Báo chí với vấn đề nhân tài và sử dụng nhân tài hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ QUANG HUY BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ NHÂN TÀI
VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ

HÀ NỘI - 2007
1
MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi nói đến sức mạnh của một quốc gia, mọi người đều
thừa nhận rằng, nguồn nhân lực, nhân tài là yếu tố quan trọng nhất, quyết định
nhất. Trong đú, nhõn tài là bộ phận tinh tỳy, cú giỏ trị nhất của nguồn nhõn
lực quốc gia. Vỡ vậy, việc nghiờn cứu và phỏt triển nhõn tài, đào tạo bồi
dưỡng nhân tài, thu hút và sử dụng nhân tài đó trở thành quốc sỏch của nhiều
quốc gia.
Đảng và Nhà nước ta đang có nhiều chủ trương chính sách để thu hút
người tài phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Trên nhiều lĩnh vực, đã xuất
hiện nhiều tấm gương, cỏc điển hình tiên tiến, cỏc nhõn tài. Họ đó cú những
đóng góp rất đáng kể cho đất nước. Việc cổ vũ các cá nhân, điển hình này là
việc làm rất cần thiết, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, sự đam mê nghiên cứu
khoa học, đam mê làm giàu chính đáng, cống hiến sức trẻ cho đất nước.
Tuy nhiên hiện nay, chính sách trọng dụng người tài ở nước ta vẫn
còn rất nhiều bất cập: có lúc, có nơi người tài bị đố kỵ, không được trọng
dụng, không có môi trường làm việc chuyên nghiệp, cỏc ngành, cỏc cấp chưa
có cơ chế thông thoáng, chế độ đãi ngộ cho họ, chính sách thu hút người tài ở
các địa phương chỉ là hình thức, không có thực chất Chính vì vậy, người tài
chưa phát huy được hết sức lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp đổi mới.
Báo chí nước ta, bên cạnh việc nhiều nhiệm vụ tuyờn truyền quan

nước ta bờn cạnh những thành tựu và tiến bộ vẫn còn nhiều bất cập, khiến
người tài chưa được trọng dụng, chưa phát huy được hết sức lực và trí tuệ của
mình cho sự nghiệp đổi mới.
Thực tế ấy đang là một vấn đề "núng", thu hỳt sự quan tõm của toàn
xó hội. Độ "núng" của nú khụng thua kộm bất cứ đề tài nào như chống tiờu
cực hay cỏc tin tức núng hổi liờn quan trực tiếp đến đời sống người dõn….
Bởi độ "núng" ấy mà trên báo chí nước ta, vấn đề nhân tài và sử dụng nhân tài
được nhiều tờ báo rất chỳ ý và bạn đọc rất quan tâm. Sự quan tõm đặc biệt
của bỏo chớ đối với mảng đề tài này phản ỏnh sự quan tõm chung của toàn xó 3
hội. Thực tế tuyên truyền trên báo chí nước ta những năm gần đây về vấn đề
nhân tài và sử dụng nhân tài đó đặt ra một số yêu cầu cấp thiết. Đó là việc
định hướng tuyên truyền, khẳng định vị trí và tầm quan trọng của việc tuyờn
truyền và nhất là khắc phục nhiều điểm hạn chế của báo chí trong tuyờn
truyền về vấn đề này để tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa hiệu quả và chất
lượng tuyờn truyền, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất
nước.
Điều đó khẳng định ý nghĩa thiết thực cũng như tính cấp thiết của việc
nghiên cứu về báo chí những năm gần đây trong tuyên truyền về vấn đề nhân
tài và phát huy nhân tài đất nước.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng vấn đề nhân tài và sử dụng nhân tài ở nước ta
hiện nay. Qua đó đề xuất những ý kiến đóng góp vào chủ trương, chính sách
đào tạo, đãi ngộ, trọng dụng nhân tài.
