuế suất bằng 100% thì thu nhập từ thuế cũng bằng không vì lúc đó người ta
không muốn làm việc. Việc nâng dần mức thuế suất từ 0% lên dưới mức thuế suất t
0

đều
cho tổng số thuế như nhau, do đó về nguyên tắc, hạ mức thuế từ t
2
xuống t
1
thì tổng thu
thuế không thay đổi, còn trong trường hợp hạ từ mức t
2
xuống t
0
thì tổng thu thuế sẽ tăng
lên. Mặt khác, hạ thấp thuế từ t
2
xuống t
0
phải được thực hiện trong khoảng thời gian khá
dài mới có kết quả tăng thu về thuế, còn trước mắt sẽ làm giảm tức thời số thuế thu được.
Do đó, theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, việc nghiên cứu một mức 13
thuế thu nhập cá nhân phù hợp để nâng cao hiệu quả kích thích của nó được đánh giá
quan trọng hơn vai trò công bằng mà nó tạo ra trong phân phối thu nhập.
1.2.5 Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế Thu nhập cá nhân
1.2.5.1 Nguyên tắc đánh thuế Thu nhập cá nhân
a) Đánh thuế trên cơ sở thu nhập chòu thuế hiện hữu
Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trong thực tế không
phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhập chòu thuế. Thu nhập chòu thuế là
phần thu nhập quy đònh cơ sở đánh thuế thu nhập. Mọi hệ thống thu nhập dù đánh trên

khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập (nhiều trường hợp chi
phí có thể được trừ hoặc không được trừ) và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế
suất phân biệt. Số thuế phải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải
nộp theo từng nguồn.
Các nhà kinh tế cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế hơn, vì nó thu “theo sát
từng nguồn thu nhập”. Tuy nhiên, đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập trên
thực tế đã bộc lộ nhiều hạn chế:
- Khi chia thu nhập cá nhân thành phần thu nhập để chòu các mức thuế suất khác
nhau không đơn thuần là một công việc phức tạp và khó khăn, mà điều quan trọng hơn là
không áp dụng được triệt để các mức thuế suất luỹ tiến và các suất miễn giảm thuế thu
nhập cá nhân. Nếu có áp dụng mức thuế suất luỹ tiến thì cũng chỉ đúng cho một số loại
thu nhập. Điều đó lại gây bất bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế có các loại thu nhập
khác nhau.
- Việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu nhập đòi hỏi phải phân loại thu nhập,
trên thực tế công việc này lại tiềm ẩn nhiều khó khăn trong công tác quản lý. Mặt khác,
đó cũng là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế. Nếu ranh giới giữa các loại thu
nhập không chính xác thì sẽ mất ý nghóa công bằng của thuế thuế thu nhập cá nhân.
- Trong một chừng mực nào đó cách đánh thuế này cũng không hiệu quả đối với xã
hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệu quả để chòu mức thuế thấp
nhất.
b) Đánh thuế trên tổng thu nhập
Phương pháp này tiến hành đánh thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất cả các khoản 15
thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập.
Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét trên một tổng thể và đánh thuế trên phần
chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. Việc phân ra từng loại thu nhập không có
ý nghóa.
Do có ưu điểm là đơn giản và có thể áp dụng được biểu thuế luỹ tiến khi đánh thuế

thu nhập không chòu thuế. Muốn xác đònh thu nhập chòu thuế chính xác cần phải xem xét
các khoản sau đây.
a) Nguồn gốc của thu nhập
Mọi khoản thu nhập của cá nhân có thể phát sinh từ các nguồn khác nhau. Tuy vậy
cũng có thể phân loại thành các nguồn cơ bản như sau:
a
1
) Thu nhập từ lao động
Thu nhập có nguồn gốc từ lao động giữ vò trí rất quan trọng và chiếm tỷ trọng khá
lớn trong thu nhập chòu thuế ở các nước phát triển. Thu nhập từ lao động bao gồm bất kỳ
khoản bù đắp nào trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến lao động. Đó là khoản thu nhập
của cá nhân nhận được dưới hình thức tiền lương hoặc tiền công do người chủ của lao
động trả.
Bên cạnh việc xác đònh các khoản thu nhập từ lao động còn phải tính toán các chi
phí lao động để nhận được các thu nhập này. Vì thu nhập chòu thuế là các khoản thu nhập
ròng nên cần phải xác đònh các chi phí phát sinh để phản ánh đúng đắn thu nhập chòu
thuế từ lao động. Do đó, các nguyên tắc đưa ra là cần thiết để xem xét khả năng được trừ
của các chi phí phát sinh. Nếu không có các nguyên tắc chuẩn thì khó xác đònh được ranh
giới thu nhập chòu thuế và khi đó các tranh chấp có thể phát sinh giữa cơ quan thuế và
đối tượng nộp thuế hoặc tạo ra những cơ hội phổ biến để trốn thu nhập chòu thuế thông
qua sự biến tướng của chi phí lao động. Điều đó lại nảy sinh sự bất bình đẳng về nghóa vụ
giữa người nộp thuế có mức thu nhập như nhau.
a
2
) Phúc lợi của người làm công
Phúc lợi bất kỳ bằng tiền hoặc không phải bằng tiền nhận được từ lao động mà
không nằm trong phần tiền lương, tiền công bằng tiền mặt.
Các khoản phúc lợi thông thường như nhà ở, sử dụng phương tiện đi lại do người chủ
lao động cung cấp cho mục đích cá nhân và cung cấp hàng giảm giá cho người làm công.
Toàn bộ các khoản phúc lợi dưới dạng hiện vật này cũng coi như một khoản thu nhập của

