1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HÀ GIANG
VẤN ĐỀ THANH NIÊN SỐNG THỬ TRƯỚC
HÔN NHÂN TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY
(Khảo sát báo Thanh Niên, Tiền Phong, Tuổi Trẻ TPHCM
từ năm 2007 đến 2011)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành báo chí học
Mã số: 623201 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái
Hà Nội-2013
4
DANH MỤC VIẾT TẮT
STTHN: Sống thử trước hôn nhân
SV: Sinh viên
PVS: Phỏng vấn sâu
TCN: Trước công nguyên
TDTHN: Tình dục trước hôn nhân
TN: Thanh niên
TP: Tiền phong
TT: Tuổi trẻ
TP. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
ĐH: Đại học
CĐ: Cao đẳng
Bảng 3.1: Khảo sát ý kiến độc giả về hiệu quả thông tin về
vấn đề thanh niên sống thử trước hôn nhân trên 3 tờ báo
(Thanh Niên, Tiền Phong, Tuổi Trẻ TP Hồ Chí Minh).
74
BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
TT
Tên biểu đồ
Trang
1
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ bài viết về vấn đề TNSTTHN trên
ba tờ báo
27 6
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5. Phương pháp nghiên cứu 13
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 14
7. Kết cấu của luận văn 14
CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA HÔN NHÂN CỦA
3.4.3. Nhóm giải pháp khác 91
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sống thử trước hôn nhân (STTHN) – hay tình trạng nam, nữ thanh niên,
nhất là sinh viên (SV) xa nhà tự đến sống với nhau như vợ chồng mà không
được sự đồng ý của cha mẹ đôi bên – đang tăng lên trong xã hội Việt Nam
những năm gần đây, nhất là trong thập niên đầu thế kỷ XIX. Điều này đã tạo ra
“cú sốc” lớn không chỉ đối với các bậc cha mẹ mà đối với cả dư luận xã hội, vì
nó phá vỡ mọi quy tắc, chuẩn mực liên quan đến hôn nhân truyền thống và
hiện đại như thiếu sự tham gia và chứng kiến của gia đình, xã hội vào các nghi
lễ hôn nhân trước khi họ chung sống như vợ chồng, đặc biệt là thiếu luật pháp
về hôn nhân đã được ban hành trong xã hội Việt Nam hiện đại. Không ít thanh
niên đã xa rời các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp vốn vẫn luôn phù hợp
với thời kỳ hiện đại, đó là những chuẩn mực và giá trị truyền thống của gia
đình Việt Nam (bền vững, tương thân tương ái ). Ở một bộ phận thanh niên
đã hình thành lối sống “thoáng” trong tình yêu, họ chỉ thích sống thử, không
thích xây dựng gia đình ổn định, bất chấp những giá trị đạo đức được coi là
nền tảng cốt yếu của con người Việt Nam.
Xưa nay, trong xã hội Việt Nam, hôn nhân là việc của gia đình, dòng tộc
chứ không phải là chuyện riêng của mỗi cá nhân. Tác giả Nguyễn Văn Huyên,
trong công trình “Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam”, đã viết: “Cha mẹ
quyết định, con cái chỉ có nghe theo. Tình yêu giữa cô dâu và chú rể không
quan trọng. Nếu người con không bằng lòng người chồng hay người vợ mà bố
mẹ tìm cho, thì chỉ có một cách hành động, đó là bỏ nhà đi. Lúc đó người con
vi sống của các nhóm xã hội, trong đó có giới trẻ. Hiện nay, nhóm thanh niên –
thế hệ sinh năm từ 1980 đến 1995 đang hướng đến những quan niệm và hành
vi mới về cuộc sống, tình bạn, tình yêu và hôn nhân. Bằng chứng thực tế là họ
10
thể hiện quan hệ tình yêu tự do và cởi mở hơn so với các thế hệ trước, hay nói
cách khác là sự thể hiện đó dường như theo chiều đối ngược với cha mẹ họ.