- Nghiên cứu các tác động xã hội của việc tuyên truyền trên báo chí
đối với vấn đề phát huy nhân tài đất nước hiện nay.
- Trên cơ sở khảo sát về tần số xuất hiện, nội dung và quan điểm tuyên
truyền của báo chí để từ đó rút ra một số kinh nghiệm, một số biện pháp

- Tập hợp các tài liệu, các văn bản về chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nhân tài, đào tạo và trọng dụng nhân
tài hiện nay.
- Khảo sát tất cả các số báo đã ra trong năm 2005 tới nay của 3 tờ
Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chớ Minh, Thanh niên và Vietnamnet. Trên cơ sở đó
để phân tích, khảo sát, đánh giá, rút ra kết luận. 5
- Điều tra xã hội học bạn đọc về vấn đề tuyên truyền về nhân tài và
tác động xã hội của việc tuyên truyền trên báo chí.
- Trên cơ sở những dữ kiện, thông tin thu thập được để phân tích,
đánh giá, rút ra kết luận, đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Báo chí với nhiệm vụ tuyên truyền về vấn đề nhân tài và
phát huy vai trò của nhân tài trong xây dựng đất nước.
Chương 2: Thực trạng của việc tuyên truyền về vấn đề nhân tài và sử
dụng nhân tài trên báo chí hiện nay.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về vấn
đề nhân tài và sử dụng nhân tài trên báo chí hiện nay. 7
quốc gia. éể làm tốt được những việc đó, trước hết cần phải hiểu rừ bản chất
của vấn đề nhân tài và phát triển nhân tài.
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học xã hội - 1994, do Văn Tân
chủ biên), Nhân tài được định nghĩa là Người có tài.
Đú là định nghĩa cơ bản nhất nhưng theo cách hiểu đơn giản, nhân tài
là những người có tài năng thực sự trong lĩnh vực hoạt động nào đó. Biểu hiện
cụ thể ai cũng thấy là, họ luôn luôn hoạt động đạt hiệu quả cao, hiệu quả xuất
sắc, xuất chúng trong lĩnh vực hoạt động đó.
Dưới góc độ khoa học, khái niệm nhân tài gắn liền khái niệm năng
lực. Năng lực là một trong những thuộc tính tâm lý cơ bản của nhân cách. éú
là khả năng của con người có thể hoàn thành tốt một lĩnh vực hoạt động nào
đó. Xét về cấu trúc, năng lực là một tổ chức thuộc tính của cá nhân phù hợp
với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định. Nếu sự phù hợp
càng cao, năng lực càng có điều kiện phát triển cao, con người càng dễ phát
triển tài năng. Có ba mức độ của năng lực:
+ Mức độ 1: Người có năng lực. éú là người luôn luôn hoàn thành tốt
công việc, đảm đương tốt chức trách được giao, là người làm việc có kế hoạch
có sáng tạo ở mức độ nhất định, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, là
người có chủ kiến, bản lĩnh và quyết đoán trong mọi tỡnh huống, là người biết
nhỡn xa trụng rộng, cú bản lĩnh, tự tin và thụng minh.
+ Mức độ 2: Con người tài năng. Là con người có những phẩm chất
giống như người có năng lực nhưng ở mức độ cao hơn. Họ luôn hoàn thành
rất xuất sắc công việc, dù bị nhiều khó khăn, trở ngại. Kết quả công việc của
họ thường là rất kiệt xuất, hiếm có, hiệu quả rất cao, ý nghĩa rất lớn, rất sỏng
tạo, ớt người đạt được. Họ là người có tính chiến lược, chiến thuật rất cao
trong hoạt động, say mê, nhiệt tỡnh, tớch cực trong hoạt động đó. Hiệu quả
công việc của họ có ý nghĩa ở tầm cỡ quốc gia, quốc tế, có tác động lớn đến

Nhõn tài hiểu một cách bao quát nhất là người tài năng, có những
phẩm chất thiên bẩm, phi thường. Cho dù tiềm năng đó không được khai thỏc, 9
phỏt triển và khụng cú cống hiến cho xó hội thỡ với nền tảng tri thức cơ bản,
tư chất nổi trội hơn người vẫn quan niệm họ là nhõn tài.
