Phản biện xã hội trên báo chí Thành phố Hồ Chí Minh thập kỷ đầu thế kỷ XXI - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HUỲNH THỊ XUÂN HẠNH
PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN BÁO CHÍ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH THẬP KỶ ĐẦU THẾ KỶ XXI LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ TP. Hồ Chí Minh, 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


1

2.1.1.3. Thống kê tin, bài viết về Dự án đường sắt
cao tốc Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh của
báo Sài Gòn Giải Phóng 52

2

2.1.2.3. Thống kê tin, bài viết về Dự án đường sắt
cao tốc Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh của
báo Tuổi Trẻ 60 3

2.1.3.3. Thống kê tin, bài viết vể Dự án đường sắt
cao tốc Hà Nội – TP.HCM của báo Người Lao
Động 66

4 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………4
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 6
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp mới của luận văn 10
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 10
8. Cấu trúc của luận văn 10

CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẢN BIỆN
XÃ HỘI VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN BÁO CHÍ THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH THẬP KỶ ĐẦU THẾ KỶ XXI 11

1.1. Khái niệm phản biện xã hội – bản chất của sự phản biện xã hội 11
1.1.1. Một số khái niệm về phản biện 11
1.1.2. Khái niệm phản biện xã hội 15
1.1.3. Một số đặc điểm của phản biện xã hội 17
1.2. Phản biện xã hội trên báo chí TP.HCM thập kỷ đầu thế kỷ XXI 24
1.2.1. Phản biện xã hội của báo chí 24
1.2.2. Các thể loại báo chí được sử dụng trong hoạt động phản biện 32
1.2.3. Phản biện xã hội trên báo chí TP.HCM thập kỷ đầu thế kỷ XXI 35
Tiểu kết chƣơng 1 41

2.3. Một số kết luận rút ra qua khảo sát phản biện xã hội của 4 tờ báo 81
2.3.1. Lợi ích xã hội từ kết quả phản biện xã hội của bốn tờ báo 81
2.3.2. Sự phát triển của bốn tờ báo từ góc nhìn phản biện 84
Tiểu kết chƣơng 2 92

3 CHƢƠNG 3: XU HƢỚNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 94 3.1. Xu hƣớng phản biện xã hội của báo chí TP trong những năm tới 94
3.1.1. Xu hướng về đề tài 94
3.1.2. Xu hướng về thể loại và trình bày 96
3.1.3. Xu hướng tổ chức phản biện 96
3.2. Giải pháp để phát triển phản biện xã hội của báo chí thành phố… 97
3.2.1. Nâng cao nhận thức về phản biện xã hội của báo chí 97
3.2.2. Xây dựng tính chuyên nghiệp trong phản biện xã hội của báo chí 98
3.3. Một số kiến nghị để phát triển phản biện xã hội của báo chí TP 99
3.3.1. Thống nhất nhận thức về khái niệm và bản chất của phản biện, phản
biện xã hội và phản biện xã hội của báo chí 99
3.3.2. Ban hành một số cơ chế cần thiết để báo chí thành phố thực hiện tốt
hoạt động phản biện xã hội 99
3.3.3. Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của báo chí 103
Tiểu kết chƣơng 3 104

KẾT LUẬN 105
Tài liệu tham khảo 108
Phụ lục: Một số bài viết về đường sắt cao tốc Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh của

công tác tổ chức và cán bộ” [19, 124].
Phản biện xã hội là một vấn đề không mới, phản biện xã hội trên báo
chí cũng vậy. Nhưng khi vấn đề phản biện xã hội chưa được xem xét một
cách đầy đủ, có hệ thống để làm cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề xã
hội mang tính phản biện thì việc đề xuất một số nội dung nghiên cứu và giải