Hiện tượng tham gia sống chung và có quan hệ TDTHN là một sự thể hiện mới
trong quan hệ tình yêu của giới trẻ Việt Nam hiện nay.
Trước thực trạng bức xúc đó, vấn đề TNSTTHN đã trở thành mảng đề
tài nóng bỏng trên báo chí. Chúng ta có thể thấy tiêu đề sống thử hay sống
chung được đề cập thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng nhất
là trên báo viết trong những năm gần đây.
Bàn về chủ đề có tính thời sự này, hầu hết các tác giả bài báo đều cho
rằng hiện tượng STTHN tồn tại khá phổ biến trong thanh niên hiện nay, đặc
biệt là đối tượng sinh viên đang thuê trọ tại các trường cao đẳng, đại học tại
các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Nhiều bài viết đã đưa ra nhận
định về xu hướng STTHN trong nhóm SV ngày càng gia tăng. Phải chăng,
hiện tượng SV STTHN gia tăng đến mức báo động là một hiện tượng xã hội
mới, phá vỡ những chuẩn mực xã hội, trình tự của chu trình sống và đang có
tác động đến nhiều khía cạnh của đời sống gia đình, xã hội Việt Nam hiện đại.
Mặt khác, nó cũng đang có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống
tâm sinh lý (sức khỏe thể lực và sức khỏe tinh thần) đối với nam nữ SV sống
thử, đặc biệt là nữ SV. Mặc dù được giới báo chí trong nước đề cập nhiều trên
các phương tiện truyền thông đại chúng dưới nhiều hình thức khác nhau như
bài phản ánh, tọa đàm, diễn đàn trao đổi, nhưng hiện tượng nam nữ thanh niên
STTHN vẫn diễn ra với sự gia tăng đáng lo ngại cho xã hội Việt Nam hiện đại.
So với các loại hình báo chí khác, báo in có lợi thế hơn hẳn khi đề cập và
thông tin bằng ngôn ngữ đặc thù về đến vấn đề này. Điều này có lẽ không cần
chứng minh cụ thể bởi nó thuộc về ưu thế của báo in so với loại hình báo chí
báo chí (khảo sát trên hai trang báo điện tử http://suckhoedoisong.vn và
12
http://tuoitre.vn, thời gian từ 8/2009 đến 8/2010)” (Khóa luận tốt nghiệp năm
2008 của Nguyễn Văn Bắc, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội)
- “Tìm hiểu kiến thức và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành
niên Việt Nam hiện nay” (Khóa luận tốt nghiệp năm 2002 của tác giả Bùi Thu
Hương, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)
- “Tìm hiểu nhu cầu thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên qua
nghiên cứu thư gửi về chương trình "Cửa sổ tình yêu”, Đài tiếng nói Việt
Nam” (Luận văn thạc sỹ Xã hội học, bảo vệ tại hội đồng Cơ sở đào tạo sau đại
học viện Xã hội học, ngày 30 tháng 6 năm 2003 của Nguyễn Thị Tuyết Minh)
- “Sống chung trước hôn nhân của nam, nữ sinh viên hiện nay” (Nghiên
cứu trường hợp Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) (Luận án tiến sỹ xã hội
học năm 2011 của Nguyễn Đức Chiện)
- Các bài báo, báo cáo khoa học và một số tham luận tại các diễn đàn về
báo chí với chủ đề xoay quanh vấn đề giáo dục SKSS cho thanh niên hiện nay.
Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống và riêng
biệt về vấn đề thanh niên sống thử trước hôn nhân được phản ánh trên báo chí
hiện nay, do đó đề tài của luận văn vẫn là một góc tiếp cận mới mẻ và có giá trị
thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn đó là làm rõ sự biến đổi trong quan hệ tình yêu,
hôn nhân và xuất hiện việc STTHN trong thanh niên; phân tích thực trạng
thanh niên STTHN được thể hiện qua ba tờ báo in: Báo Tiền Phong, báo
Thanh Niên, báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh; qua đó, luận văn rút ra những bài
học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả tuyên truyền
trên báo in về chính vấn đề này.