Tiêu chí đánh giá một người là nhõn tài rất khú cụ thể húa. Thợ
thuyền cũng cú anh thợ cả, thợ phụ. Một công nhân tinh thụng nghề nghiệp,
thụng minh, sỏng tạo, cú nhiều sỏng kiến trong cụng việc, tiết kiệm hàng chục
triệu đồng cho quốc gia cũng phải được xem là nhõn tài của đất nước. Trong
khi ngài giáo sư khả kính, ăn diện, dáng oai phong, bệ vệ nhưng cả sự nghiệp
khoa học không nghiên cứu được cụng trỡnh nào ứng dụng thực tiễn, làm lợi
cho nhân dân, cho đất nước, không gọi là nhân tài.
Người có tài năng lại có cái tâm và chọn mục đích mang kết quả lao
động của mỡnh ra để phụng sự cho xó hội, cho tiến bộ khoa học, thỡ người đó
có đủ tiền đề để trở thành nhõn tài. Khi những đóng góp chưa có điều kiện
thực hiện, họ vẫn chỉ là người có tài năng, cũn nếu những đóng góp chứng tỏ
giá trị, họ sẽ được công nhận là nhõn tài.
Vậy thỡ, những tài năng và nhõn tài đều có thể có trong mọi thời kỳ,
và tập trung theo ba lĩnh vực gồm:
- Nhõn tài - lónh đạo (tham gia điều hành một tập thể với cỏc chức vị
lónh đạo )
- Nhõn tài - trớ thức (cỏ nhõn theo đuổi chuyên môn tự nhiên và xó
hội: bỏc sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ )
- Nhõn tài trong lao động- sản xuất (công nhõn, nụng dõn, thợ thủ cụng )
Nguyờn khớ quốc gia phải dựa vào cả ba nguồn nhõn tài trên, trong đó
nhõn tài - lónh đạo đóng vai trũ quyết định nhất đến sự thịnh suy của nguyên
khí này.
Có tài chỉ là điều kiện cần. Có đức là điều kiện đủ. Người lónh đạo

trời phú) và sự đam mê công việc mà mỡnh yờu thớch. Đó là những người có
thể cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp, cho ý tưởng mà mình đã theo đuổi. 11
Nhõn tài là những người luôn tạo nên sự khác biệt, làm được những việc họ
muốn làm, luôn lăn xả trong công việc, biết đam mê và có kỹ năng thuần thục
kèm theo tính sáng tạo.
Đọc truyện "Tam quốc" chúng ta đều biết, Lưu Bị ba lần đến lều tranh
mới vời được Khổng Minh ra giúp, hũng khụi phục cơ đồ nhà Hán. Trong khi
đó, Từ Thứ làm tân khách của Tào Tháo nhưng vỡ oỏn Tào giả thư của mẹ dụ
mỡnh về khiến bà phải tự sỏt, dự ở trong quõn Tào được đói đằng trọng thị
vẫn ba năm không hiến một kế. Từ đó có thể hiểu nhõn tài bao giờ cũng lấy
nghĩa khí làm đầu. Nhân tài thường là những người có lòng tự trọng cao.
Tuy nhiên, khi đi tỡm minh chỳa để phũ, những người có tài không
chỉ vỡ muốn thi thố tài năng, mà cũn muốn được vinh hiển, có quyền cao
chức trọng. Nghĩa khí không loại trừ nhu cầu vật chất.
Trong lịch sử đương đại, thế giới chứng kiến nạn chảy máu chất xám.