5

pháp thực hiện là rất cần thiết. Nhất là mới đây, Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI (tháng 01 năm 2011) đã chính thức đề cập đến vai trò tổ chức
và phản biện xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng. Đó là: “Chú
trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo
dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì
lợi ích của nhân dân và đất nước; khắc phục xu hướng thương mại hóa, xa rời
tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản” [20, 225].
Quan điểm này chứng tỏ Đảng ta rất quan tâm đến vai trò tổ chức và
phản biện xã hội của báo chí trong tình hình hiện nay. Để đáp ứng được yêu
cầu do Đảng đề ra, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về
vai trò quan trọng của báo chí trong việc tổ chức và phản biện xã hội; khắc
phục được tình trạng tuyệt đối hóa hoặc xem nhẹ chức năng phản biện xã hội
của báo chí, đưa hoạt động phản biện xã hội của báo chí đi vào chiều sâu,
đóng góp thiết thực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Mặt khác, từ góc nhìn phản biện xã hội của báo chí, sẽ là một trong
những cơ sở để đánh giá năng lực hoạt động báo chí và tính chuyên nghiệp
của người làm báo. Điều đó sẽ góp phần lý giải, vì sao báo chí hiện đại lại cần
có sức mạnh của sự phản biện, để tạo nên sức sống của tờ báo mình.
Thành phố Hồ Chí Minh từ trước đến nay luôn là một trung tâm báo chí
vô cùng phong phú và sôi động. Từ sau đổi mới, đặc biệt là thập kỷ đầu thế
kỷ XXI, báo chí thành phố đã có những bước phát triển quan trọng cả về nội
dung và hình thức, đặc biệt là đã tham gia rất hiệu quả hoạt động phản biện xã

“Phản biện xã hội” của tác giả Trần Đăng Tuấn do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát
hành năm 2007, cuốn “Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền” do
TS Hồ Bá Thâm và CN Nguyễn Tôn Thị Tường Vân đồng chủ biên, được NXB
Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2009, cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong

7

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng” do Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011 Các bài viết, công trình nghiên cứu trên
hầu hết là lý giải phản biện xã hội ở góc nhìn chính trị, về quyền làm chủ của
nhân dân, nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của nhân dân trong việc tham
gia phản biện xã hội chứ chưa đi sâu vào việc phân tích hoạt động phản biện
xã hội của báo chí.
Gần đây, phản biện xã hội của báo chí được nghiên cứu và quan tâm
nhiều hơn, ngay cả trong đội ngũ những người làm báo. Điển hình là tại Đại
hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ IX (năm 2010), Hội Nhà báo Việt Nam đã
đề cao vai trò phản biện xã hội của báo chí. Báo Đất Việt cũng vừa phối hợp
với Ban Thông tin và Phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức giao lưu trực tuyến vào ngày 14-6-2011
với chủ đề “Tư vấn, phản biện và giám định xã hội: Làm thế nào để tạo sức
bật?”. Nghiên cứu về phản biện xã hội của báo chí còn có một số luận văn
báo chí của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia
Hà Nội, như luận văn thạc sĩ “Báo chí với vấn đề kiểm soát quyền lực và
phản biện xã hội” của tác giả Mai Thị Thúy Hường; luận văn cử nhân báo chí
“Tính phản biện xã hội của tác phẩm báo chí qua loạt bài “Đêm trước đổi
mới” trên báo Tuổi trẻ năm 2005” của tác giả Phan Văn Kiền,
Mặc dù các bài viết và các luận văn trên nêu nhiều về ý nghĩa, vai trò
phản biện xã hội của báo chí, nhưng phần lớn là đề cao lợi ích từ sự phản biện
xã hội của báo chí chứ chưa phân tích được đặc thù về phản biện xã hội của
báo chí, đồng thời cũng chưa có sự nghiên cứu, khảo sát nào cùng lúc về bốn

báo đại diện cho đông đảo công nhân và người lao động đang sinh sống, làm
việc, học tập trên địa bàn thành phố, để phân tích và làm rõ giá trị phản biện
của báo chí trong giai đoạn từ thập kỷ đầu thế kỷ XXI đến nay. Từ việc đánh
giá kết quả thực hiện phản biện xã hội của bốn tờ báo, sẽ rút ra được nhiều

