ĐẠI HOC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VẪN
NGUYỄN TRỌNG BIÊN
C ơ SỞ KHOA HỌC XÁC ĐỊNH CÁC LOẠI
TÀI LIỆU CÓ GIA TRỊ CỦA CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC CẦN NỘP VÀO Lưu TRỮ.
• • •
Chuyên ngành : Lưu trữ học và Tư liệu học
Mã s ô : 51002
Luận văn thạc sĩ khoa học Lưu trữ học và Tư liệu học
Người hướng dẫn khoa học :
TIẾN Sĩ NGUYỄN MINH PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2002
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đ ầ u 01
Chương 1 : Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và sự hình thành các loại
tài liệu của trường đại h ọc 12
1.1. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường đại h ọ c
12
] .2. Thành phần và nội dung tài liệu được hình thành trong hoạt động của
một trường đại học 27
Chương 2 : Cơ sở khoa học xác định các loại tài liệu có giá trị cần nộp vào
lưu trữ của trường đại học
• 37
2.1. Cơ sở thực tiễn về công tác thu thập tài liệu để quản lý và bảo quản ở
các trường đại h ọ c 37
2.2. Cơ sở lý luận lưu trữ học 45
2.3. Cơ sở pháp lý về thu thập và quản lý tài liệu của lưu trữ cơ quan ở một
trường đại học 60
học, các nhà hoạt động nổi tiếng ở mọi lĩnh vực xã hội, đến mỗi công dân có
trình độ đại học trở lên, đã có thời kỳ học tập, hoặc giảng dạy tại một trường
đại học nào đó. đều liên quan đến tài liệu lưu trữ của trường đại học. Trình
độ tri thức của một dân tộc, trình độ giáo dục đào tạo của một quốc gia phần
lởn được phản ánh chân thực trong tài liệu lưu trữ của các trường đại học.
Theo nội dung Điều I của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia, Chủ tịch Nước Cộng
!
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 15 tháng 4 năm 2001, thì tài
liệu lưu trữ quốc gia bao gồm cả tài liệu được hình thành trong các trường đại
học trong cả nước. Tài liệu lưu trữ của các trường đại học là một bộ phận
quan trọng của Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam và là một di sản văn hóa
khône thể thiếu trong kho tàng vãn hóa Việt Nam .
Tài liệu lưu trữ của các trường đại học là thành phần Phông Lưu trữ Quốc
gia Việt Nam và như vậy phải được quản lý thống nhất, bảo quản an toàn và
tổ chức sứ dụng có hiệu quả phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Với hai chức năng chính của các trường đại học là chức năng đào tạo và
chức năng nghiên cứu khoa học, khối lượng tài liệu của các trường đại học
được sản sinh ra rất lổm. Hàng năm cả nước ta có hàng chục vạn người được
tiếp nhận đào tạo tại các trường đại học và cũng có hàng chục vạn người được
đào tạo và tốt nghiệp. Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa
học, công trình thử nghiệm ứng dụng tiên bộ khoa học vào thực tiễn được
hoàn thành trong các trường đại học. Như vậy, sô' lượng tài liệu được hình
thành ở các trường đại học hàng năm tăng lên rất nhiều .
Thực trạng công tác lưu trữ của các trường đại học hiện nay có nhiều tồn
tại. Các trường đại học chưa thực sự quan tâm đến công tác lưu trữ, không tổ
chức lưu trữ, không có kho lun trữ chuyên dụng, không có bộ phận lưu trữ
chung của toàn trường, không có cán bộ lưu trữ. Tài liệu được hình thành và
được quản lý bảo quản tại chỗ, tại nơi làm việc ở các đơn vị của trường. Tinh
hình chung là tài liệu ở các trường đại học chưa được quản lý tập trung thống
nhất, không có các tác động của nghiệp vụ lưu trữ, nhiều trường đại học đã lưu
- Từ những nghiên cứu đi đến đề xuất các giải pháp về tổ chức cơ quan
lưu trữ và danh mục tài liệu cần nộp vào lưu trữ cơ quan trường đại học, để
quản lý và giải quyết vấn đề cấp bách là quản lý tập trung thống nhất tài liệu
lưu trữ các trường đại học trong cả nước. Kết quả nghiên cứu của để tài là cơ
sở khoa học cho Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành văn bản quy định về công
tác lưu trữ tại các trường đại học. Từ đó những tài liệu sản sinh ra tại các
trường đại học sẽ được chon lọc đưa vào lưu trữ và được phục vụ thiết thực
cho công tác quản lý tại trường, công tác chuyên môn về đào tạo, nghiên cứu
khoa học và phục vụ cho các nhu cầu xã hội khác .