Cuối những năm 30 thế kỷ trước, nhiều nhà bác học Đức (trong đó có Albert
Einstein) bỏ sang Mỹ để phản đối chủ nghĩa phát xít. Chiến tranh thế giới kết
thúc, người Mỹ dang tay đón thêm các nhà khoa học Đức đó làm ra tên lửa
mang bom V1, V2 cho Hitler đánh phá London. Tiềm lực khoa học của nước
Mỹ tăng lên đáng kể, giúp Mỹ mau chóng hoàn thiện bom A, chế tạo bom H
và đưa lên người mặt trăng. Sau khi Liên xô sụp đổ không ít nhà khoa học
Nga lại sang làm việc ở Mỹ. Đó là ba đợt "di cư" ồ ạt. Cũn dũng chất xỏm của
Ấn Độ, của châu Phi sang phương Tây vẫn đều đều, không ồn ào nhưng
cộng lại số người rời đất nước ra đi không phải nhỏ. Có thể quy các hiện
tượng trên vào mấy nguyên nhân: do ý thức chớnh trị của cỏc nhõn tài; đó là
người có hoài bóo, ai cũng muốn cú đất dụng vừ, muốn tỡm cơ hội thi thố tài
năng; là con người ai cũng cần có cuộc sống thoải mỏi.

tác phẩm văn học nghệ thuật bất hủ được sinh ra từ một bộ óc có trí tưởng
tượng bay bổng và một trái tim nhân hậu đó sao? Xin đừng nghĩ chỉ có những
người hoạt động khoa học xó hội mới cần đến những tố chất bay bổng bờn
trờn hiện thực. Những chiếc máy bay phản lực, máy bay chở khách, những 13
chiếc ô tô du lịch sang trọng, những chiếc tàu thủy đẹp như những tũa biệt thự
nổi trờn biển khụng thể được sản xuất từ những cái đầu trọc phú, mà phải từ
những cái đầu lóng mạn, dư thừa trí tưởng tượng.
Người hiền tài có nhiều đặc điểm hiện diện thế. Nhưng nhận diện ra
người hiền tài và sử dụng được người hiền tài là cả một vấn đề lớn, không
đơn giản chút nào. Bởi trong cuộc sống, người ta dễ nhầm lẫn người chân tài
(thực tài) với kẻ hư tài (bất tài). Người tài thường hiện hữu trước đồng loại
với tất cả những gỡ mỡnh cú. Kẻ bất tài thường tạo ra một cái vỏ bọc mỹ
miều để che đậy sự kém cỏi bên trong. Người tài nói thế nào làm thế ấy. Kẻ
bất tài sống lập lờ, hai mặt nói rất hay ho nhưng làm rất dở. Khi làm dở
thường tỡm cỏch ngụy tạo, đổ lỗi cho người khác. Cấp trên mà bất tài, hư tài
thỡ khú cú thể chấp nhận một người chân tài dưới quyền mỡnh, bởi kẻ bất tài
thường có tầm nghĩ cạn, tầm nhỡn ngắn, cú thúi ớch kỷ, hẹp hũi, đố kị, khó có
thể đồng cảm, đồng điệu, tri âm tri kỷ được với người tài. Hơn nữa, nếu sử
dụng người tài, kẻ bất tài thường lo sợ canh cánh một điều rằng, đến một ngày
nào đó, người tài sẽ ngồi vào chỗ của họ Hiện tượng "ố nhõn thắng ký" này
là một tác nhân kéo lùi bước tiến của lịch sử.
Tài là biểu hiện nổi trội của năng lực, là kết quả tổng hợp của nhiều
yếu tố ưu việt mà chủ yếu là gen dũng giống, ý chớ rốn luyện và mụi trường
giáo dục sinh hoạt thuận lợi. Tài năng rất cần yếu tố thiên bẩm tốt, càng rất
cần sự nỗ lực bản thân, sự tác động giáo dục hiệu lực, môi trường sống và
cụng tỏc thớch hợp.
