Yếu tố tự vấn trong Di cảo thơ Chế Lan Viên - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
D-ơng thị kim d- Luận văn thạc sĩ

Yếu tố tự vấn trong di cảo thơ chế lan viên
Chuyên ngành: văn học việt nam Mã số: 60.22.34
Giáo viên h-ớng dẫn: pgs.ts l-u khánh thơ

Hà nội, 2010

đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Mục đích và đối t-ợng nghiên cứu 11
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu 11
5. Bố cục của luận văn 12
Phần NộI DUNG
Ch-ơng 1: Những chặng đ-ờng thơ Chế Lan Viên
1.1. Thơ Chế Lan Viên từ tr-ớc cách mạng Tháng Tám 1945 13
1.2. Thơ Chế Lan Viên từ 1945 đến 1975 17
1.3. Thơ Chế Lan Viên từ 1975 đến 1986 32
1.4. Thơ Chế Lan Viên từ 1986 đến 1996 37
Ch-ơng 2. Yếu tố tự vấn - nguồn cảm hứng chính trong Di cảo thơ
Chế Lan Viên
2.1. Khái niệm 39
2.2. Sự thể hiện của yếu tố tự vấn trong Di cảo thơ Chế Lan Viên 40
2.2.1. Tự vấn là sản phẩm của quá trình nhận thức về cuộc sống 40
2.2.1.1. Nhận thức về tính phức tạp của con ng-ời 40
2.2.1.2. Từ nhận thức về quá khứ, hiện tại đến nhận thức về xã hội,
cuộc sống 43
2.2.2. Nhu cầu đ-ợc sống trung thực với bản thân mình 57
2.2.3. Những suy nghĩ về nhà thơ và nghề thơ 60

2
2.2.3.1. Suy nghĩ nhà thơ 60
2.2.3.2. Suy nghĩ về nghề thơ 69
2.2.3.3. Suy nghĩ về nhà thơ 80
Ch-ơng 3. Một số đặc điểm nghệ thuật Trong Di cảo thơ
Chế Lan Viên
3.1. Thể thơ 89

viên, đi sâu nghiên cứu thơ Chế Lan Viên sẽ giúp cho việc học tập- giảng dạy
tác phẩm của ông có hiệu quả hơn.
Trong các bài thơ, đặc biệt là trong phần Di cảo thơ, Chế Lan Viên đã
thể hiện tài năng thơ ca của mình trong việc bàn luận về văn ch-ơng, về thế
sự, về bản thân. Nhà phê bình Hoài Thanh đã đúng khi tiên đoán rằng cái
tháp Chàm Chế Lan Viên đứng sừng sững giữa đồng bằng thơ chắc chắn, lẻ

4
loi, bí mật. Năm m-ơi năm sau nó vẫn còn đầy bí ẩn. Đi từ tháp Chàm đến
tháp Bay-on là một chặng đ-ờng dài, nh-ng suốt chặng đ-ờng ấy, Chế Lan
Viên vẫn không ngừng tìm tòi đổi mới. Vì thế mà khi đã thành ng-ời thiên cổ
rồi, ông vẫn còn làm cho ng-ời ta phải bàng hoàng kinh ngạc về những tâm
sự còn giấu kín của mình. Nghiên cứu Di cảo thơ cũng là một cách để chúng
ta hoàn thiện bức chân dung về một nhà thơ lớn, một nhà phê bình văn học
tài năng, từ đó thấy rõ quan điểm nghệ thuật và những đóng góp to lớn của
ông cho nền văn học dân tộc.
Chúng tôi đặc biệt yêu thích thơ Chế Lan Viên vì nó rất độc đáo, mới lạ
cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện. Đặc biệt, thơ ông có tính chất trí tuệ,
triết lí sâu sắc. Cuối đời, những sáng tác của ông lại càng làm cho bạn đọc
bàng hoàng, ngỡ ngàng tr-ớc một hồn thơ luôn trăn trở về lẽ sống chết, về
thơ, về cuộc đời và về chính bản thân mình. Đọc xong những vần thơ ấy,
trong lòng ta bỗng nảy sinh biết bao ngẫm suy về lẽ đời, về con ng-ời để
thêm trân trọng và nâng niu những giờ phút mà ta còn đ-ợc tồn tại trên cõi
trần thế kì diệu mà cũng rất mực gần gũi, quen thuộc.
2. Lịch sử vấn đề
Chế Lan Viên là một g-ơng mặt độc đáo trong lịch sử văn học Việt
Nam hiện đại. Từ quyển Điêu tàn đột ngột xuất hiện giữa làng thơ nh- một
niềm kinh dị năm 1937 đến Di cảo thơ Chế Lan Viên, tập 3 năm 1996, ông
đã để lại một di sản văn học đồ sộ. Thơ Chế Lan Viên cũng đã trở thành một
hiện t-ợng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cây bút, nhiều nhà lí