9

kinh nghiệm trong hoạt động nghề nghiệp báo chí; cung cấp thêm góc nhìn
mới về phản biện xã hội cho những ai quan tâm đến phản biện xã hội của báo chí.
Nhiệm vụ của luận văn sẽ bao gồm:
3.1. Nghiên cứu những vấn đề chung về phản biện, phản biện xã hội,
phản biện xã hội của báo chí trong đó có báo chí thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Khảo sát hoạt động phản biện xã hội của 4 tờ báo: Sài Gòn Giải
Phóng, Tuổi Trẻ, Pháp Luật, Người Lao Động.
3.3. Nghiên cứu xu hướng tổ chức, phản biện xã hội trên báo chí thành
phố Hồ Chí Minh và các giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng phản
biện xã hội của báo chí thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Phản biện xã hội và phản biện xã hội của báo chí là một đề tài lớn, cần
được nghiên cứu sâu và lâu dài. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi
xin giới hạn ở việc nghiên cứu hiệu quả và xu hướng tổ chức, phản biện xã
hội trên báo chí thành phố thập kỷ đầu thế kỷ XXI, trọng tâm là từ năm 2007
đến nay thông qua khảo sát bốn tờ báo in là báo Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi
Trẻ, Pháp Luật, Người Lao Động. Sở dĩ lựa chọn báo in là vì cho đến nay,
báo in ở Việt Nam vẫn chiếm ưu thế (tính đến tháng 3-2011, cả nước có 745
cơ quan báo chí với 1.003 ấn phẩm báo in). Đây cũng là loại hình báo chí
truyền thống, gắn bó lâu đời với văn hóa đọc của người dân Việt Nam, có tác
động lớn đến nhiều thành phần dân cư,…
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật của Mác –

biện xã hội trên báo chí thành phố Hồ Chí Minh thập kỷ đầu thế kỷ XXI.
Chƣơng 2: Thực trạng phản biện xã hội trên báo chí TP. Hồ Chí Minh
Chƣơng 3: Xu hướng phản biện xã hội của báo chí thành phố Hồ Chí
Minh - Giải pháp và kiến nghị.

11

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN BÁO
CHÍ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THẬP KỶ ĐẦU THẾ KỶ XXI

1.1. Khái niệm phản biện xã hội – bản chất của sự phản biện xã hội
1.1.1. Một số khái niệm về phản biện
Cho đến nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khái niệm phản biện. Bắt
đầu từ ý nghĩa của hai từ: phản và biện, các tác giả đã trình bày khái niệm này
ở những góc độ khác nhau.
Theo Từ điển Hán - Việt của tác giả Trần Văn Chánh, phản thuộc bộ
Hựu, có các nghĩa như chuyển biến, lật lại, đảo ngược, trái lại, nghĩ lại, xét
lại… và biện thuộc hộ Khẩu, có nghĩa là tranh luận giải thích. Từ điển Hán –
Việt của tác giả Thiều Chửu cũng nói rõ: phản biện là tranh luận ngược lại,
tranh luận theo cái nhìn ngược lại. Như vậy, theo nghĩa Hán – Việt thì phản
biện là tranh luận với những ý kiến có trước bằng lập luận theo chiều hướng
ngược lại. [47, 12-13]
ThS. Vũ Thị Như Hoa, trong bài “Cơ sở triết học của phản biện xã hội”
lý giải: “Phản biện là một từ Hán - Việt. "Chiết tự" có nghĩa là "bàn luận theo
hướng (theo cách) ngược lại", hoặc là sự tranh luận, tranh cãi. Do đó, có thể
hiểu phản biện là dùng chứng cứ lập luận để bác bỏ chứng cứ, lập luận đã
được đưa ra trước đó. Theo đó, phản biện là sự tranh luận, tức là đưa ra lập
luận để làm rõ đúng - sai; trong phản biện phải hội đủ các luận cứ (thực tiễn,
khoa học) để làm rõ cái đúng, cái sai của vấn đề đang tranh luận. Vì vậy, phản

nhiên trong xã hội mà ở đó mỗi người đều tự do bày tỏ các nguyện vọng của
mình. Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa,
chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn
và gần với đời sống con người hơn”. [60]