Càng có tài con người càng nhận thức, một cách sáng sủa, đúng đắn

cao nhưng lại thiếu những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của nhân cách hay có
những thói hư tật xấu, tài năng của họ sẽ bị giảm giá trị hoặc bị thoái hoá đi,
hoặc gây ra những hậu quả tai hại cho xó hội. Những người có tài năng cao
mà phẩm chất đạo đức xấu thỡ càng gõy tỏc hại xấu cho xó hội, và càng dễ bị
mọi người lên án. Nếu có tài mà không có đức sẽ vô cùng nguy hiểm cho xó
hội. Trong trường hợp này, họ không được gọi là nhân tài. 15
Một số người tài nhưng đạo đức kém thường dễ mắc một số khuyết
điểm như: kiêu ngạo, vị kỷ cá nhân, bệnh ngôi sao, chủ quan khinh thường
mọi người, dẫn đến sự thui chột dần về tài năng. Tài năng và đạo đức là hai
yếu tố khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn
nhau. Vỡ vậy, khi núi đến nhân tài, người ta thường muốn bao hàm cả ý nghĩa
về đạo đức. Người có tài năng và có cả đạo đức tốt được gọi là bậc hiền tài.
Tuy nhiên, khi đánh giá về tài năng của con người, chúng ta lại cần phân biệt
những yếu tố, những đặc điểm tạo nên tài năng và những yếu tố, những đặc
điểm thuộc về lĩnh vực đạo đức.
Nhiều người cú quan niệm rằng: Tài bao giờ cũng đi cựng với tật, tài
lắm thỡ tật nhiều. Nhưng điều này thực ra hoàn toàn khụng phải là bản chất
của vấn đề. Trong cuộc sống thường nhật ta cũng đó từng thấy cú những
người tài rất dễ thương, dễ mến chứ không phải người tài nào cũng có nhiều
đức tính dễ ghét. Quan niệm tài phải đi liền với tật là một định kiến, là một
nhận định khập khiễng, là sự khái quát từ một tỷ lệ thực tế không nhiều.
Tài năng không bắt nguồn từ những tính cách xấu. Không phải ai kiêu
căng, khinh người là có tài, không phải ai có tài là tất yếu trở thành kẻ vô kỷ luật,
kẻ lập dị. Tài và tật là hai phẩm chất không có cấu trúc liên kết tất yếu. Dĩ nhiên,
không thể phủ nhận hoàn toàn được hiện tượng này tuy nhiờn, có một tỷ lệ nào
đó người có tật kèm theo hoặc tài với tật kết với nhau. Đó là theo sự phát triển đa
dạng của người tài. Có người thấy mỡnh cú tài càng muốn học tập vươn lên

Một thế hệ biết đổi vinh hoa phú quí và cả "giang sơn sự nghiệp"
riêng để mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc và vinh quang cho đất nước. Thật là
hạnh phỳc cho nhõn dõn ta bởi cú lónh tụ Hồ Chớ Minh mà văn hóa dân tộc
ta mới được tiếp tục phát triển đến đỉnh cao rạng rỡ như vậy.
Bước vào thế kỷ 21 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang phát
triển sâu rộng, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đang diễn ra
với quy mô rộng lớn, đưa loài người tiến vào nền kinh tế tri thức và xó hội 17
thụng tin đó tỏc động sâu sắc đến nền kinh tế, xó hội của cỏc quốc gia và hệ
thống kinh tế toàn cầu. Cho đến nay xó hội loài người đó và đang trải qua ba
thời kỳ kinh tế đó là:
- Thời kỳ kinh tế nụng nghiệp cũn gọi là kinh tế sức người, cách đây
hơn 7000 năm chuyển từ kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế nông nghiệp, con
người sáng tạo ra công cụ sản xuất và sở hữu ruộng đất, giá trị của nó đo bằng
công cụ thay thế cho khối lượng lao động của con người.