địa hoang tàn, của bóng tối, hầm mộ, máu huyết
2.2. Từ sau năm 1945 đến nay
Sau cách mạng, vẫn còn có những bài phê bình về tập thơ đầu tay của
Chế Lan Viên. Các công trình nghiên cứu của các tác giả phía Nam đều
thống nhất đề cao Điêu tàn, coi đây là thành tựu đáng kể. Uyên Thao ca ngợi
Chế Lan Viên là một thần đồng thơ kì dị. Nguyễn Tấn Long cũng đã chỉ ra

6
Chế Lan Viên là thi sĩ có chiều h-ớng thơ khác lạ nhất trên thi đàn Việt Nam.
Có lẽ mãi mãi xa lắm về sau này cũng không có ai tạo đ-ợc phong cách khác
lạ nh- ông.
Thậm chí, có một số ng-ời đề cao hết lời tập Điêu tàn để chê bai thơ
Chế Lan Viên giai đoạn sau này là kém cỏi. Thực chất ở đây, họ nhằm vào
chính trị, nhằm xuyên tạc, phê phán đ-ờng lối của Đảng. Họ cho rằng, chỉ có
mỗi tập thơ đầu tay của Chế Lan Viên là có giá trị, còn lại những tập thơ sau,
d-ới sự kìm hãm của Đảng, những thi nhân đầy tài năng nh- Chế Lan Viên
chỉ nh- những bông hoa đã nhạt phai h-ơng sắc. Có lẽ vì vậy nên những sáng
tác sau này của nhà thơ ít đ-ợc các tác giả phía Nam quan tâm để ý đến.
ở miền Bắc, các công trình nghiên cứu của các tác giả đều thống nhất
khẳng định Chế Lan Viên là nhà thơ tài năng về mọi ph-ơng diện. Họ hầu
hết đều nhận thấy có sự chuyển biến của thơ Chế Lan Viên qua từng thời kì
và khẳng định sự đóng góp đáng kể của ông vào tiến trình hình thành, phát
triển của thơ ca cách mạng. Giai đoạn này có các công trình nghiên cứu chủ
yếu sau:
Sách Lịch sử văn học Việt Nam của tr-ờng Đại học Tổng hợp Hà Nội,
tr-ờng Đại học S- phạm Hà Nội.
Cuốn: Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu n-ớc, các bộ lí luận văn học
của nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu thơ đề cập đến Chế Lan Viên
nh-: Phong trào Thơ Mới (Phan Cự Đệ), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt
Nam hiện đại, Một thời đại mới trong thi ca (Hà Minh Đức), Tìm hiểu thơ

ng-ời đọc, khêu gợi củng cố hứng thú thẩm mĩ của họ, bằng cách cho họ tiếp
xúc với những bất ngờ và t-ơng phản trong ý thơ, trong hình ảnh, trong kết
cấu, trong nhạc điệu từ cuộc sống lớn đến niềm riêng, từ xã hội đến thiên
nhiên, từ hiện tại đến quá khứ, từ yêu th-ơng đến giận dữ, từ yên tĩnh đến
bàng hoàng, từ trang nghiêm đến trào lộng. [29,86]