13

Tác giả Lê Đức Tiết cũng khẳng định: “Phản biện là hoạt động tự nhiên
và là đặc trưng hoạt động cần thiết của con người và xã hội. Thông qua phản
biện mà con người tìm ra chân lý. Nói cách khác, phản biện chính là chìa
khóa để tìm ra quy luật về sự sống và sự phát triển của xã hội”. [45].
Không chỉ nghiên cứu về phản biện, một số tác giả còn đi sâu vào hoạt
động tự phản biện. Tác giả Trần Đăng Tuấn đã xem tự phản biện, như là hoạt
động tất yếu của con người: “Hãy nhìn vào bản thân mình. Từ sáng đến chiều
mỗi người luôn tự phản biện để rà soát, sửa đổi hình dung, suy nghĩ, quan
niệm, phương pháp trước đó của bản thân, để rồi hoàn chỉnh cách nghĩ, cách
làm cũ hoặc thay bằng cách mới”; “phản biện, tự phản biện là cách để cuộc
sống diễn ra, cuộc sống đi lên. Nó là điều tự nhiên”. [50]
Trong cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng”, phản biện được hiểu là “nhận xét, đánh giá,
bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực
khác nhau” [48, 239]…
Những khái niệm trên phản ánh khá rõ nét ý nghĩa xã hội của khái niệm
phản biện. Trước nhất, phản biện một hoạt động tự nhiên và là phương thức
thể hiện quyền con người. Hai là, phản biện không chỉ nằm trong phạm vi
phản biện đề tài, dự án khoa học mà đã mở rộng thành những dự án, đề án
trong các lĩnh vực xã hội khác nhau. Ba là, hoạt động phản biện có thể là
những nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, phản biện còn phản ánh một thuộc tính rất
quan trọng, mang tính đặc thù, đó là tính phương pháp luận. Khi nói đến tự

- Phản biện là một hoạt động khoa học, được thực hiện theo trình tự khoa
học: chuẩn bị phản biện, tiến hành phản biện và ghi nhận kết quả phản biện.

15

- Phản biện là đi đến cùng của vấn đề nhằm đi đến thống nhất một quyết
nghị về giá trị những nội dung được nghiên cứu và giá trị ứng dụng những
nghiên cứu đó vào hoạt động thực tiễn, trên cơ sở phân tích, chỉ rõ những
khiếm khuyết của vấn đề một cách khoa học Như vậy, tính triết học (khoa
học) và tính chính trị (lợi ích xã hội) là đặc trưng cơ bản của phản biện.
Không có hoạt động phản biện nào mà không hướng đến lợi ích xã hội (trực
tiếp hoặc gián tiếp). Cũng không thể có phản biện xã hội, nếu không dựa trên
phương pháp nghiên cứu và tranh luận khoa học.
Từ đó, chúng tôi đề xuất khái niệm phản biện là: “Phản biện là một hoạt
động khoa học, đồng thời còn là phương pháp khoa học cần thiết để con
người sử dụng nhằm thể hiện vai trò làm chủ của mình đối với bản thân, tự
nhiên và xã hội. Trình độ làm chủ đó được biểu hiện qua nội dung vấn đề
được nêu, phương pháp tranh luận vấn đề và cách thức tổ chức tranh luận để
đi đến quyết nghị về nhận thức và ứng dụng vấn đề đó trong thực tiễn”.
1.1.2. Khái niệm phản biện xã hội
Từ đầu thập niên thế kỷXII đến nay, ở Việt Nam, khái niệm phản biện xã
hội đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích, nhưng trên thực tế còn
có những ý kiến khác nhau, cách hiểu khác nhau, xuất phát từ những góc nhìn
khác nhau. Chẳng hạn, từ góc nhìn chính trị, khi nghiên cứu vai trò phản biện
xã hội của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, tác giả Đàm Văn Lợi cho rằng:
“Phản biện xã hội là một khái niệm chính trị, là biểu hiện đặc trưng rõ ràng
nhất của cái gọi là đời sống dân chủ. Phản biện xã hội là bằng cơ sở lý luận
khoa học và thực tiễn để biện luận làm sáng tỏ đúng, sai về một vấn đề có tính
chất xã hội liên quan đến lợi ích toàn xã hội do Đảng, Quốc hội và Nhà nước
hay một tổ chức đoàn thể… nêu lên” [33].