- Thời kỳ kinh tế cụng nghiệp cũn gọi là kinh tế mỏy múc đó hỡnh
thành và phỏt triển cỏch đây hơn 200 năm, từ giữa thế kỷ 18 với cuộc cách
mạng kỹ thuật đầu tiên chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế
cụng nghiệp dựa trên lực lượng sản xuất cơ khí. Thời kỳ này tri thức con
người đó vươn lên với những thành tựu to lớn tạo ra hàng loạt các công cụ
mới như ô tô, tàu hỏa, máy bay, tàu vũ trụ… mà sức lao động cơ bắp không
bao giờ làm được với động lực tạo lợi nhuận và tích lũy tư bản.
- Thời kỳ kinh tế tri thức cũn gọi là kinh tế trớ tuệ xuất hiện vào thập
kỷ 80 của thế kỷ 20 đó tạo điều kiện cho sự ra đời của lực lượng sản xuất mới,
dựa trên tri thức khoa học thay thế cho lực lượng sản xuất cơ khí. Từ sự phỏt
triển kinh tế chỉ vỡ lợi nhuận chuyển sang định hướng phát triển đồng thuận
giữa kinh tế - xó hội - mụi trường.
Ngày nay tri thức có thêm chức năng cực kỳ quan trọng là dùng tri

Chính sách đối với kẻ sỹ là hũn đá thử vàng đối với sự phát triển của
một dân tộc, là môi trường cho hạt giống hưng thịnh của quốc gia nảy mầm
và phát triển. Môi trường trong sạch thỡ kẻ sĩ đầy đàn, quốc gia hưng thịnh;
môi trường ô nhiễm thỡ kẻ sĩ thưa thớt, quốc gia suy vong.
Ba đội ngũ trụ cột cho công cuộc phát triển của một quốc gia là các
nhà lănh đạo, giới doanh nhân và tầng lớp trí thức.
Khỏt vọng, tầm nhỡn và tư duy của ba đội ngũ này có ảnh hưởng
quyết định đến khát vọng, tầm nhỡn và tư duy của dân tộc. Trong mỗi đội ngũ
này, sự đóng góp có tính đột phá của cá nhân có thể tạo nên những bước nhảy 19
vọt cho công cuộc phát triển. Nhà chính trị Đặng Tiểu Bỡnh, với sự đột phá
về tầm nhỡn và tư duy, đó đưa Trung Quốc thoát khỏi vũng tối tăm mê muội
để trở thành một quốc gia có tốc độ đổi thay kỳ vĩ, làm cả thế giới kinh ngạc
và ngưỡng mộ. Các doanh nhân, như Chong Ju-yung (sáng lập hóng Hyundai)
và Lee Byung-chul (sỏng lập hóng Samsung), với ý chớ kinh doanh phi
thường và tinh thần dân tộc cao cả, đó gúp phần đưa Hàn Quốc nhanh chóng
trở thành một cường quốc công nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực đóng tàu và
điện tử. Học giả Fukuzawa Yukuchi thời kỳ Minh Trị của Nhật Bản, đó cú
những đóng góp lớn lao cho công cuộc cải cách, thông qua nỗ lực khai sáng
dân trí và khích lệ người dân nắm bắt đổi thay, tiếp thu tinh hoa thời đại.
Ngày nay, dõn tộc ta khao khỏt biết bao những doanh vừa tài năng vừa cú tinh
thần ỏi quốc như thế!