8
Di cảo thơ tập 1,2,3 ra đời đánh dấu một b-ớc phát triển mới trong
hành trình thơ Chế Lan Viên. Ông càng đ-ợc d- luận chú ý. Hàng loạt những
bài viết ra đời, chủ yếu đánh giá tổng quát đời thơ của ông từ Điêu tàn đến Di
cảo thơ. Các tác giả đều chỉ ra những đặc sắc của phong cách thơ Chế Lan
Viên trong suốt hành trình sáng tác: từ truyền thống đến cách tân, từ thể loại
đến đề tài Nguyễn Thái Sơn có Chế Lan Viên và Di cảo thơ, Nguyễn Bá
Thành với Đọc hai tập Di cảo thơ, Phạm Xuân Nguyên có Chế Lan Viên -
ng-ời đi tìm mặt, Đoàn Trọng Huy có Khuynh h-ớng vận động thơ Chế Lan
Viên từ sau 1975, Trần Mạnh Hảo với Ng-ời làm v-ờn vĩnh cửu. Nhiều bài
viết đ-ợc tập hợp trong cuốn Chế Lan Viên Ng-ời làm v-ờn vĩnh cửu. Cuốn
Thơ Chế Lan Viên-Những lời bình do Mai H-ơng-Thanh Việt tuyển chọn đã
tập hợp đ-ợc những bài nghiên cứu về con đ-ờng và tầm vóc thơ Chế Lan
Viên cũng nh- điểm qua những tập thơ, những chặng đ-ờng thơ của ông. Hai
tác giả cũng đã giới thiệu với ng-ời đọc những bài đặc sắc nhất trong đời thơ
của ông. Các tác giả đều nhận ra có những tình cảm, có những nỗi niềm,
những giá trị nhân văn và nghệ thuật chỉ đến khi đọc thơ di cảo của ông ta
mới nhận ra. Ta càng hiểu ông. Càng kính trọng ông, và càng th-ơng Chế
Lan Viên hơn. [29,423] Nguyễn Thái Sơn đã nhìn ra cái phức tạp trong con
ng-ời, trong thơ Chế Lan Viên qua Di cảo thơ: Diện mạo thơ, chân dung thơ
của Chế Lan Viên tr-ớc đây, sắc sảo đến mấy, thần sắc đến mấy cũng chỉ
mới ở trên một mặt phẳng, còn thơ ch-a in và thơ sau khi nhà thơ từ trần, đã
tạo nên một diện mạo có chiều kích khác. Đó là phù điêu. Đó là t-ợng tròn.
Đó là t-ợng đài. Phạm Quang Trung lại có bài Đọc Chế Lan Viên và Di cảo

cảo thơ, chúng ta thấy Chế Lan Viên quả là một thi tài hiếm có. Song không
phải nh- vậy có nghĩa là ông không có một hạn chế nào. Nhà phê bình Hà
Minh Đức đã thấy rõ: trong thơ Chế Lan Viên thiếu sự gắn bó trực tiếp với
nhiều phạm vi của đời sống nên trong thơ anh sự chuyển hóa giữa hiện thực
và lí t-ởng, giữa cái trừu t-ợng và cụ thể th-ờng gặp khó khăn. Màu xám của
ý niệm không trở về đ-ợc với cây đời xanh t-ơi, lý trí vẫn dừng lại trong quỹ

10
đạo luận bàn của lý trí xa vời với cuộc đời đang vỗ sóng ở ngoài kia. (15,69)
Nguyễn Bá Thành, viết về hai tập đầu của Di cảo thơ, đã có nhận xét nhẹ
nhàng nh-ng rất đúng đắn rằng: Dẫu sao, Di cảo thơ của Chế Lan Viên cũng
đã phản ánh cố gắng cuối cùng của một thi sĩ góp nhặt những câu thơ để lại
cho đời. Có thể ngày hôm nay ta ch-a hiểu hết tác giả Di cảo thơ, hoặc ch-a
bằng lòng với một số bài thơ, câu thơ ở đây, nh-ng hai cuốn sách đã làm
phong phú thêm đa dạng thêm thơ Chế Lan Viên, một nhà thơ có nhiều đóng
góp cho thơ Việt Nam hiện đại.
Nghiên cứu thơ Chế Lan Viên một cách t-ơng đối toàn diện và có hệ
thống còn phải kể đến một số luận văn thạc sỹ, tiến sỹ của các tác giả nh-
Ngô Bích Thu, Hồ Thế Hà, Tạ Thị Kim Toàn Các tác giả đi sâu nghiên cứu
thế giới nghệ thuật thơ, quan điểm nghệ thuật của Chế Lan Viên tr-ớc và sau
cách mạng.
Tác giả Vũ Tuấn Anh đã tuyển chọn và giới thiệu những bài viết về Chế
Lan Viên trong cuốn sách Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm. Cuốn sách
đ-ợc tuyển chọn và biên soạn khá công phu đã cung cấp cho ng-ời đọc một
cái nhìn t-ơng đối đầy đủ và hệ thống về sự nghiệp Chế Lan Viên thông qua
việc tuyển chọn và giới thiệu những bài nghiên cứu , phê bình, t- liệu, hồi ức
về Chế Lan Viên. Đây thực sự là công trình tham khảo hệ thống nhất về tác
giả Chế Lan Viên.
Phải thừa nhận việc nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên khá tập trung và có
nhiều thành tựu. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu mới chỉ nhìn

Luận văn tập trung phân tích yếu tố tự vấn thể hiện qua các sáng tác của
Chế Lan Viên, chủ yếu là trong Di cảo thơ.
4.2. Ph-ơng pháp tổng hợp
Luận văn tiến hành tổng hợp, khái quát hóa các kết quả phân tích để rút
ra các kết luận cần thiết.