14
sát; Từ đó, đề xuất giải pháp thông tin về vấn đề TNSTTHN trên báo in hiện
nay.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi anket: Dùng để lấy ý kiến nhóm đối
tượng là SV tại các trường CĐ, ĐH trên địa bàn TP Hà Nội về vấn đề
TNSTTHN và việc tiếp nhận thông tin của SV trên báo TN, TP và TT
TP.HCM.
-Thực hiện phỏng vấn sâu đối với nhóm SV STTHN và nhóm SV ngoài
cuộc để đánh giá nhận thức, quan niệm của SV về vấn đề TNSTTHN.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở làm rõ vấn đề TNSTTHN ở những tờ báo được khảo sát,
luận văn có thể đưa ra những kinh nghiệm và giải pháp thông tin trên báo in
Việt Nam. Điều này có ý nghĩa đối với nhà báo, cơ quan báo chí trong việc
xác lập kế hoạch tuyên truyền về vấn đề TNSTTHN.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là một nguồn tư liệu tập trung, bổ ích
đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý báo chí, các nhà báo và những ai
quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; luận
văn gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Mối quan hệ giữa văn hóa hôn nhân của người Việt và báo
chí truyền thông
Chương 2: Phân tích thực trạng vấn đề thanh niên sống thử trước hôn
nhân trên báo in Việt Nam (Khảo sát báo Thanh Niên, Tiền Phong, Tuổi Trẻ
TP HCM từ năm 2007 đến 2011).
Chương 3: Giải pháp thông tin về vấn đề thanh niên sống thử trước hôn
nhân trên báo in Việt Nam 15
là quyền lợi gia tộc, sau đó là quyền lợi làng xã và thứ ba mới tính đến nhu cầu
riêng tư. Tục lệ này xuất phát từ tính cộng đồng của người Việt Nam, từ các
cuộc hôn nhân vô danh của thường dân đến những cuộc hôn nhân nổi danh như
Mị Châu với Trọng Thủy, công chúa Huyền Trân với vua Chàm Chế Mân,
công chúa Ngọc Hân với Nguyễn Huệ… rồi vô số những cuộc hôn nhân của
các con vua chúa qua các triều đại được triều đình gả bán cho tù trưởng các
miền biên ải nhằm củng cố đường biên giới quốc gia – tất cả đều là làm theo ý
nguyện của các tập thể cộng đồng lớn nhỏ: gia đình, gia tộc, làng xã, đất nước
[28; tr.144-145]. Khi các quyền lợi của tập thể cộng đồng đã được tính đến và
đáp ứng cả rồi, lúc ấy người ta mới lo đến những nhu cầu riêng tư.