Thực tiễn đó chứng minh: Sự tăng trưởng của một nền kinh tế - kinh
doanh hiện đại phải có nhiều nhân vật tài năng, trước hết là những nhân tài làm
ra chính sách giỏi (policy makers), kế đó là doanh nhân giỏi (Entrepreneurs);
rồi nhà quản lý giỏi (Managers); tiếp theo, cũn là nhà tài chỏnh giỏi
(Financiers) và cũng rất cần phải có những nhà sáng tạo đổi mới kỹ thuật
(Innovators) để tạo ra mặt hàng mới, thị trường mới (chẳng hạn, việc tạo ra

1.3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC TA VỀ VẤN ĐỀ NHÂN
TÀI VÀ PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA HỌ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ
BẢO VỆ TỔ QUỐC
1.3.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhân tài, về đào tạo và sử dụng
nhân tài đất nƣớc
Cách đây hơn 60 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh cả
nước nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Bức thư của Bác Hồ có đoạn: "Nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất
nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam
có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được
hay khụng, chớnh là nhờ một phần lớn ở cụng học tập của cỏc em". 21
Trong bài "Tỡm người tài đức" ngày 20.11.1946 Bác Hồ đó viết
những lời tõm huyết:
Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có người
tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có
đức. E vỡ chớnh phủ nghe khụng đến, thấy không khắp, đến nỗi
những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa
nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng,
các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có
thể làm được những việc ích nước lợi dân thỡ phải bỏo cỏo cho
chớnh phủ biết. Bỏo cỏo phải núi rừ: tờn tuổi, nghề nghiệp, tài
năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng,
các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ.
Chủ tịch Chớnh phủ Việt Nam HỒ CHÍ MINH
(Bỏo Cứu Quốc số 411, ngày 20-11-1946)
Hơn 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước, Bác Hồ rất quan tâm tiêu
chuẩn, tư cách đạo đức của người cách mạng. Người thường nói: " đạo đức

thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là
không".
Bác yêu cầu người cách mạng phải lấy đức làm gốc, tuy nhiên, tư tưởng
đạo đức của Người rất coi trọng cả đức và tài. Có tài phải có đức, có tài mà
không có đức, tham ô, hủ hóa chỉ có hại cho đất nước. Có đức mà không có tài
chẳng làm gỡ được thỡ khụng giỳp ớch cho ai. Người nêu rừ kiến thiết cần cú
nhõn tài dẫu tại nước ta nhõn tài tuy chưa nhiều lắm nhưng chỳng ta khộo lựa
chọn, khộo phõn phối, khộo dụng thỡ nhõn tài ngày càng phỏt triển thờm
nhiều.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng việc phát triển giáo dục,
đào tạo, phỏt hiện nhõn tài, Người cũn coi trọng chớnh sỏch sử dụng nhõn tài.
Nhờ cú tấm lũng thật sự trọng dụng nhõn tài nên Bác đó tập hợp được đội ngũ
trí thức từ nước ngoài về phục vụ sự nghiệp kiến quốc như: bác sĩ Phạm Ngọc
Thạch, Tôn Thất Tùng, kỹ sư Trần Đại Nghĩa, giáo sư Lê Văn Thiêm, tướng 23
Nguyễn Sơn, Tạ Quang Bửu và nhiều trớ sĩ khác gắn bó, đem hết tài năng
để xây dựng đất nước, phục vụ kiến quốc.
Trong tư tưởng của Hồ chủ tịch, quan trọng nhất là nước phải độc lập,
dân phải tự do. Sức mạnh để dành độc lập tự do là lực lượng của khối đại
đoàn kết dân tộc. Với Hồ Chủ tịch, cỏn bộ có ý nghĩa quyết định với phong
trào, nên Người luôn chọn người có đạo đức, có tư cỏch, cú tài, dù người đó
có là Đảng viên hay không. Nhiều người đó phõn tớch về tài dùng người của
Hồ Chủ tịch khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hũa.
Ở Trung ương cũng như địa phương, khi sử dụng cán bộ, Hồ Chủ tịch
luôn rất tôn trọng trí thức. Đảng ta là một đảng đạo đức, đảng văn minh, mà
văn minh nghĩa là có trí tuệ, có sáng tạo. Theo Người, một chế độ xó hội mới
là một xó hội thụng thỏi và đạo đức. Thông điệp cô đọng như thế nhưng để
hiểu và làm theo thỡ khụng đơn giản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status