III. Muc tiêu, nhiêm vu và pham vi nghiên cứu.
1. Muc tiêu :
- Bước đầu vận dụng lý luận xác định giá trị tài liệu vào công tác lựa chọn
tài liệu có giá trị của các trường đại học nộp vào lưu trữ.
Xây dựng cơ sở khoa học về chọn lọc những loại tài liệu của các trường
đại học cần nộp vào lưu trữ cơ quan của trường đại học đê quản lý thống
nhất.
- Đề xuất tổ chức lưu trữ ở trường đại học.
- Đề xuất danh mục hồ sơ, tài liệu của trường đại học cần nộp vào lưu trữ cơ
quan của nhà trường.
2. Nhiêm ru :
- Khảo sát thực tế , đánh giá thực trạng công tác thu thập tài liệu đưa vào
lưu trữ của các trường đại học ở nước ta hiện nay. Trong đó đánh giá hộ thống
văn bản chỉ đạo của ngành giáo dục - đào tạo về công tác lưu trữ , thực trạng
tổ chức lưu trữ và công tác thu thập những loại tài liệu được hình thành qua
quá trình hoạt động của trường đại học cần nộp vào lưu trữ ở các trường đại
học hiện nay.
4
- Nghiên cứu những cơ sở khoa học xác định các loại tài liệu có giá trị
của trường đại học cần nộp vào lưu trữ.
- Đề xuất các giải pháp về tổ chức lưu trữ và danh mục các loại hồ sơ, tài
chức mạng lưới kho lưu trữ, viện lưu trữ từ trung ương đến cơ sở ở Việt Nam.
Cục Lưu trữ Nhà nước, năm 1990.
2/ Đề tài Mã số 99-98-030 : Nghiên cứu xác định tài liệu tiêu biểu vào
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia. Cục Lưu trữ Nhà nước , 1999.
3/ Đề tài Mã số 89-90-016 : Cơ sở khoa học để tính thời hạn bảo quản cho
tài liệu kế toán trong các cơ quan hành chính sự nghiệp. Cục Lưu trữ Nhà
nước , 1989.
4/ Đề tài : Nghiên cứu xây dựng bảng thời hạn bảo quản cho các loại tài liệu
tiêu biểu hình thành trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cục Lưu trữ
Nhà nước, 1994.
5/ Đề tài : Cơ sở khoa học để tổ chức quản lý Nhà nước về công tác lưu trữ.
Cục Lưu trữ Nhà nước, 2001.
Ngoài ra còn nhiều đề tài nghiên cứu khoa học trong ngành lưu trữ
chuyên sâu về nghiệp vụ lưu trữ , như về bảo quản, về công bố và sử dụng tài
liệu, ứng dụng tin học trong lun trữ, V. V. Nhưng chưa có đề tài nào nghiên
cứu về công tác lưu trữ ở trường đại học. một loại cơ quan hành chính sự
nghiệp đặc biệt.
Vấn để công tác lưu trữ ở trường đại học đã được đề cập nghiên cứu
trong một số để tài luận văn tốt nghiệp của sinh viên Khoa Lưu trữ học và
6
Quản trị văn phòng ( Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội ).
Để tài thứ nhất là đề tài luận văn của sinh viên Phan Thị Hạnh về “
Phương án xây dựng Lưu trữ Đại học Quốc gia năm 2000. Đây là đề tài đầu
tiên ở Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng nghiên cứu phương án xây
dựng tổ chức lưu trữ tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong đề tài này tác giả đã
nêu thực trạng , sự cần thiết, mục đích , ý nshĩa của việc thành lập bộ phận lưu
trừ trong các trường đại học nói chung và Đại học Quốc gia nói riêng.
Đề tài thứ hai là đề tài luận văn tốt nghiệp của sinh viên Dương Thị Quế
về “ Tổ chức khoa học tài liệu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
học là nguồn sử liệu quan trọng,
2. Phương pháp luận lưu trữ học. Trong đó vận dụng cơ sở lý luận về giá
trị tài liệu, những nguyên tắc và các tiêu chuẩn xác định giá trị tài liệu để lựa
chọn những loại tài liệu có giá trị của các trường đại học cần nộp vào lưu trữ.