chính là nhằm phục vụ tốt hơn lợi ích của đại đa số nhân dân. Chủ thể tham
gia trong hoạt động phản biện là nhân dân, các nhà khoa học. Nội dung phản

17

biện là tất cả mọi lĩnh vực thuộc đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước.
Có thể nói, đây là khái niệm hoàn chỉnh nhất, chung nhất về phản biện
xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, khi nghiên cứu, phân tích về phản biện xã hội,
chúng tôi thấy có một số đặc điểm cần lưu ý.
1.1.3. Một số đặc điểm của phản biện xã hội
1.1.3.1. Tính xã hội của khái niệm phản biện xã hội
Nói một cách ngắn gọn thì phản biện xã hội chính là phản biện của xã
hội về các vấn đề xã hội. Chủ thể tham gia phản biện xã hội chính là toàn xã
hội. Nội dung (đề tài) phản biện là các vấn đề trong đời sống xã hội. Như vậy,
tất cả mọi thành viên trong xã hội đều có quyền tham gia hoạt động này.
Nhưng do phản biện là một hoạt động khoa học, đòi hỏi phải có kiến
thức, năng lực tư duy và trình độ nghiên cứu nhất định nên không phải ai
cũng có thể tham gia hoạt động phản biện xã hội một cách trực tiếp được. Khi
phản biện xã hội được tiến hành thông qua Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
nhân dân, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc được thực hiện bởi
Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), hay cơ quan, đơn
vị nào khác, thì xem như người dân đã tham gia phản biện một cách gián tiếp
thông qua những người đang tham gia phản biện. Bởi lẽ, nội dung phản biện
đó, kết quả phản biện đó không phải xuất phát từ lợi ích cục bộ của cá nhân
hay đơn vị ấy mà đều xuất phát từ mong muốn của nhân dân và của các cấp
lãnh đạo, đều từ lợi ích hợp pháp và chính đáng của nhân dân.
Tóm lại, nhân dân thực hiện quyền tham gia phản biện xã hội của mình
bằng hai cách: trực tiếp và gián tiếp. Trong gián tiếp, có gián tiếp theo luật
định và gián tiếp mặc nhiên. Khái niệm phản biện xã hội do Đảng đề ra cũng