12
4.3 Ph-ơng pháp so sánh
Luận văn cũng sử dụng ph-ơng pháp so sánh, đối chiếu các sáng tác của
Chế Lan Viên qua các thời kì, sáng tác của Chế Lan Viên với các nhà thơ
khác để thấy rõ nét độc đáo, đặc sắc và đóng góp của Chế Lan Viên trong thơ
ca dân tộc.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Những chặng đ-ờng thơ Chế Lan Viên
Ch-ơng 2: Yếu tố tự vấn - nguồn cảm hứng chính trong Di cảo thơ Chế
Lan Viên
Ch-ơng 2: Một số đặc điểm nghệ thuật trong Di cảo thơ Chế Lan Viên 13
Phần NộI DUNG
Ch-ơng 1: Những chặng đ-ờng thơ Chế Lan Viên

[Tạo lập, 71]
Cũng nh- bao nhà thơ lãng mạn khác, chán cõi trần thế, ông h-ớng
những vần thơ của mình vào cõi địa ngục tối tăm, không thể chịu đựng nổi
thực tại, ông lẩn trốn vào quá khứ để thể hiện nỗi bi phẫn của mình:
Ai đâu trở lại mùa thu tr-ớc
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
Với của hoa t-ơi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo xuân sang.
[Xuân, 71]
Nh-ng nếu chỉ có vậy thì Điêu tàn cũng không thể trở thành niềm kinh
dị nh- nhà phê bình Hoài Thanh đã nói. Cái làm nên điểm khác biệt của
Điêu tàn chính là ở chỗ, đối t-ợng mà cái tôi trong Điêu tàn h-ớng tới là
hoàn toàn khác hẳn các nhà Thơ mới khác. Huy Cận với nỗi buồn bâng
khuâng trời rộng, sông dài; Xuân Diệu thì buồn vô cớ: Hôm nay trời nhẹ lên
cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn; Chế Lan Viên là ng-ời duy nhất
h-ớng nỗi buồn th-ơng của mình tới một dân tộc đã bị diệt vong từ lâu: dân
tộc Chàm. Ngay cả khi xuân đến, cảnh vật t-ơi mới nh- đ-ợc hồi sinh sau
những ngày đông lạnh giá, nhà thơ cũng không thể không bị ám ảnh bởi
những hình ảnh nh- máu chảy, đầu rơi của những chiến sĩ Chàm thuở nào:
Hãy bảo ta: cánh hoa đào mơn mởn
Không phải là khối máu của dân Chàm
Quả dừa xanh không phải đầu chiến sĩ
Xác pháo rơi không phải thịt muôn ng-ời.
[Xuân về, 71]

15
Chìm vào thế giới của Điêu tàn là chìm vào thế giới của cõi âm rùng rợn
với những sọ ng-ời, x-ơng trắng, hầm mộ, máu huyết Có thể nói, cả hiện
tại và t-ơng lai trong Điêu tàn là sự chết chóc và hủy diệt:
Cả Dĩ Vãng là nấm mồ vô tận