chia này không hoàn toàn xuất phát từ quan niệm logic về thuế, mà từ phương diện lòch
sử.
a
4
) Thu nhập từ vốn, tài sản hay gọi là thu nhập từ đầu tư
Tuỳ theo từng giai đoạn lòch sử và tuỳ theo quan điểm đánh thuế của mỗi nước mà 18
thu nhập này có thể xếp loại vào thu nhập bò đánh thuế hoặc không bò đánh thuế.
a
5
) Các khoản thu nhập bất thường khác
Qua phân tích các loại thu nhập kể trên ta thấy, không phải mọi khoản thu nhập của
người nộp thuế đều đưa vào đối tượng tính thuế. Tùy theo mục đích đánh thuế mà có
khoản thu nhập không đưa vào đối tượng đánh thuế. Khi xây dựng các quy đònh tính thuế
cần xác đònh rõ ràng những khoản nào nằm trong tổng thu nhập không chòu thuế. Cơ sở
quan trọng để xác đònh các khoản thu nhập đó có phải là thu nhập chòu thuế hay không
phải là thu nhập chòu thuế, trước hết phải xem xét các khoản đó là thu nhập thực sự hay
là chi phí. Mặt khác, Chính phủ có thể cân nhắc nên đánh thuế hay không nên đánh thuế
vào các loại thu nhập này.
b) Đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập
Để tiến hành đánh thuế thu nhập cá nhân trước hết phải căn cứ vào hai cơ sở là “cư
trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.
Hệ thống đánh thuế dựa vào tình trạng “cư trú” được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Theo hệ thống này, các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước đó và đánh trên
mọi khoản thu nhập từ khắp nơi trên thế giới, còn những cá nhân không cư trú chỉ bò đánh
thuế trên phần thu nhập phát sinh tại nước đó. Tuy nhiên, khái niệm cư trú được quy đònh
khác nhau ở các nước khác nhau.
Cơ sở thứ hai được dựa vào để xác đònh nghóa vụ nộp thuế là “nguồn phát sinh thu

soát thông tin tốt. Đối với các nước chậm phát triển thường không đủ điều kiện để áp
dụng phương pháp này mà chủ yếu áp dụng phương pháp giảm trừ tiêu chuẩn. Phương
pháp này được thực hiện thông qua việc xác đònh mức khởi điểm chòu thuế. Về nguyên
tắc, mức khởi điểm chòu thuế là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ
những chi phí cần thiết cả về mặt kinh tế và xã hội theo quan niệm và tập quán của từng
nước. Phương pháp “giảm trừ tiêu chuẩn” tuy không công bằng vì mức chi phí cần thiết
được cân bằng giữa các đối tượng nộp thuế nhưng lại đảm bảo cho thuế thu nhập cá nhân
dễ tính toán, đơn giản hơn trên cơ sở đó tiết kiệm chi phí hành thu và chi phí chấp hành,
tuân thủ luật thuế.
Nhằm bảo đảm yêu cầu công bằng và khuyến khích một số hoạt động thuế thu nhập
cá nhân ở các nước cho phép khấu trừ một số khoản chi phí từ thu nhập nhận được trước
khi xác đònh thu nhập chòu thuế. Tính chất của các khoản chi phí này là phát sinh thường
xuyên và khách quan. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới người ta cho phép khấu trừ 5 20
khoản chi phí vào thu nhập trước khi xác đònh thu nhập chòu thuế. Những khoản chi phí
đó là: chi y tế, lãi thế chấp, các loại thuế, đóng góp từ thiện, mất mát đột xuất. Để đảm
bảo công bằng khi thực hiện nghóa vụ nộp thuế thu nhập thì trong từng khoản miễn trừ
phải quy đònh tỉ mỉ, chi tiết cho từng trường hợp cụ thể.
1.2.6.3 Thuế suất thuế Thu nhập cá nhân
Đối với thuế thu nhập cá nhân, thông thường người ta áp dụng biểu thuế suất luỹ
tiến. Có hai loại thuế suất luỹ tiến là luỹ tiến toàn phần và luỹ tiến từng phần (còn gọi là
thuế suất đơn nhất kết hợp với ngưỡng tính thuế). Mỗi loại thuế suất luỹ tiến có hiệu quả
điều tiết khác nhau, trong đó biểu thuế luỹ tiến từng phần được coi là đảm bảo công bằng
hơn và không gây ra mâu thuẫn “mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn cứ tính
thuế” tại điểm tiếp giáp giữa hai bậc thuế.
Biểu thuế luỹ tiến từng phần có thể có hai dạng. Một dạng chia thành nhiều bậc
thuế. Một dạng chỉ đơn giản gồm một vài bậc. Biểu thuế nhiều bậc chia theo các mức thu
nhập khác nhau đảm bảo công bằng hơn vì chỉ có sự chuyển dòch nhẹ nhàng về mức thuế