Cũng trong xã hội nông nghiệp Việt Nam truyền thống, đặc điểm về hôn
nhân trong lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa có sự khác biệt so với lớp văn
hóa bản địa. Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa được chia thành 2 giai đoạn:
Văn hóa chống Bắc thuộc (Khởi đầu từ TCN và kéo dài đến khi Ngô Quyền
giành lại được đất nước) và giai đoạn văn hóa Đại Việt (từ năm 939 đến 1858
khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta) [28; tr.44]. Khi đô hộ nước ta,
các thế lực xâm lược phong kiến phương Bắc áp dụng chính sách đồng hóa
triệt để thông qua việc truyền bá, áp dụng đường lối của chủ nghĩa Khổng –
Mạnh (Nho giáo) và pháp luật của các nhà nước phong kiến Trung Quốc. Về
mặt hôn nhân và gia đình, quan điểm Khổng – Mạnh định ra những quy tắc
hiếu lễ, lễ nghĩa, xây dựng lối sống “mới” bắt dân ta làm theo, đồng thời pháp
luật đô hộ quy định biện pháp chế tài để trừng trị những ai cư xử trái với lối
sống “tốt đẹp” ấy. Bắt đầu từ thời nhà Hán, chức môi quan (quan coi việc hôn
lễ, làm mai mối) được đặt ra ở nước ta với nhiệm vụ ra sức xuyên tạc, bài bác
để đi đến xóa bỏ phong tục tập quán về hôn nhân và gia đình cổ truyền của
dân ta; đồng thời truyền bá những quy tắc, điều lệ hôn nhân và gia đình của
17
phong kiến phương Bắc. “Điều mà bọn đô hộ đưa tới không phải là chế độ
hôn nhân một vợ một chồng mà là những yếu tố tư tưởng phong kiến trong
trưởng làng [Điều 314, Quốc triều Hình luật]. Trường hợp đôi nam nữ tự ý
chung sống với nhau như vợ chồng mà không qua nghi lễ luật định, gọi là
“cẩu hợp”, thì bị phạt rất nặng nề “người con trai phải nộp tiền tạ cho cha mẹ
người con gái, đồng thời người con gái bị phạt 50 roi. Sau đó giá thú mới được
gọi là hợp pháp. [25; tr.26-28]. Còn trường hợp “tiền dâm hậu thú”, trước
thông dâm với nhau rồi sau mới cưới thì con trai bị đánh 80 trượng, luận tội
đồ; con gái bị đánh 50 roi [27]. Như vậy, trong xã hội phong kiến Việt Nam
cũng có những quy định hết sức nghiêm ngặt về việc nam nữ sống chung như
vợ chồng mà không theo nghi lễ.
Khác với lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa, trong thời Pháp thuộc, khi
thực dân Pháp mở đầu thời kỳ xâm lược nước ta, sự tiếp xúc văn hóa trong lớp
văn hóa giao lưu với phương Tây có hai giai đoạn: văn hóa Đại Nam và văn
hóa hiện đại. Giai đoạn văn hóa Đại Nam được chuẩn bị từ thời chúa Nguyễn
và kéo dài hết thời Pháp thuộc và chống Pháp thuộc [20; tr.47]. Đối với lĩnh
vực hôn nhân và gia đình, lúc đầu Pháp vẫn tạm cho áp dụng pháp luật của
triều Nguyễn và phong tục, tập quán bản xứ. Sau khi nắm được toàn bộ lãnh
thổ nước ta, chính quyền thực dân lần lượt cho ra đời pháp luật mới, từng
bước thay đổi nếp sống cổ truyền của dân tộc. Chế độ hôn nhân và gia đình
thay đổi, vừa thể hiện xu thế Âu hóa theo kiểu Pháp vừa cố duy trì tập tục lỗi
thời của người Việt Nam. Chế độ hôn nhân thời Pháp thuộc được thể hiện trên
nguyên tắc “không hoàn toàn tự nguyện, một chồng nhiều vợ, vợ chồng không
bình đẳng”. Đồng thời, hôn nhân phải thực hiện giữa người nam và người nữ,
việc kết hôn phải có sự ưng thuận của đôi nam nữ và sự ưng thuận của cha
mẹ; Đôi nam nữ phải đủ tuổi kết hôn và có thể được xét họ miễn tuổi. Như
19
vậy, quá trình khai thác thuộc địa của Pháp cũng phá hủy mạnh mẽ những
chuẩn mực gia đình truyền thống, tạo nên sự phản ứng của người Việt Nam và
gia đình Việt Nam trước lối sống và văn hóa phương Tây. Trong xã hội cũng
xuất hiện những hiện tượng mà Tú Xương gọi là: “Nhà kia lỗi phép con khinh
mới trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm
1954, chấm dứt tám mươi năm đô hộ của thực dân Pháp, Việt Nam bước vào
công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và bắt đầu cuộc kháng chiến
chống Mỹ ở miền Nam. Bối cảnh xã hội đó đã tạo điều kiện cho quan hệ tình
yêu và hôn nhân của người Việt phát triển theo hướng mới. Các phong trào
phản đối các quan niệm cũ về phân biệt nam nữ, về hôn nhân sắp đặt, về quyền
uy tuyệt đối của người gia trưởng… Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa được ban hành năm 1946 nhấn mạnh quyền bình đẳng
nam nữ đã khuyến khích người phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia các hoạt
động xã hội như nam giới. Tiếp đó, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1960 công
nhận quyền tự do yêu đương và lựa chọn của con cái càng có một ý nghĩa quan
trọng trong sự biến đổi của quan hệ tình yêu, hôn nhân [39, tr.8]. Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2012 đưa ra quy định độ tuổi kết hôn: nam từ 20 tuổi trở
lên, nữ từ 18 tuổi trở lên. Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không
bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở. Việc kết
hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai
người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước
quy định.