3. Phương pháp nghiên cứu thực tế. Thông qua khảo sát tại một số trường
đại học. Từ khảo sát thực tế thấy được cơ cấu tổ chức và các hoạt động của
trường đại học. Qua khảo sát một số trường đại học thuộc Bộ Giáo dục - Đào
tạo, một số trường đại học thuộc Bộ chủ quản, một sô' trường đại học thành
viên của đại học quốc gia, để rút ra bài học thực tiễn công tác thu thập tài
liệu nói riêng và công tác lưu trữ nói chung của các trường đại học ở nước ta
hiện nay. Một số trường đại học sau:
8
- Khu vực Hà Nội : Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Y Hà Nội, Đại học
Sư phạm Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ( Đại học Quốc gia
Hà N ộ i), Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội.
- Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh : Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí
Minh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
- Khu vực Nghệ An : Đai học Vinh.
Ngoài ra dùng phương pháp điều tra xã hội học, gửi phiếu điều tra đi các
trường đại học ( xem Phụ lục 10 ).
4. Phương pháp hệ thống : Dùng để xác định mối quan hệ trong hệ thống
của các loại tài liệu, vai trò và giá trị của các loại tài liệu trong hoạt động của
một trường đại học.
V ỉ . Bô cuc nôi dung của luân ván :
Luận văn dài trang, ngoài Phần mở đầu và Kết luận, gồm ba chương :
Chương 1 : Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và sự hình thành các loại
tài liệu của trường đại học.
Chương này trình bày về chức năng, nhiệm vụ cơ cấu tổ chức của một
trường đại học. Qua đó xác định được nội dung thông tin được chứa trong khối
tài liệu được hình thành trong trường đại học và cũng từ đây thấy được giá trị
- Những văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục và đào tạo.
- Những văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác lưu trữ.
- Những tài liệu nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lưu trữ.
10
Tư liệu, sách về công tác lưu trữ của nước ngoài : Hội đồng Lưu trữ Quốc
tế, Trung Quốc, Nga, Pháp , Malaysia.
Các bài báo, các công trình được đăng trên các tạp chí trong ngành lưu trữ
và trong ngành giáo dục - đào tạo.
Tài liệu về những thành tựu trong hoạt động đào tạo và khoa học công
nghệ của các trường đại học.
Chương I
CHỨC NĂNG, NHIỆM vụ, c ơ CÂU T ổ CHỨC VÀ s ự HÌNH
THÀNH CÁC LOẠI TÀI LIỆU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường đại học.
1.1.1. Chức năng, nhỉẻm vu của trưởng đai hoc.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta có hệ thống các trường đại
học. Hoạt động của hệ thống các trường đại học rất phong phú. Nội dung hoạt
động của các trường đại học thể hiện ở một số mặt chủ yếu : Quản lý chỉ đạo,
giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, phục vụ ứng dụng những tiến bộ
khoa học vào lao động sản xuất và các hoạt động thực tiễn của xã hội. Chức
năng, nhiệm vụ của các trường đại học đã được khẳng định rõ ngay từ Nghị
quyết số 142 ngày 16/6/1966 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta về đào tạo
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học và quản ]ý kinh tế xã hội, các trường đại
học “ Phải đào tạo một đội ngũ đông đảo trí thức xã hội chủ nghĩa vừa có
phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công
nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công nông, vừa có trình độ khoa học kỳ
thuật và nghiệp vụ giỏi, vừa nắm được những quy luật tự nhiên và quy luật xã
hội, có năng lực động viên và tổ chức quần chúng đủ sức giải quyết những vấn
đề khoa học kỹ thuật và quản lý kinh tế do thực tiễn nước ta đặt ra Gần đây
nhít trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định phương hướng
Như vậy, các trường đại học có hai chức năng cơ bản là chức năng đào
tạo và chức năng nghiên cứu khoa học. Ngoài ra những trường có quy mô đặc
biệt , như đại học quốc gia, còn thêm nhiệm vụ khác nữa. Ví dụ, Đại học
Quốc gia Hà Nội có thêm nhiệm vụ : Hỗ trợ về học thuật cho một sô' trường
đại học khác và một số trường cao đẳng ở các địa phương.
Chức nănz đào tao.
Chức năng và nhiệm vụ đào tạo của trường đại học đã được Đảng ta chỉ
rõ : "Phải đào tạo một đội ngũ đông đảo tri thức xã hội chủ nghĩa vừa có phẩm
chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với
dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công nông vừa có trình độ khoa học kỹ thuật và
nghiệp vụ giỏi, vừa nắm được những quy luật tự nhiên và quy luật xã hội. "
( Nghị quyết số 142 ngày 16 tháng 6 năm 1966 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng). Trong Điều 35 của Luật Giáo dục ( Quốc hội khoá
X thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 ): “Mục tiêu của giáo dục đại học và
sau đại học là đào tạo người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục
vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với
trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “
[23, 25 ].