trình quản lý thu đơn giản nhưng mức độ công bằng lại kém hơn vì thông thường chỉ thu
được thuế của những khoản thu nhập rõ ràng, chính thống. Những khoản thu nhập khác
dễ bò bỏ qua do không kiểm soát được.
- Phương pháp thu trực tiếp. Thuế thu nhập cá nhân là thuế đánh vào phần thu nhập
của cá nhân, do đó để thuế thu được sát đúng với mức thu nhập của từng cá nhân thì cần
để cho người nộp thuế tự khai thu nhập của mình. Đó là cơ sở ra đời phương pháp thu trực
tiếp. Phương pháp thu trực tiếp được thực hiện trên cơ sở người nộp thuế tự kê khai thu
nhập và gửi cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế xác đònh số thuế phải nộp dựa trên số liệu
kê khai về thu nhập, về các khoản được phép khấu trừ, giảm trừ … kết hợp với sự thẩm
tra, kiểm soát của cơ quan thuế. Phương pháp này tuy phức tạp nhưng đảm bảo tính chính
xác vì khả năng tổng hợp nhiều nguồn thu nhập và gắn với hoàn cảnh cá nhân của người
nộp thuế. Tuy nhiên, trên thực tế, phương pháp này chỉ đạt hiệu quả cao trong điều kiện
người nộp thuế hiểu rõ nghóa vụ và trách nhiệm nộp thuế của mình. Nếu trình độ hiểu
biết của người nộp thuế còn kém, tính tự giác chưa cao thì không thể vận dụng được
phương pháp trực tiếp thu nộp thuế vào hoạt động thực tiễn.
Trên thực tế, các nước có nền kinh tế phát triển mặc dù đã xây dựng cho mình chế
độ thuế thu nhập cá nhân khá hoàn chỉnh cũng thường chỉ sử dụng phương pháp khấu trừ 22
tại nguồn mà thôi.
Về đơn vò nộp thuế là cá nhân hay hộ gia đình, trên thế giới cũng tồn tại hai phương
pháp. Phương pháp thứ nhất thu vào thu nhập thực tế của từng cá nhân có ưu điểm đơn
giản, dễ làm, thu kòp thời cho ngân sách, nhưng lại không đảm bảo công bằng trong phân
phối thu nhập vì mỗi cá nhân có những hoàn cảnh và gánh nặng gia đình khác nhau.
Trong một chừng mực nhất đònh, việc cho phép khấu trừ theo mức tiêu chuẩn hoặc suất
miễn thu tiêu chuẩn có thể chưa thực sự sát với hoàn cảnh gia đình của những cá nhân cụ
thể. Còn phương pháp thu vào thu nhập của cả hộ gia đình, tuy đảm bảo công bằng hơn
về mặt xã hội song quá trình quản lý thu thuế phức tạp, chi phí hành thu cao nên ít được
các nước áp dụng.