Có thể khẳng định rằng, chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế
sâu rộng của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ vừa qua đã tạo ra những thay
đổi lớn lao trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Việc mở rộng và đa
dạng hóa thành phần kinh tế đã thúc đẩy sản xuất phát triển và dẫn đến một
21
nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực lớn cho các khu công nghiệp và thành phố.
Bên cạnh quá trình đổi mới thì hội nhập kinh tế, văn hóa quốc tế diễn ra ngày
càng mạnh mẽ và sâu rộng. Những biến đổi văn hóa, xã hội là cơ hội để người
dân, điển hình là giới trẻ tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua các phương
tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là internet. Những quan niệm, tâm thế và
lối sống mới đã được hình thành trong nhiều khía cạnh của cuộc sống. Đáng
tượng thanh thiếu niên. Kết quả cuộc điều tra này cho thấy thanh niên hiện nay
tỏ ra có quan niệm cởi mở hơn về QHTDTHN, có tới 54% thanh thiếu niên ở
nhóm tuổi 22-25 chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân. Ở nhóm tuổi 18-
21 là 51%, ở nhóm tuổi 14-17 là 36% [26, tr.59].
Theo một cuộc khảo sát mẫu lớn do Quốc hội nước ta thực hiện năm
2000 cho thấy, trong thời kỳ đổi mới, tỷ lệ hôn nhân do đôi lứa quyết định có
tham khảo ý kiến bố mẹ đã đạt tới 90,7%, hôn nhân do gia đình sắp đặt chỉ còn
9,3% [15 ,tr.9]. Tuy nhiên, cha mẹ vẫn chi phối quyền quyết định hôn nhân.
Nhiều nghiên cứu xã hội học khẳng định có một sự biến đổi đáng kể trong mô
hình hôn nhân nhưng sự hậu thuẫn của cha mẹ vẫn giữ vai trò quan trọng đối
với hôn nhân của con cái. Dựa vào bằng chứng thực nghiệm, tác giả Khuất Thu
Hồng cho rằng “dù có những thay đổi đáng kể giữa các thế hệ kết hôn, gia đình
vẫn là trung tâm của quá trình tiến tới hôn nhân: việc ra mắt chính thức với hai
gia đình cũng như sự chấp thuận của cha mẹ vẫn là nhân tố quan trọng” [1,
tr.8]. Đáng chú ý nhất là kết quả cuộc điều tra mẫu lớn gần đây, Điều tra quốc
gia về gia đình Việt Nam năm 2006 cũng cho thấy mô hình quyết định hôn
nhân phổ biến của thế hệ trẻ hiện nay chủ yếu là con cái quyết định có hỏi ý
kiến bố mẹ [2, tr.64].
Như vậy, những bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự chuyển
đổi kinh tế, xã hội trong mấy thập kỷ qua đã có tác động đến quá trình hôn
23
nhân của người Việt. Mặc dù cha mẹ không còn kiểm soát quan hệ tình yêu,
gặp gỡ và hẹn hò của con cái do thoát ly ra ngoài xã hội nhưng cha mẹ vẫn
tham gia chi phối hôn nhân.