Cho đến nay, Đảng ta vẫn luôn khẳng định nhiệm vụ đào tạo của các
trường trong ngành giáo dục đào tạo, trong đó có các trường đại học có chức
năng, là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần
thứ IX khẳng định : "Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ
kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có
ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành
nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá. nhà kinh doanh, nhà quản
lý “ [50, 202 ].
14
Do nhu cầu phát triển của đất nước nói chung trong thời kỳ đổi mới,
thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tê và
của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ trong sự nghiệp đổi mới ( Nghị quyết
số 26/NQ-TW năm 1991 ) khẳng định : " Các trường đại học vừa là cơ sở đào
tạo, vừa là cơ sớ nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ Từ trong công
tác đào tạo đòi hỏi công tác nghiên cứu khoa học công nghệ nhằm nắm bắt
khoa học công nghệ mới, phục vụ sản xuất và từ trong công tác nghiên cứu
khoa học đã gắn bó với công tác đào tạo. Ngay từ sau Đại hội Đại biểu Đảng
toàn quốc lần thứ VI năm 1986, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn
diện , trong đó có đổi mới về công tác giáo dục và đào tạo. Qua việc thực
hiện các chương trinh đổi mới của ngành đại học, các trường đại học đã đi vào
việc đổi mới hệ thống giáo trình, chương trình cho thích hợp cơ chế mới, trong
đó có gắn liền công tác nghiên cứu khoa học.
Định hướng hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học phù
hợp có tác động đến công tác đào tạo , phục vụ sản xuất và đời sống. Nội
dung hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học rất phong phú.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề phải nghiên cứu và
tổng kết bằng lý luận. Nhiều khái niệm, phạm trù, các học thuyết kinh tế thị
trường và vai trò của Nhà nước cần làm sáng tỏ để vận dụng vào các thành
phần kinh tế ở Việt Nam. Các chính sách phải được nghiên cứu một cách khoa
học có cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học là nhiệm vụ chính
sau nhiệm vụ đào tạo. Hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường vừa
giúp phán nâng cao tri thức, tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, vừa là
cáu nối giữa nhà trường với thực tiễn sản xuất. Muốn đổi mới cóng tác đào tạo
16
cần phải đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường. Ví dụ như
Trường đại học Kinh tế Quốc dân, các đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ hàng
nãm được xuất bản làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy, nghiên cứu của
trường cũng như phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội [15, 13]. Từ kết quả hoạt
động nghiên cứu khoa học ở trường đại học đã nâng cao được trình độ và khả
năng của đội ngũ giáo viên và cũng nhờ có hoạt động nghiên cứu khoa học
đến năm 2000 : *
+ Đề tài cấp Nhà nước : 23 .
+ Đề tài cấp Bộ : 36 .
+ Đề tài cấp cơ sở : 796 .
- Đai hoc Kinh tế Quốc dân : Số lượng các đề tài khoa học giai đoạn từ
năm 1986 đến năm 2000:
+ Đề tài cấp Nhà nước : 25
+ Đề tài cấp Bộ : 143
+ Đề tài hợp đồng : 11. [19, 670]
Hàng năm Trường đại học Kinh tế Quốc dân bình quân có 120 báo cáo
khoa học sinh viên cấp khoa, 35 sinh viên có báo cáo khoa học dự hội thảo
khoa học cấp trường [19, 13 ].
- Đai hoc Bách khoa Hà Nối : Số lượng các đề tài nghiên cứu khoa học
trong năm 2001 :
+ Đề tài khoa học cơ bản cấp Nhà nước : 29
+ Đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ : 55. [43, 08]
18
Trong thời gian 5 nãm ( 1996 - 2000 ), sinh viên đại học Bách khoa Hà
Nội đã tham gia thực hiện 97 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, hàng trăm đề
tài cấp trường . Trong đó có 122 đề tài đạt giải cấp trường, 37 đề tài cấp Bộ và
26 công trình nhận giải thưởng VIFOTEC. [44, 20 ].
- Trường đai hoc Khoa hoc Xã hôi và Nhân văn ( Đại học Quốc gia Hà
Nội ) : Số lượng các để tài nghiên cứ^u khoa học trong 5 năm gần đây là :
+ Đề tài cấp Nhà nước : 3
+ Đề tài cấp thành phố : 1
+ Đề tài cấp Đại học Quốc gia : 105
+ Đề tài cấp trường : 97.