vũ trụ. Nh- vậy, con đ-ờng thoát ly hiện thực mà họ tìm kiếm cũng chính là
thoát ly vào chính mình, tâm sự với cõi lòng mình. Bởi lẽ, dù là cõi âm, cõi
mộng hay cõi tiên cũng chỉ là những ảo ảnh do trí t-ởng t-ợng sáng tạo ra
chứ ch-a bao giờ là những thực thể có trong hiện thực.
Nh-ng dù thoát ly bằng cách nào, Chế Lan Viên cũng không tìm ra
một lối thoát thực sự. Để rồi, ông đã phải thốt lên: Ai bảo giùm: Ta có có ta
không?, ông nghi ngờ ngay cả sự tồn tại của chính bản thân mình!!! Chỉ một
câu thơ ấy đủ cho ta thấy những dằn vặt, băn khoăn của một con ng-ời khát
khao thấu hiểu mọi lẽ, mà tr-ớc hết là thấu hiểu chính bản thân mình, sự tồn
tại hay không tồn tại của mình. Nó còn chứng tỏ một Chế Lan Viên sắc sảo,
lắng đọng và chất chứa tầng tầng ý nghĩa đằng sau ngôn từ. Ông sớm nhận
thức và đặt ra những vấn đề , đòi hỏi đ-ợc lý giải và phần nào đã tự mình lý
giải các vấn đề về triết lý nhân sinh. Ông đã có sự bao quát chú ý đến các vấn
đề của cuộc sống
Không để mặc con ng-ời mình bị cuốn theo những cảm xúc tự nảy sinh,
Chế Lan Viên luôn khao khát hiểu thấu đến tận cùng bản chất mọi vấn đề.
Khi lục tìm vào bể sâu của đáy lòng mình, không có một nhà thơ mới nào lại
day dứt, trăn trở về sự hiện hữu của bản thân mình nhiều nh- Chế Lan Viên.
Những câu hỏi tự vấn lòng mình xuất hiện nhiều trong thơ ông: Ta là ai? Vì
sao lại có sự hiện diện của ta trong cõi đời này? Ta phải làm gì để sự hiện
diện ấy trở thành bất tử? Những câu hỏi ấy nh- xoáy vào tâm can ông, dày
vò ông, nó khiến ông dằn vặt và đau đớn; nó chi phối suốt chặng đ-ờng sáng
tác của Chế Lan Viên từ Điêu tàn cho đến những trang Di cảo cuối đời.

17
1.2. Thơ Chế Lan Viên từ 1945 đến 1975
ánh sáng của cuộc đời mới đã xua tan những u ám trong tâm hồn thi sĩ
trẻ tuổi ấy. Song hành cùng thời đại mới, những tập thơ mới của Chế Lan
Viên lần l-ợt ra đời đánh dấu những b-ớc ngoặt lịch sử trong thơ Chế Lan
Viên, cũng là những b-ớc ngoặt kì diệu của lịch sử dân tộc.

và Chế Lan Viên nói riêng gắn liền với từng b-ớc, từng giai đoạn phát triển
của hiện thực cách mạng. Chế Lan Viên đã lấy hiện thực cách mạng bồi đắp
lên những trang thơ, lấy lí t-ởng của Đảng soi đ-ờng cho hình t-ợng thơ của
mình. Nh-ng b-ớc đầu của sự chuyển h-ớng, mỗi nhà thơ không tránh khỏi
những nỗi lòng băn khoăn trăn trở. Cũng nh- phần đông các nhà thơ lãng
mạn khác, Chế Lan Viên đã lựa chọn con đ-ờng Cách mạng. Nhà thơ không
còn chạy trốn vào cõi trăng sao hay cõi âm lạnh lẽo:
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để ở đó tháng ngày tôi lẩn tránh
Những -u phiền đau khổ với buồn lo
mà nhìn thẳng vào cuộc đời của mình, của đất n-ớc, của nhân dân với
thái độ dũng cảm. Từ một thi sĩ ẩn trong Đài thơ, Tháp nghĩ của riêng mình,
ông đã lột xác thành một thi sĩ- chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, góp sức mình
vào việc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hòa mình vào cuộc sống kháng chiến,
nhà thơ cũng hòa mình vào cuộc đời các chiến sĩ để sáng tác phục vụ kháng
chiến. Đi theo các đoàn bộ đội, dân công ra tiền tuyến, Chế Lan Viên đã trở
thành nhà thơ của nhân dân, nhà thơ của Đảng. Từ chỗ là một thi sĩ không
phải là Ng-ời- là Ng-ời Mơ, Ng-ời Say, Ng-ời Điên, giờ đây ông đã có một
quan niệm hoàn toàn ng-ợc hẳn: Tr-ớc hết chúng ta làm văn nghệ là để tả sự
thật. Vả chăng sau này muốn truyền cảm cho ng-ời đọc, cố nhiên không phải
chỉ nói cái cảm xúc của ta mà phải nói cả sự việc. Nghe cảm xúc ch-a hẳn
độc giả đã hình dung lại sự việc. Nh-ng nghe sự việc nhất định độc giả sẽ
nhờ đó mà cùng ta cảm xúc. Từ đây, con ng-ời ông và thơ ông thực sự gắn bó
với cách mạng, với Đảng.