Theo quy định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt
Nam hiện hành, pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ quyền kết hôn của công
dân. Kết hôn chỉ được công nhận sau khi đã làm các thủ tục kết hôn trước pháp
luật. Trên thực tế, một cuộc hôn nhân có tính pháp lý rất quan trọng đối với
mọi gia đình trong xã hội bởi vì đằng sau cuộc hôn nhân đó là sự thừa nhận
1.2. Vai trò của báo chí trong việc thông tin về vấn đề thanh niên sống
thử trước hôn nhân
Hình thức STTHN trong xã hội Việt Nam hiện đại đã trở thành đề tài
nóng hổi và đang được bàn luận sôi động trong xã hội hiện nay. Hoàn toàn
không phải ngẫu nhiên STTHN trong SV thu hút được sự quan tâm của giới
báo chí truyền thông. Bằng chứng là STTHN đã được tái hiện trong bộ phim
dài 30 tập nhan đề “Sóng tình” của đạo diễn Võ Tấn Bình. Bộ phim được trình
chiếu trên màn ảnh nhỏ, kênh HTV 9 cuối tháng 3 năm 2010. Bộ phim xoay
quanh câu chuyện STTHN của bốn cặp nam, nữ SV tại một khu nhà trọ ở TP
HCM. Phim như một lời nhắc nhở đến các bạn trẻ rằng STTHN chỉ là ảo giác,
như bọt bong bóng xà phòng, đến rồi mất đi, không để lại điều gì tốt đẹp. Mới
đây, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm Hội Bảo vệ sức
khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình. Theo thông tin tại hội nghị, “Hiện
tượng quan hệ tình dục trước hôn nhân đã trở nên phổ biến trong lứa tuổi vị
thành niên ở nhiều thành phố lớn, kéo theo tỷ lệ nạo hút thai trong độ tuổi này
có xu hướng gia tăng… các trường hợp nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chiếm
tới 30% tổng số các ca nạo phá thai. Trong khi đó, 50% các ca nhiễm
25
HIV/AIDS là dưới độ tuổi 25. Nguyên nhân do sự thiếu kiến thức cần thiết về
tình dục và sức khỏe sinh sản” [19; tr.58].
Với báo chí, đây cũng là một trong những đề tài nóng bỏng của xã hội
Việt Nam đương đại. Với sức tác động mạnh mẽ vào dư luận xã hội, rất nhiều
kênh báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và báo mạng điện tử đã dành
nhiều thời lượng để bàn luận về chủ đề STTHN. Mỗi loại hình báo chí đều
khẳng định thế mạnh riêng khi tác động đến nhận thức của công chúng, đặc
biệt đối với giới trẻ về vấn đề TNSTTHN. Báo phát thanh với thế mạnh âm
thanh tổng hợp (gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc) được phát sóng trên radio
tạo sức lan tỏa, ảnh hưởng của thông tin đối với công chúng trên diện rộng.
Báo truyền hình với thế mạnh là hình ảnh, âm thanh truyền tải đến người xem
hỏi tính mẫu mực xã hội cao. Với cách tác động đến công chúng bằng những
thông tin có chiều sâu, độ tin cậy, chính xác cao, ba tờ báo đã góp phần không
nhỏ trong việc định hướng nhận thức đúng đắn cho giới trẻ, đặc biệt là các bạn
SV về vấn đề STTHN.
Thông tin về vấn đề thanh niên STTHN trên báo chí nói chung và ba tờ
báo in nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công chúng, đặc biệt là
khi vấn đề giáo dục giới tính cho SV trong các chương trình giáo dục còn có
nhiều hạn chế về nội dung, chậm đổi mới về cách thức tổ chức giáo dục.
Nhiều cơ quan báo in đã mở diễn đàn tập hợp ý kiến của độc giả về vấn đề
TNSTTHN, đồng thời góp phần nâng cao ý thức của mỗi thanh niên về trách
nhiệm trong hành vi của bản thân.