Công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên có ý nghĩa rất lớn trong
hoạt động khoa học công nghệ của trường đại học. Vấn đề này đã được ghi
trong bản Quy chế về nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường đại
và hiện đại hoá đất nước. Trong đó có đóng góp lớn của hoạt động khoa học
và công nghệ ở các trường đại học. Nhiệm vụ hoạt động khoa học công nghệ
được Hội nghị lần thứ Sáu Ban chấp hành Trung ương khoá IX chỉ rõ : “ Hoạt
động khoa học và công nghệ từ nay tới năm 2010 cần tập trung thực hiện
những nhiệm vụ chủ yếu là : Giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận và thực
tiễn do cuộc sống đặt ra. Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ; Đổi mới và nâng cao trình độ
công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhằm nhanh chóng thoát khỏi
tình trạng lao động thủ công, lạc hậu, tăng năng suất lao động, hiệu quả kinh
doanh, nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và
sức mạnh quốc phòng, an ninh. Chú trọng chuyển giao tiên bộ kỹ thuật và
20
thành tựu khoa học và công nghệ cho nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó
khăn. “ [ 16, 19 ]. Như vậy, cụ thể hoạt động nghiên cứu khoa học và triển
khai ứng dụng khoa học của các trường đại học góp phần đưa nhanh những
thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào thực tiễn đời sống và
sản xuất, đáp ứng yêu cầu của xã hội và thị trường, đổng thời đẩy mạnh họp
tác trong nước và quốc tế phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
quốc phòng.
1.1. 2. Co cấu tò chức của trường đai hoc.
Trên cơ sở những Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ về việc thành lập các trường đại học và Quyết đinh số 622/QĐ -
TCCP ngày 12/7/1985 của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp về Quy
định quyền hạn, trách nhiệm của Hiệu trưởng của các trường và từ những
chức năng nhiệm vụ chủ yếu của trường đại học là đào tạo và nghiên cứu khoa
học mà các trường đại học được tổ chức với các phòng, ban chức năng , các
khoa và các đơn vị hợp lý. Đê thực hiện đầy đủ và có hiệu quả, cơ cấu tổ chức
của một trường đại học được thành lập một cách chặt chẽ nhằm chỉ đạo toàn
diện mọi hoạt động của nhà trường. Nhìn chung các trường đại học có cơ cấu
tổ chức gồm các bộ phận sau:
Trong đó, các trường đại học thành viên của Đại học Thái Nguyên
cũng có các phòng, ban chức năng, các khoa như một trường đại học nói
chung.
Từ chức năng, nhiệm vụ chung của trường, mỗi khoa, mỗi phòng ban
chức nãng có chức năng nhiệm vụ riêng. Các phòng, ban chức năng chịu
trách nhiệm và giúp Hiệu trưởng về các mặt hoạt động của nhà trường. Ví dụ
như sau :
- Các khoa có chức năng giúp Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước
Hiệu trưởng nhà trường về việc quản lý chỉ đạo các mặt đào tạo chuyên ngành
và công tác nghiên cứu khoa học của khoa , trực tiếp quản lý sinh viên các lớp
chuyên ngành trong khoa.
- Phòng Hành chính tổng hợp : Phòng Hành chính tổng hợp giúp nắm tình
hình chung của trường, lo công tác đối nội, đối ngoại, quản lý công tác văn
thư - lưu trữ.
- Phòng Tổ chức - Cán bộ :* Giúp giải quyết các vấn đề vé tổ chức, nhân sự;
Quản lý hổ sơ cán bộ công chức của trường; Xây dựng kế hoạch và thực hiện
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo dục trong trường.
- Phòng Đào tạo đại học: Có nhiệm vụ theo dõi công tác giảng dạy của giáo
viên, học tập của sinh viên. Thực hiện nhiệm vụ tuyển sinh, quản lý theo dõi
sinh viên trong suốt quá trình học, làm thủ tục tốt nghiệp.
- Phòng đào tạo sau đại học : Có nhiệm vụ tham mưu giúp việc cho Hiệu
trưởng về tổ chức, quản lý, triển khai công tác đào tạo sau đại học bao gồm
thạc sỹ, tiến sỹ và các chương trình bồi dưỡng kiến thức khác.
- Phòng Quản lý khoa học : Chịu trách nhiệm chỉ đạo và quản lý công tác
nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ của giáo viên và sinh viên.