19
Đến ngày kháng chiến thắng lợi thì sự chuyển mình của ông cũng hoàn
toàn thành công. Thơ ông đã đem đến cho đời những mùa quả ngọt đầu tiên
sau ngày hòa bình. Gắn bó với sự nghiệp cách mạng, Chế lan Viên đã cho ra

ng ui th tụi, vỡ mt chỳt chiu tà ng búng
Hóy kiờn lũng, s thy nng mai lờn
V vi s n lc khụng mt mi, nh th ó khụng ph lũng mong i
ca bn yờu th khi cho ra mt liờn tip nh sỏng v phự sa (1960), Hoa
ngy thng chim bỏo bóo (1967).
ánh sáng và phù sa là một minh chứng chứng tỏ Chế Lan Viên có sự
chín muồi về t- t-ởng và phong cách . Nó cho thấy sự cách tân quan trọng
của Chế Lan Viên nói riêng và của cả nền thơ ca Việt Nam nói chung. Có thể
nói âm h-ởng chủ đạo của Chế Lan Viên viết về đất n-ớc trong giai đoạn này
là âm h-ởng trữ tình, ngợi ca. Đất n-ớc sau những ngày tăm tối đau th-ơng
giờ đây đã thực sự bừng sáng. Miền Bắc đ-ợc giải phóng sau chiến dịch lịch
sử Điện Biên Phủ cũng là lúc hồn thơ Chế Lan Viên hừng sáng. Hình ảnh đất
n-ớc vì thế mang vẻ t-ơi sáng, trong trẻo, diễm lệ vô ngần:
tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào
Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ
Con ngọc trai đêm hè đáy bể
Uống thủy triều bỗng sáng hạt châu
[Chim l-ợn trăm vòng, 67]
Những vạc dầu, địa ngục, bãi tha ma đã qua đi, nh-ờng chỗ cho những
bức họa tràn đầy màu sắc và thấm đ-ợm tình ng-ời. Nh-ng không phải Chế
Lan Viên đã cắt đứt ngọn nguồn thơ mình với quá khứ. Những suy t- của ông
vẫn mang dấu vết thuở Điêu tàn. Từ câu hỏi:

21
Ta là ai? Nh- ngọn gió siêu hình
Câu hỏi h- vô thổi nghìn nến tắt
đến câu hỏi:
Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay ng-ời thắp lại triệu chồi xanh
là một hành trình dài thể hiện sự chuyển biến trong thơ Chế Lan Viên.

Múc trong suối của dòng đời lóng lánh
Chúng reo c-ời trong lúc máu ta rơi
(Đế quốc Mỹ là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta)
Cái điều đáng ghê tởm là bọn giết ng-ời vẫn có mặt ng-ời. Mang bộ
mặt ng-ời ấy nh-ng tâm hồn của quỷ dữ- tâm hồn vô cảm tr-ớc nỗi khổ đau
của con ng-ời, của những đứa trẻ thơ đang máu chảy, đầu rơi Liệu có thể
coi đó là những con ng-ời?
Căm phẫn đấy, đau xót đấy nh-ng nhà thơ vẫn chứng tỏ một niềm lạc
quan, tin t-ởng vào t-ơng lai chiến thắng của dân tộc. Sao chiến thắng đã ánh
lên sắc màu của chiến thắng và ngân vang âm h-ởng hào hùng:
Đêm nay sao chín vàng nh- thóc giống
Phải đêm nay trời cũng đ-ợc mùa?
Trời sao cao nh- là chiến trận
Sao sáng ngời vũ khí lòng ta!
Nghe rào rạt m-ời bốn triệu miền Nam đang tỉnh thức
Không! Ba m-ơi triệu kim c-ơng của thiên hà tổ quốc!
Không! Hàng nghìn triệu ngôi sao sáng anh em đang chiếm lĩnh bầu trời
Hứa một Mùa Gặt lớn ngày mai!

23
Cùng với việc dựng lên một đất n-ớc Việt Nam anh hùng trong chiến
đấu và xây dựng xã hội chủ nghĩa, Hoa ngày th-ờng chim báo bão còn là
những xúc cảm tinh tế của nhà thơ về cuộc sống đời th-ờng, về tình bạn tình
yêu, tình cha con, tình vợ chồng ở đó ng-ời đọc nhận thấy một cái tôi
nặng tình đời, tình ng-ời. Tất cả những cung bậc của tình cảm đó, nhà thơ
đều có xu h-ớng v-ơn ra ngoài, tìm đến cái ta rộng lớn và bao dung. ở đó,
cái riêng đ-ợc đặt trong cái chung, trong cộng đồng dân tộc. Cái riêng Hoa
ngày th-ờng đ-ợc đặt trong cái chung Chim báo bão:
Em đây hoa những ngày th-ờng
Yêu quá thành hoa chiến đấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status