19

Theo TS. Vũ Văn Nhiêm, căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, phản biện
có thể chia thành nhiều loại:
“Nếu căn cứ vào phạm vi tiến hành, có thể chia thành phản biện rộng,
phản biện hẹp; căn cứ vào tính chất, có thể chia thành phản biện khoa học,
phản biện đại chúng; phản biện chính thức, phản biện không chính thức; phản
biện nhà nước, phản biện xã hội… Như vậy, phản biện xã hội là một loại phản
biện nhằm phân biệt với phản biện Nhà nước, đó là phản biện mang tính xã hội.
Nếu phân tích về ngữ nghĩa thì “xã hội” đóng vai trò tính từ để bổ nghĩa
cho danh từ phản biện. Cách hiểu thuật ngữ “xã hội” ở đây là để phân biệt với
“nhà nước”, tương tự như quy định của một số điều của Hiến pháp 1992.
Nếu nhìn nhận ở một góc độ khác – phản biện xã hội đối với chủ trương,
chính sách, đề án, quyết định của Đảng – thì phản biện xã hội có thể được
hiểu là phản biện “ngoài Đảng”. Bản thân phản biện xã hội có thể được chia
thành: phản biện khoa học (ví dụ, do các nhà khoa học hoặc các tổ chức khoa
học thực hiện), phản biện đại chúng (chẳng hạn lấy ý kiến đóng góp của công
chúng), chứ không phân biệt phản biện xã hội với phản biện khoa học”…[36].
Như chúng tôi đã trình bày, phản biện là khái niệm triết học – chính trị.
Sự phản biện vốn dĩ là một hoạt động khoa học để đi đến chân lý nên trước
nhất, phản biện xã hội phải là phản biện khoa học. Yêu cầu của hoạt động
phản biện xã hội đòi hỏi các bên tham gia phải trình bày cho được những
nghiên cứu khoa học của mình, sử dụng những luận cứ, luận điểm, kết quả
kiểm nghiệm thực tế một cách khách quan, khoa học để bảo vệ quan điểm của
mình, phản biện lại quan điểm ban đầu. Quyết nghị kết quả phản biện, phải
xuất phát từ góc độ nghiên cứu khoa học, phải nắm bắt được thực tế khách
quan thì khi ban hành, áp dụng mới mang lại hiệu quả cao. Nếu không, sẽ dẫn
đến việc áp đặt chủ quan, duy ý chí, thậm chí gây nên những hậu quả khó
lường, làm cản trở sự phát triển của xã hội.

21

mức độ nào, thời điểm nào còn tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của đất
nước, tùy thuộc vào quyết định chính trị của giai cấp lãnh đạo…
1.1.3.3. Phản biện xã hội chỉ diễn ra khi có dư luận xã hội và
chính dư luận xã hội là thước đo hiệu quả của phản biện xã hội
Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có những vấn đề mang ý nghĩa xã hội,
có liên quan, đụng chạm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Những vấn
đề xã hội ấy ảnh hưởng quan trọng, trực tiếp đến lợi ích của đại đa số nhân
dân đến mức nào thì dư luận xã hội bùng phát mạnh mẽ đến chừng ấy. Sự
bùng nổ của dư luận xã hội, của nhiều ý kiến khác nhau trong xã hội phát sinh
nhu cầu làm rõ đúng – sai cả về quan điểm, thái độ ứng xử và cách xử trí đối
với vấn đề xã hội ấy, dẫn đến phản biện xã hội xuất hiện nhằm góp phần giải
đáp những vấn đề dư luận đặt ra đồng thời góp phần giải thích “lý lẽ” của
chính sách về những vấn đề xã hội ấy.
Có thể thấy, dư luận xã hội chính là mầm mống của phản biện xã hội. Ví
dụ như các vấn đề về “lợi ích nhóm”, luôn gây ra nhiều dư luận xã hội, và nhờ
có phản biện xã hội mà thực tế “lợi ích nhóm” đã được ngăn chặn hoặc điều
chỉnh bằng những chính sách cụ thể và cơ chế quản lý thích hợp.
Không chỉ là mầm mống của phản biện xã hội mà dư luận xã hội còn là
thước đo hiệu quả của phản biện xã hội. Thông qua số lượng người tương tác;
thông qua đánh giá của dư luận về trình độ, năng lực phản biện xã hội của cá
nhân, tổ chức, đơn vị; đặc biệt là thông qua đánh giá sự chuyển biến xã hội
sau một vấn đề được phản biện mà chúng ta có thể định lượng khá rõ nét về
hiệu quả của phản biện xã hội.
Chẳng hạn như năm 2007, khi Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí
Minh, báo chí… tham gia phản biện xã hội về cổ phần hóa bệnh viện Bình
Dân đã không nghĩ rằng hiệu quả phản biện đạt cao hơn mong muốn, vì đã
không chỉ ngưng cổ phần hóa bệnh viện mà còn ngưng cả việc cổ phần hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status