Nam từ những qui đònh về ngưỡng chòu thuế, về cùng một mức thuế suất nhưng thu nhập
chòu thuế đối với người nước ngoài cao hơn công dân Việt Nam…
- Đa số các nước đánh thuế theo nguyên tắc “cư trú” đối với đối tượng cư trú tại
nước mình và phải chòu thuế TNCN trên thu nhập toàn cầu, không phân biệt nguồn thu
nhập phát sinh trong nước hay ở nước ngoài, đánh thuế theo nguyên tắc “nguồn phát sinh
thu nhập” đối với đối tượng không cư trú, đối tượng này chỉ phải nộp thuế cho phần thu
nhập có được phát sinh trong nước. Tuy nhiên mỗi nước qui đònh đối tượng cư trú và
không cư trú là không giống nhau.
- Đơn vò tính thuế được đa số các nước áp dụng là cá nhân như ở Nhật, Thái Lan,
Trung Quốc…, Pháp xác đònh đơn vò tính thuế là hộ gia đình, đây được xem là cách thu
thuế hợp lý nhất và công bằng nhất, vì có xét đến điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng
gia đình.
- Thu nhập chòu thuế: Thu nhập chòu thuế là thu nhập ròng (thu nhập sau khi trừ
các khoản chiết trừ gia cảnh hoặc chi phí hợp lý tạo ra thu nhập). Tuy nhiên mỗi nước
xác đònh thu nhập chòu thuế có những điểm khác nhau như:
+ Luật thuế thu nhập cá nhân của Pháp xác đònh 8 loại thu nhập chòu thuế. Thu nhập
ròng làm căn cứ tính thuế là tổng hợp thu nhập ròng của từng loại thu nhập mà mỗi đối
tượng nộp thuế có được trong năm. Tổng thu nhập chòu thuế của hộ nộp thuế bằng tổng
các khoản thu nhập ròng từ mọi nguồn thu nhập của đối tượng nộp thuế cộng với tổng thu
nhập của vợ (hoặc chồng) và của các con sáp nhập vào hộ (nếu có) sau khi trừ các khoản
lỗ của từng loại thu nhập. Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi tổng thu nhập chòu 24
thuế một khoản chi phí như: trợ cấp đời sống bắt buộc theo phán quyết của tòa đối với vợ
(chồng) đã ly thân hay ly hôn, chi nuôi dưỡng người già trên 75 tuổi… và khoản lỗ chưa
trừ hết trong 5 năm trước.
+ Nhật Bản xác đònh thu nhập chòu thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập, mỗi
loại thu nhập chòu thuế được xác đònh bằng tổng thu nhập trừ đi các khoản khấu trừ hoặc
các khoản chi phí hợp lý tùy thuộc vào nguồn hình thành thu nhập.

ra thu nhập. Ở Việt Nam có thể lựa chọn mô hình đánh thuế hỗn hợp, kết hợp cả hai hệ
thống đánh thuế theo từng nguồn và đánh thuế trên tổng thu nhập, tức là trong tổng thu
nhập sẽ quy đònh một số loại thu nhập được đánh theo biểu thuế chung, còn một số loại
thu nhập khác do tính đặc thù có thể xem xét và lựa chọn để đánh thuế theo biểu thuế
riêng. Cách đánh thuế như vậy đòi hỏi phải quản lý nắm bắt được từng nguồn thu nhập
và xây dựng mức thuế hợp lý cho một số nguồn thu nhập có tính chất đặc thù.
4.1.2 Về phương pháp đánh thuế
Hiện nay, thuế thu nhập cá nhân của hầu hết các nước trên thế giới chủ yếu dựa
trên hai nguyên tắc đánh thuế, đó là: nguyên tắc đánh thuế theo cư trú (nguyên tắc cư
trú) và nguyên tắc đánh thuế theo nguồn phát sinh thu nhập (nguyên tắc nguồn). Dựa
trên hai nguyên tắc này, người ta có thể đánh thuế đối với một cá nhân tại một nước trên
toàn bộ thu nhập nhận được từ mọi nguồn hoặc cũng có thể đánh thuế đối với một cá
nhân chỉ trên phần thu nhập có nguồn gốc tại nước sở tại.
Nguyên tắc đánh thuế thu nhập cá nhân dựa theo cư trú được hầu hết các nước áp
dụng để đánh thuế đối với các đối tượng được coi là cư trú tại nước đó. Tuy nhiên, khái
niệm thế nào là một đối tượng cư trú tại một nước lại được đònh nghóa không giống nhau
trong luật thuế thu nhập cá nhân của các nước.
Nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập được hầu hết các nước áp dụng để đánh thuế
đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của các đối tượng không cư trú.
Tuỳ mỗi nước, tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội của mình mà lựa chọn những
nguyên tắc đánh thuế thích hợp. Đối với Việt Nam chúng ta có thể đánh thuế theo tiêu
thức “cư trú” và “nguồn” để xác đònh đúng đắn đối tượng nộp thuế và thu nhập chòu
thuế.
1.4.3 Đơn vò tính thuế
Vấn đề xác đònh đơn vò thuế – cơ sở để tính thu nhập chòu thuế của một đối tượng

Trích đoạn Đối với người không cư trú Tổ chức thu thuế Về nguồn nhân lực Về các điều kiện hỗ trợ khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status